Saturday, February 26, 2011

Sự thay đổi chế độ nhờ tin nhắn

Sự thay đổi chế độ nhờ tin nhắn có thể khả thi trong không gian mạng, nhưng không một nhà độc tài nào bị lật đổ vì Thế giới Ảo cả.
Nhưng rút ra kết luận về bản chất dân chủ hóa của Internet vẫn là quá sớm. Khó khăn lớn nhất trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa dân chủ và Internet – bên cạnh việc triển khai các biện pháp cải thiện dân chủ – là phân biệt giữa nguyên nhân và kết quả. Việc đó luôn luôn khó, và đặc biệt khó trong trường hợp này, bởi vì lời hứa hẹn hoành tráng của quyết định luận công nghệ – niềm tin lý tưởng vào sức mạnh thay đổi của Internet – đã làm mờ mắt ngay cả những nhà phân tích tỉnh táo nhất. Hãy xem xét những lập luận quy thắng lợi bầu cử của Barack Obama, một phần, cho khả năng đội ngũ của ông nắm được cơ sở dữ liệu, gây quỹ trên mạng, và sử dụng được mạng xã hội. Việc Obama tận dụng phương tiện truyền thông mới sắp là chủ đề của nhiều bài báo và cuốn sách. Nhưng tuyên bố sự vượt trội của công nghệ so với chính trị tức là đã đánh giá thấp sức thu hút sâu rộng của Obama đối với quần chúng, đánh giá thấp những gì còn lại sau một chính quyền Bush bị chán ghét tới mức đáng kinh ngạc, hậu quả phân rã của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và cơ hội của John McCain có được Sarah Palin như một người bạn đồng hành. Mặc dù đội ngũ của Obama rất thành thạo mạng, nhưng không thể công nhận tính đúng đắn của lập luận nói rằng mạng đã mang lại chiến thắng cho Obama.
Tuy nhiên, dường như chúng ta sẵn sàng trỏ đến quyết định luận công nghệ trong bối cảnh quốc tế. Ví dụ, những cuộc thảo luận về Cách mạng Cam đã gán một vai trò đặc biệt quan trọng cho các tin nhắn trên điện thoại di động. Sau đây là một đoạn trong bài nghiên cứu vào năm 2007, The Role of Digital Network Technologies in the Ukrainian Orange Revolution (Vai trò của công nghệ mạng số trong cuộc Cách mạng Cam ở Ukraine), do Trung tâm Berkman về Internet và Xã hội thuộc ĐH Harvard, mô tả ảnh hưởng của các thông điệp bằng chữ (text), hay tin nhắn sms:
Đến tháng 9/2004, Pora (phong trào thanh niên của phe đối lập) đã tạo ra hàng loạt mạng lưới chính trị ổn định trên khắp đất nước, gồm 150 nhóm mobile chịu trách nhiệm phát tán thông tin và phối hợp việc giám sát bầu cử, với 72 trung tâm khu vực và hơn 30.000 thành viên có đăng ký. Điện thoại di động đóng một vai trò quan trọng trong nhóm các nhà hoạt động bằng mobile này. Báo cáo sau bầu cử của Pora tuyên bố, “một hệ thống phát tán thông tin tức thời thông qua sms đã được triển khai và chứng tỏ tầm quan trọng”.
Sự huy động đó có lẽ quả thật đã rất quan trọng ở những nỗ lực vào phút chót. Nhưng nó dẫn người ta đến một ngụ ý sai lầm, như một số nghiên cứu gần đây của đội ngũ nhân sự thuộc Trung tâm Berkman đã chỉ ra, rằng Cách mạng Cam là sản phẩm của một “đám đông thông minh” – thuật ngữ do nhà phê bình Howard Rheingold đưa ra để mô tả những tổ chức xã hội tự thiết kế và đang nổi lên, được hỗ trợ bởi công nghệ. Chỉ tập trung vào công nghệ tức là đã che khuất đi những nỗ lực trắng trợn làm giả kết quả bầu cử tổng thống, vốn là cái kích động những cuộc phản đối; là quên đi hai tuần mà những người phản đối đã đứng dưới tiết trời tháng 11 giá lạnh; hay hàng triệu đôla được bơm vào cho các lực lượng dân chủ Ukraine để những cuộc biểu tình đó được nổ ra. Thay đổi chế độ bằng tin nhắn – nghe có vẻ khả thi trên mạng, nhưng không nhà độc tài nào bị lật đổ vì Thế giới Ảo, và cũng không có cuộc bầu cử thật nào thu được chiến thắng trên đó; nếu không, Ron Paul đã là Tổng thống rồi.
Chắc chắn là công nghệ có một vai trò trong các sự nghiệp của toàn cầu. Bên cạnh việc là công cụ truyền thông trực tiếp và giúp con người hợp tác, sự sinh sôi của dữ liệu không gian và hình ảnh vệ tinh vừa rẻ vừa dễ tiếp cận, cùng với sự ra đời những trình duyệt thân thiện với người sử dụng như Google Earth, đã biến đổi về căn bản công việc của các NGO chuyên biệt; giúp hình thành rất nhiều NGO mới; và cho phép, chẳng hạn, việc truy sát trên thực tế (không phải trên mạng) đối với hành động tàn phá rừng, khai thác gỗ trái phép. Thậm chí các cộng đồng thổ dân trước đây vốn đóng chặt cánh cửa trước đổi mới công nghệ, nay cũng đã tận dụng được những công cụ trực tuyến này.
Quan trọng hơn, sự thay đổi kiến tạo về tính kinh tế trong hoạt động đã cho phép số lượng lớn các nhà hoạt động cá nhân (một số làm part-time hoặc thậm chí làm việc tự do) tham gia vào những nỗ lực chung to lớn. Như Clay Shirky lập luận trong cuốn Here Comes Everybody: Organizing without Organization (Mọi người đã đến: tổ chức lại mà không thành tổ chức), thế hệ các nhà bất đồng mới đang ngày càng hoạt động một cách thời vụ hơn, đồng thời hơn, và tức thời hơn (một sự bóng gió khác ám chỉ khái niệm “đám đông thông minh” của Rheingold). Công nghệ cho phép các tổ chức tận dụng từng mức độ tham gia khác nhau của từng nhà hoạt động khác nhau. Thao tác được tới từng dấu chấm, dấu phẩy trên Wikipedia, cuối cùng thì việc tổng hợp sức mạnh của cả các nhà bất đồng, dù họ tham gia chủ động hay bị động, đã trở thành khả thi. Ngày nay, ngay cả một email được chuyển tiếp (forward) đi cũng có tác dụng. Cách hoạt động “nano” như vậy rất có ý nghĩa tập hợp mọi người.
Vì vậy, Internet đang làm cho hoạt động của các nhóm và cá nhân được rẻ hơn, nhanh hơn, gọn gàng hơn. Tuy nhiên, hậu cần (logistics) lại không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự tham gia của các công dân. Internet có ảnh hưởng gì tới những động cơ xui khiến chúng ta hành động? Câu hỏi này đặc biệt quan trọng ở các nước độc tài, nơi bầu cử và cơ hội để có hành động đồng thời và tổng lực là rất hiếm. Câu trả lời phụ thuộc một phần rất lớn vào việc liệu Internet có nuôi dưỡng được sự háo hức hành động sau khi tiếp nhận những thông tin mới đó không? Internet hâm nóng thêm hay làm nguội đi tâm trạng háo hức này – đây là vấn đề quan trọng cốt yếu và hiện chưa xác quyết được.
Internet giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm và tham gia các nhóm mà chúng ta vốn đã ủng hộ từ trước; đến lượt nó, việc này có thể khiến các quan điểm của chúng ta thậm chí còn cực đoan hơn.
Một số người lập luận rằng việc công dân được tiếp xúc với các tài liệu công cộng vạch trần tham nhũng và gian dối (hồ sơ SEC, chuyện hoàn thuế cho các quan chức trúng cử, tiết lộ về đóng góp cho các chiến dịch lớn, v.v.) sẽ thúc giục họ hành động. Phát biểu chủ yếu kêu gọi tính minh bạch cao độ như vậy đến từ những nhà tiên phong về công nghệ, như Carl Malamud – người sáng lập trang web public.resource.org ở Mỹ, và Tom Steinberg với trang mySociety ở Anh. Logic tương tự – rằng dữ liệu mở giúp vạch trần sự lạm dụng quyền lực hoặc, như thẩm phán Brandeis có nói, rằng “ánh sáng mặt trời là thứ thuốc tẩy tốt nhất” – đã dẫn dắt hoạt động của tổ chức Sunlight (Ánh sáng Mặt trời) ở Mỹ và nhiều tổ chức nhỏ hơn ở các nơi khác, như Mzalendo – một trang web và cơ sở dữ liệu bầu cử theo dõi các bộ trưởng trong Nghị viện Kenya, và FairPlay Alliance (Liên minh Chơi đẹp) – một site tương tự ở Slovakia.
Cũng còn những site như Wikileaks, nơi lữu trữ tất cả các dữ liệu gây tranh cãi, từ một danh sách website bị Chính phủ Thái Lan kiểm duyệt, tới bản copy cuốn Human Terrain Team Handbook của quân đội Mỹ. Một khi những tài liệu như vậy bị rò rỉ, những site này dám chắc rằng, mở hồ sơ cho công luận xem thì có tác dụng hơn là để chúng rơi vào tay ai đó có cơ hội (Wikileaks dường như cũng có sức mạnh chết người: CEO của Julius Baer – một ngân hàng Thụy Sĩ bị ám chỉ có dính líu đến tham nhũng, nhờ những tài liệu trên Wikileaks chỉ ra – gần đây đã chết vì một nguyên nhân bí ẩn, nhiều khả năng là do tự sát). Giả thuyết nói rằng việc cung cấp quyền tiếp cận thông tin và nuôi dưỡng sự minh bạch có thể thúc đẩy dân chủ hóa đã làm hoạt động của họ thêm cơ sở vững chắc. Sau đây là những gì Wikileaks mô tả sứ mệnh của mình:
Tất cả các chính phủ đều có thể thu lợi từ việc nghiên cứu ngày càng sâu về cộng đồng thế giới cũng như về chính nhân dân của họ. Chúng tôi tin quá trình nghiên cứu này đòi hỏi thông tin. Từ lâu thông tin đã rất đắt – xét về những nhân mạng và nhân quyền chúng ta phải trả vì nó. Nhưng với tiến bộ công nghệ – Internet , [sic], và khoa học mật mã – rủi ro của việc truyền tải các thông tin quan trọng đã có thể giảm đi.
Chỉ riêng sự kiên nhẫn của các nhà tổ chức ra Wikileaks đã đáng được người ta vỗ tay hoan nghênh (họ tuyên bố đã nhận được hơn 1,2 triệu hồ sơ từ những người bất đồng chính kiến và các nguồn ẩn danh). Tuy nhiên, thành công của những chiến dịch như vậy – cả ở những nhà nước dân chủ lẫn nhà nước độc tài – có lẽ còn hạn chế. Sự tồn tại của các tài liệu, hồ sơ cũng không đảm bảo mang lại một kết quả cụ thể. Như tiểu thuyết saga của Madoff đã tiết lộ, thậm chí tài liệu công khai cho công chúng về vụ SEC cũng tiết lộ được ít thông tin hơn chúng ta tưởng. Và tìm hiểu 1,2 triệu tài liệu tải lên Wikileaks sẽ mất thời gian, nỗ lực, và đòi hỏi một sự phối hợp tổng lực của các nhà báo, phóng viên điều tra.
Misha Glenny lập luận trong cuốn sách rất hay mới đây của ông, McMafia, tội ác thời hiện đại đã toàn cầu hóa, trở nên phức tạp và khó có thể được ghi chép lại và lưu trữ trong biên giới một quốc gia, xác định người đồng chủ mưu có thể là việc bất khả thi. Ví dụ, thật khó mà tưởng tượng rằng chính quyền Sudan lại vẫn còn lưu giữ vô tận những hồ sơ về hoạt động mua bán vũ khí bất hợp pháp của họ. Nhưng ngay cả khi họ có làm như vậy – và những tài liệu này đột nhiên được công khai hóa – cơ hội để chúng làm bùng lên những cuộc phản đối dữ dội là bao nhiêu? Căn cứ vào tình hình xuất bản yên ổn những bằng chứng còn gai góc hơn thế nhiều, trong đó có cả chuyện nhân chứng trông thấy tận mắt những chiếc tàu không giống thông lệ đang chở vũ khí thật, có thể nói ít có khả năng những phong trào phản đối kịch liệt sẽ nổ ra. Lý do không mấy liên quan tới Twitter và Facebook, mà phần nhiều từ một thực tế là mọi người có thể có rất nhiều thông tin và rất ít quyền lực để hành động dựa trên thông tin đó.
Một số người khác cho rằng Internet đặt những công dân bị tẩy não dưới một chính quyền độc tài vào trước những quan điểm đối lập về chính phủ của họ. Điều này giúp họ phát triển một thế giới quan khác và, một cách tiềm tàng, nảy sinh cảm hứng cho những thay đổi mang tính dân chủ. Điều này là khả thi, mặc dù có lẽ khó mà tìm được một nước – lấy ví dụ, có lẽ như Bắc Hàn hay Turmenistan – nơi các công dân chưa từng nghe nói tại sao chính phủ của họ lại tồi tệ: Xét cho cùng, đó là những gì các ông già thảo luận với nhau ở quán rượu. Chúng ta cũng không thể giả định rằng con người sẽ đi tìm kiếm những thông tin họ không tán đồng hay đơn giản là chưa từng nghe nói tới.
Hơn nữa, dựa vào Internet để thực hiện chức năng này chịu rủi ro của cái mà Cass Sunstein (gần đây được chỉ định làm người đứng đầu Văn phòng Thông tin và Sự vụ Thông thường của Nhà Trắng) gọi là “chủ nghĩa cực đoan cô lập”. Internet giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm và tham gia những nhóm mà chúng ta vốn đã sẵn ủng hộ, điều này đến lượt nó có thể khiến các quan điểm của chúng ta thậm chí còn cực đoan hơn. Theo Sunstein, tránh vấn đề này trong kỷ nguyên tiền-Internet dễ hơn bây giờ, vì trang nhất tờ báo quốc gia lớn nhất cũng cung cấp đủ kinh nghiệm tổng hợp được chia sẻ cũng như một liều lượng hợp lý các phát hiện mới, đặt chúng ta trước những quan điểm và tin tức mà chúng ta có thể chưa từng tiếp cận. Mô hình “trang nhất” của Sunstein, tất nhiên, không vận hành tốt ở những xã hội mà truyền thông bị kiểm soát. Sẽ là không trung thực khi so sánh blog và các cộng đồng online với trang nhất của tờ báo quốc gia lớn ở một nước, ví dụ Uzebekistan, nơi các dòng chữ có lẽ do chính phủ viết ra thay vì do các biên tập viên được tự do viết. Không có nhiều phát hiện mới ở đó; trên thực tế, sẽ tốt hơn nếu một người đọc một loạt blog độc lập. Do đó, có thể là Internet – mà đặc biệt là blog – quả thật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một cộng đồng dân chủ hơn ở các nước độc tài. Điều này là một bước tiến rất có ý nghĩa (của Internet) so với các phương tiện truyền thông do Nhà nước kiểm soát. Một số bằng chứng trước đây nói rằng tình trạng này đúng ở ít nhất một vài nước. Nghiên cứu của John Kelly thuộc ĐH Colombia khẳng định rằng các blog của người Iran rất đa dạng, thể hiện cả tiếng nói bảo thủ lẫn tự do, với một loạt các lực lượng khác, hỗn hợp, ở giữa. Không có phe nào tuyệt đối thắng thế trong số họ.
Giá trị mà người đọc đặt vào các blog nằm ở quan niệm cho rằng tác giả của blog là “độc lập”, thoát ly khỏi những sự nhồi sọ của nhà nước hay của các lực lượng thứ ba. Thế thì họ độc lập tới mức nào? Sai lầm lớn nhất về quan niệm của những nhà không tưởng trên mạng, là coi không gian mạng như một khu vực vô chính phủ, nơi chính quyền không dám bước chân vào trừ phi để đóng cửa ráo cả. Những báo cáo truyền thông khuyến khích quan điểm coi các chính phủ độc tài như những nhà kiểm duyệt Internet có ác cảm với công nghệ hoặc sợ công nghệ.

No comments:

Post a Comment