Saturday, May 8, 2010

Cuộc di tản năm 1975

Cuộc di tản năm 1975

Ngày 21 tháng 4, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Thượng Viện Hoa Kỳ chấp thuận đón nhận vào Hoa Kỳ 150 ngàn người tị nạn Ðông Dương. Tuần lễ sau đó, 7,500 người được di tản bằng phi cơ đến căn cứ không quân Clark Air Force Base ở Phi Luật Tân và đến đảo Guam.
Ngày 29 tháng 4, Hoa Kỳ dùng trực thăng, chuyển thêm bảy ngàn người nữa đến các chiến hạm đậu sẵn ở ngoài khơi.
Tàn cuộc chiến, Hoa Kỳ di tản tổng cộng 65 ngàn người Việt Nam, bên cạnh 65 ngàn người tự tìm đường vượt thoát bằng ghe thuyền và máy bay.
Tổng cộng có 130 ngàn người miền Nam Việt Nam ra đi trong bối cảnh cuộc chiến chấm dứt trưa 30 tháng 4, 1975.



Một thuyền nhân mãi mãi nằm lại trên đảo Air Raya, Indonesia. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Những thuyền nhân đầu tiên
Ngày 4 tháng 5, Tàu Clara Maersk đổ lên Hồng Kông 3,743 thuyền nhân. Một số nhỏ thuyền nhân tấp vào đảo Pulau Perhentian ở Malaysia, đảo Pulau Laut ở Indonesia, Singapore, và Philippines.
Cuối năm 1975, năm ngàn thuyền nhân đến Thái Lan, bốn ngàn đến Hồng Kông, 1,800 đến Singapore, và 3,850 đến Philippines.
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc kêu gọi thế giới đóng góp $12.4 triệu, lo cho số người này và những người di tản nhưng còn kẹt lại ở rải rác 21 trại trên đất Thái Lan.
Philippines đón nhận 2,600 người Việt Nam vốn là vợ con của người Philippines công tác ở Việt Nam trước đây.
Tính đến cuối năm 1977, tổng cộng 15,600 thuyền nhân cập bến các quốc gia Ðông Nam Á.
Năm 1978, Cộng Sản Việt Nam vừa “khuyến khích,” vừa thúc ép người Hoa tại Việt Nam ra đi bằng con đường “bán chính thức.” Người Việt gốc Hoa, phần lớn thương gia, ra đi ngày càng đông.
Riêng tháng 9, 1978, khoảng 7,300 thuyền nhân cập bến các quốc gia Ðông Nam Á.
Qua tháng 10, con số tăng lên thành 14 ngàn. Các quốc gia trong vùng không có chính sách định cư người tị nạn, và xem vấn đề thuyền nhân là “cái đuôi” của chiến tranh Việt Nam, và Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm. Họ không thừa nhận thuyền nhân là tị nạn mà gọi thuyền nhân là “những người bị xê dịch” (displaced persons).
1978, hai trăm ngàn người Việt gốc Hoa ở miền Bắc bị lùa về Trung Quốc. Chính quyền Trung Cộng không tin tưởng họ và đưa họ vào các trại tập trung ở hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam. Một số ít vượt thoát được sang Hồng Kông để xin tị nạn.
Cơn khủng hoảng lần thứ nhất
Tháng 9, 1978 tàu Southern Cross chở 1,252 thuyền nhân bị mắc cạn tại một cồn cát gần đảo Pengibu, Indonesia.
Tháng 10, tàu Hải Hồng cặp bến Port Klang, Malaysia, chở 2,500 thuyền nhân. Tháng 12, tàu Tung An cặp bến Manila Bay với 2,300 thuyền nhân. Cũng trong tháng 12, tàu Huey Fong đưa 3,300 thuyền nhân đến Hồng Kông.
Ngay sau chuyến tàu Hải Hồng, chính phủ Mã Lai công bố chính sách đẩy tàu ra biển, đánh dấu cơn khủng hoảng thuyền nhân lần thứ nhất. Thái Lan nối gót Malaysia trong biện pháp đẩy tàu. Singapore chỉ chấp nhận thuyền nhân có quốc gia cam kết sẽ định cư trong vòng 90 ngày.
Trong bảy tháng đầu năm 1979, sau khi Malaysia và Thái Lan áp dụng chính sách đẩy tàu ra biển, chỉ có 47 thuyền vượt được cứu vớt; tất cả các thương thuyền còn chịu vớt thuyền nhân đều thuộc ba quốc gia: Na Uy, Hòa Lan, và Anh Quốc.
Tháng Sáu, 1979: 54 ngàn thuyền nhân cập bến các quốc gia trong vùng. Năm quốc gia thuộc Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN), gồm có Nam Dương, Mã Lai, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Thái Lan, ra bản tuyên bố chung báo động rằng họ không còn đủ khả năng dung chứa thuyền nhân và quyết định không nhận thêm thuyền nhân nữa. Vào thời điểm này, 200 ngàn thuyền nhân tràn ngập các trại tị nạn: 75 ngàn ở Mã Lai, 49 ngàn ở Hồng Kông, 43 ngàn ở Nam Dương, 9,500 ở Thái Lan và 5 ngàn ở Phi Luật Tân.
Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội Nghị Quốc Tế Về Người Tị Nạn Ðông Dương với sự tham dự của 65 quốc gia trong hai ngày 20 và 21 tháng 7, 1979.
Buổi họp kết thúc với thỏa thuận:
- Các quốc gia nhận định cư đồng ý tăng số định cư từ 125 ngàn lên 260 ngàn và giải quyết định cư nhanh chóng cho thuyền nhân đang ở các trại.
- Các quốc gia tạm dung đồng ý ngưng đẩy tàu. Nam Dương và Phi Luật Tân đồng ý thiết lập các trại chuyển tiếp cho thuyền nhân lên đường định cư.
- Việt Nam cam kết ngăn chặn vượt biên và mở ra chương trình ra đi hợp pháp.
Năm 1979, 131 ngàn thuyền nhân lên đường định cư ở các quốc gia Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Úc, Nhật Bản, Anh Quốc, Pháp, Ðài Loan, Do Thái, Ý, Tân Tây Lan, Thụy Ðiển, Bỉ, Ðan Mạch, Áo, Á Căn Ðình, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Ái Nhĩ Lan, Lục Xâm Bảo, Na Uy, Vanuatu, v.v.
Cùng lúc đó, Việt Nam chấm dứt chương trình vượt biên bán chính thức và thay vào đó là đi chui.
Số thuyền nhân ra đi giảm từ 54,941 vào tháng 6, 1979 xuống 17,839 vào tháng 7 và 9,734 vào tháng 8.
Tháng 5, 1979: Việt Nam ký Giác Thư Thỏa Thuận với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc về Chương Trình Ra Ði Có Trật Tự (Orderly Departure Program, hay ODP). Theo đó, Việt Nam cho phép người dân ra đi theo diện đoàn tụ gia đình hay vì lý do nhân đạo, còn Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ thì lo xin chiếu khán với các quốc gia đón nhận. Số người ra đi trong chương trình ODP này lên đến 29,100 trong năm 1984, cao hơn con số thuyền nhân vượt biên.
Tính đến cuối năm 1979, tổng cộng 199,945 thuyền nhân sống sót đến các trại tạm dung trong vùng, gồm có Hồng Kông, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ma Cao.
Lòng thương mệt mỏi
Cuối năm 1986, các quốc gia đệ tam nhận định cư hầu hết người tị nạn mà họ muốn nhận. Kẹt lại ở các trại là những người không quốc gia nào muốn nhận; con số này lên đến 31 ngàn người.
Ngày 16 tháng 6, 1988, Hồng Kông tuyên bố biến tất cả các trại tị nạn thành trại cấm, mà thực tế là trại tù. Tất cả các thuyền nhân đến sau thời điểm này đều phải qua kỳ thanh lọc về tư cách tị nạn. Với chính sách này, Hồng Kông phủ nhận chính sách của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ đề ra cuối năm 1978: mọi thuyền nhân Việt Nam đều là tị nạn đặt dưới sự che chở của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ.
Malaysia quay trở lại với biện pháp đẩy tàu ra biển. Thuyền nhân bị đưa vào các trại kín và chỉ vài ngày sau bị gom lại và đẩy ra biển về hướng Nam Dương. Cơn sốt lây sang Indonesia. Ở một vùng duyên hải, hải quân Hoàng Gia Thái Lan bắt thuyền nhân giam vào một trại kín để sau đó kéo họ ra biển, đâm bể thuyền, và xả súng bắn giết thuyền nhân.
Các quốc gia trong vùng theo gương Hồng Kông và ấn định ngày đóng cửa trại: 14 tháng 3, 1989 cho các quốc gia Ðông Nam Á, ngoại trừ Phi Luật Tân là ngày 21 tháng 3.
Hội Nghị Quốc Tế Về Người Tị Nạn Ðông Dương Lần 2
Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ triệu tập buổi họp quốc tế gồm 70 quốc gia trong hai ngày 13-14 tháng 6, 1989, gần đúng 10 năm sau Hội Nghị Quốc Tế lần thứ nhất. Chương Trình Hành Ðộng Toàn Diện (Comprehensive Plan of Action, hay CPA) ra đời, mà mục tiêu cuối cùng là đóng lại trang sử vượt biên của người Việt đi tìm tự do, bằng những phương cách sau đây:
- Chấm dứt tình trạng vượt biên.
- Duy trì quyền tạm dung cho thuyền nhân trong một thời gian.
- Thiết lập tiến trình thanh lọc.
- Ðịnh cư các thuyền nhân đã đến trước ngày đóng cửa trại.
- Ðịnh cư các thuyền nhân đến sau ngày đóng cửa trại nếu được xét là tị nạn.
- Hồi hương các thuyền nhân không được xét là tị nạn.
Ngay sau Hội Nghị Quốc Tế này Thái Lan ngưng chính sách kéo tàu ra biển. Malaysia vẫn tiếp tục chính sách này không khoan nhượng.
Ðến ngày 30 tháng 6, 1996, khi lịch sử người Việt vượt biển chính thức chấm dứt, tổng cộng 79 ngàn thuyền nhân được cứu xét là tị nạn và định cư tại các quốc gia đệ tam; 109 ngàn người bị hồi hương. Quốc tế đóng góp cho chương trình này trên $500 triệu, chưa kể những chi phí riêng của chính phủ Hồng Kông cho việc điều hành các trại cấm và của Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Pháp, Úc trong vấn đề định cư thuyền nhân.
Bộ nhân
Nhiều người Việt đã tìm tự do bằng đường bộ nhưng có rất ít tin tức về các bộ nhân này. Phần lớn họ bị chìm lẫn vào trong dòng người tị nạn Cam Bốt trốn chạy Khmer Ðỏ. Các cuộc vượt biên bằng đường bộ gian truân và nguy hiểm hơn các cuộc vượt biển. Người đi đường bộ phải băng qua cánh đồng tử thần của quân đội Pol Pot.
Các người sống thoát được đưa vào trại Site 2 dành cho người tị nạn Cam Bốt, dọc theo biên giới Thái Lan và Cam Bốt. Người Việt, thuộc thành phần thiểu số, sống tập trung trong Khu 19, còn được gọi là Dong Rek Platform.
Mùa Xuân 1988, chính quyền Thái Lan thành lập trại Ban Thad, dành cho những thuyền nhân mới đến. Kế hoạch của chính phủ Thái lúc bấy giờ là đặt trại Ban Thad ra ngoài sự kiểm soát và che chở của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ và như vậy họ không được hưởng quyền đương nhiên là tị nạn và sẽ không được đi định cư. Mục tiêu của Thái Lan là làm nản lòng những người ở Việt Nam đang chuẩn bị vượt biên. Chính phủ Thái quyết định dồn người Việt Nam từ Site 2 về trại mới này. Lúc ấy chính quyền Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ tuyên bố rằng những thuyền nhân đưa vào Ban Thad sẽ không được định cư tại đệ tam quốc gia mặc dù họ đến trước ngày đóng cửa trại. Thực ra Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ vẫn thừa nhận các bộ nhân đến Thái Lan trước tháng ngày đóng cửa trại là tị nạn dù chuyển về Ban Thad nhưng đã không nói rõ. Do sự ngộ nhận, khoảng hai ngàn bộ nhân đã kháng cự, biểu tình và đốt một số căn trại. Cuối cùng phân nửa bộ nhân chấp nhận dời về Ban Thad. Số này được giải quyết cho định cư.



Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Có những khoảng khắc chúng ta cần phải nhớ. Có những nơi chốn không cho phép chúng ta quên.
Tháng Tư về, lại đánh thức trong lòng những người tị nạn Việt Nam một cảm xúc xốn xang, quay quắt nhớ về các trại tị nạn ở Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Hồng Kong, Philippines... nơi người vượt biên xưa đã từng dừng chân trên con đường trốn chạy khỏi Việt Nam, đi tìm một lẽ sống đúng nghĩa, trước khi được làm người may mắn đặt chân lên mảnh đất tự do này.
Sau hơn một phần tư thế kỷ ổn định cuộc sống, học hành, mưu sinh, những thuyền nhân năm xưa, dưới sự hướng dẫn tổ chức của Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, đã bắt đầu có những hành trình quay ngược về chốn cũ, các trại tị nạn, để nhớ lại một giai đoạn họ đã sống, để thăm lại những người đồng hành kém may mắn đã không thể cùng họ đi trọn chuyến tàu, và cũng là để tạ ơn mảnh đất và con người đã cưu mang họ trong những ngày cơ cực nhất.



Chiếc tàu vẫn còn nằm lại nơi gần cầu tàu Jetty ở Galang. Câu chuyện về chiếc tàu vượt biên năm 1985, sau một thời gian dài được bưng bít, đã được tiết lộ: có 21 người ra đi và lạc trên biển gần 2 tháng. Đói. Khát. Bị cướp. Lương thực cạn kiệt. Và họ đã phải ăn thịt người để sống. Khi dân cá Indonesia phát hiện ra chiếc tàu, thì chỉ còn 5 người còn sống, trong đó có một đứa trẻ, thoi thóp như những bộ xương khô. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Nhắc chuyện xưa
Chuyện của những người vượt biên rất giống nhau, và rất khác nhau. Giống nhau, bởi họ đều là những người phải chọn kiếp sống tha hương vì ý nghĩa của hai chữ ‘tự do.” Khác nhau bởi mỗi chuyến ra đi là mỗi lần đem số phận mình ra đánh cuộc, không chuyến đi nào như chuyến đi nào, cho những tâm trạng và cảm xúc.
Những thuyền nhân trong hành trình “Về Bến Tự Do” này, qua câu chuyện họ kể, có người chỉ vượt biên đúng một lần. Họ ra đi. Sóng yên. Biển lặng. Chỉ sau ba, đến bốn ngày đêm lênh đênh trên đại dương, họ được đặt chân lên đảo, như ông Hanh Nguyễn, hiện ở Úc, như anh Vinh Trang, hiện ở Mỹ, như anh Chi Nhâm ở Canada.
Còn lại, đa phần đều không đi dưới năm lần. Họ đi, bị bắt, bị ở tù, mất hết tài sản. Ra tù, họ lại vay mượn tiền bạc nơi người thân, bạn bè, để lại ra đi. Cứ như vậy, có người mất ba năm, có người mất 10 năm mới đến được trại tị nạn, như vợ chồng ông Duật Nguyễn ở San Francisco, như chị Hương Nguyễn ở Canada, như cô Phi Phạm ở San Jose, hay ông Ðức Nguyễn ở Florida.
Chấp nhận “vượt biên,” nghĩa là những thuyền nhân chấp nhận đương đầu với vô số bất trắc của cuộc hải trình trên những chiếc ghe ọp ẹp, chèn cứng người.


503 ngôi mộ được chôn cất tại Galang. Đa số mộ phần đã bị sự tàn phá khắc nghiệt của thời gian. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Trên chiếc tàu dài khoảng 16 mét, hơn 65 người chúng tôi chen chúc nhau nằm xếp lớp như cá. Tàu vừa ra biển thì bị công an rượt đuổi và bắn liên tục. Chiếc tàu vẫn mở hết tốc lực mà chạy. Tôi nằm dưới lòng tàu, nghe tiếng đạn bắn, nghe tiếng con tàu xé nước, kinh khủng lắm. Sau gần hai giờ, tiếng ai đó vang lên, 'thoát rồi!'” Chị Nguyệt Hương ở Toronto kể về chuyến vượt biên lần thứ sáu của mình. Chuyến đi đó, chị may mắn, bởi sau tất cả, chị đã đến được “bến tự do” vào năm 1983.
Có điều, tỉ lệ “đi” và “đến” chiếm bao nhiêu so với “đi” và “mất” vẫn là còn là một khoảng trống. Không ai biết chính xác số thuyền nhân đã bỏ mình trên biển.
Ông Trần Ðông, giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam cho rằng, “Theo tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, có khoảng 500 ngàn người đã chết trong các chuyến hải hành.”

Miếu Ba Cô – chứng tích đau thương và tàn khốc của người tị nạn. Vượt qua hiểm nguy, bất trắc trên hành trình vượt biển, đặt chân được lên mảnh đất tạm dung, thế nhưng con đường đến đất tự do đã trở thành tuyệt vọng không chỉ riêng với ba cô gái trẻ này mà còn là nhiều người khác nữa. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Sau 35 năm, câu chuyện về những con tàu đi lạc ròng rã nhiều tuần trên biển. Người chết vì khát. Người chết vì đói. Nước tiểu thay nước uống. Máu thay nguồn dinh dưỡng. Và vì bản năng sinh tồn, nhiều trường hợp người ta đã phải ăn thịt người, những người đã chết, để sống. Vẫn là những câu chuyện muốn quên nhưng lại cũng cần phải nhắc để người ta biết trân trọng hơn những gì mình đang có.
Những người trong nhóm thuyền nhân tham gia hành trình “Về Bến Tự Do” của chúng tôi lần này có may mắn không gặp hải tặc Thái Lan, không bị hãm hiếp, không bị đâm bể tàu, không bị lạc đường trong chuyến vượt biển. Có điều, chua chát, là họ bị cướp bởi chính những tàu đánh cá quốc doanh của nhà nước Việt Nam, như trường hợp anh Chi Nhâm ở Canada. “Sau khi lấy hết tiền bạc, tài sản của chúng tôi, họ lại đối xử với chúng tôi rất tử tế, cho thức ăn và chỉ đường chúng tôi đi ra hải phận quốc tế,” anh Chi kể.
Nhưng cay nghiệt hơn cả, và ít được nhắc đến hơn cả, có lẽ chính là câu chuyện của “người mình” đối với nhau trên trại, trên đảo. Người ta nhận ra sự cao cả của con người trong cơn hoạn nạn, nhưng sự khốn nạn của con người cũng bị lột trần trong những năm tháng sống nhờ nơi chốn tạm dung.
Ðánh đổi mạng sống để đến bờ tự do. Nhưng rồi vì miếng ăn, người ta đã chèn ép nhau, đố kị nhau. Và gọi nhau là “cộng sản.”
Những thuyền nhân năm xưa hỏi nhau, “Rủi ro, bất trắc và đầy những thảm cảnh như thế, nhưng tại sao người dân Việt Nam cứ đổ mình ra biển cả. Bất chấp tất cả. Vô vọng. Mờ mịt?”
Câu trả lời của ông Ðức Nguyễn, hiện ở Florida, từng là một bác sĩ biệt động quân, là, “Chỉ vì một lý do duy nhất, thà chấp nhận chết nơi biển cả, còn hơn phải chung sống dưới chế độ cai trị của Cộng Sản.”
Câu nói, “Ra đi, hoặc là con nuôi má, hoặc là má nuôi con, không thì con nuôi cá,” lại được những thuyền nhân xưa nhắc lại, để cười đó, và, ngậm ngùi đó.
Những người nằm lại, có tên và không tên
Những thuyền nhân năm xưa gặp nhau, không chỉ là để nhắc lại những ngày tháng đau thương mà còn là muốn tìm về thăm cảnh cũ, thăm những người đã nằm xuống.

Một trong những nấm mồ còn nằm lại trong Nghĩa Trang Thuyền Nhân trên đảo Kuku. Ngôi mộ này, may mắn, vẫn còn có thể đọc được tên. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Khi tàu chở chúng tôi đến đảo Air Raya, vợ chồng ông Duật Nguyễn cùng thốt lên, “Ngày chúng tôi đặt chân đến đây, hơn 30 năm về trước, nơi đây cũng y như vầy, nghĩa là cũng là một hòn đảo hoang, chưa có dấu chân người.”
Vợ chồng ông Duật là một trong những cư dân đầu tiên của đảo Air Raya. Họ đã đốn cây làm nhà, tuốt lá dừa làm mái, làm giường, và “trong suốt một tháng trời, chỉ ăn cháo thay cơm.” Thế mà chỉ sau hai, ba tháng, số người đến ngày càng đông, khu đảo hoang hôm nào biến thành một “thị trấn nhỏ” với nhiều hình thức sinh hoạt mua bán, giao dịch với dân bản xứ để mưu sinh trong lúc chờ ngày được đi định cư.
Giờ đây, sau gần 20 năm trại tị nạn đóng cửa, những cư dân năm xưa trở về đảo, và lại thấy nó y như ngày đầu họ đến.
Tương tự như vậy, trại tị nạn Kuku, Galang cũng là nơi có nhiều kỷ niệm gắn bó với một số thành viên trong đoàn. Họ trở về, cố tìm những “ba rắc” ngày xưa họ từng ở, tìm lại xem gốc cây cổ thụ năm nào họ ngồi trò chuyện, tìm lại nơi họ từng lên đó tìm củi về đốt, tìm ngôi chùa trên núi nơi họ từng đến cầu nguyện những giây phút bình an, và bước chân xuống làn nước biển mà “26 năm trước tôi từng tắm ở đây”, như một người hồi tưởng.
Nhưng có lẽ, để lại trong lòng mọi người nhiều nỗi niềm và cảm xúc nhất chính là những nấm mộ được chôn vội tại các nghĩa trang này.
Ngoại trừ 503 ngôi mộ có tên được chôn tại đảo Galang, còn lại, không ai biết được chính xác có bao nhiêu người đã nằm lại dưới lòng đất trên những đảo hoang, những ngọn núi, những trại tị nạn trên suốt mấy mươi năm qua.
Những ngôi mộ nằm khuất trong rừng sâu nơi đảo Kuku và Air Raya hoang tàn và hiu quạnh đến não nề.
Những tấm bia được dựng vội.
Những hòn đá nhỏ được đắp lên như làm dấu cho biết người thân của ai đó đã nằm xuống, để còn hy vọng có ngày trở lại mang họ đi.
Thế nhưng, mấy mươi năm qua, tất cả đã bị tàn phá.
Những ngôi mộ sụp lở.
Những tấm bia chẳng thể nào còn nhận ra tên người.
Khi những người trong đoàn, hay người dân địa phương tình cờ tìm ra được nấm mồ nào đó, chúng tôi lại cố lau chùi, cố tìm cách đọc những gì có thể đọc, và chụp hình với hy vọng mang về post lên những trang web. Biết đâu, trong những dung rủi tình cờ, người nhận ra người, và gặp nhau, qua bia mộ.
Cũng an lòng, cho kẻ đã xa, lẫn người còn lại.
Ðền ơn đáp nghĩa
Hành trình “Về Bến Tự Do” của những thuyền nhân xưa, còn có một lý do. Ðó là “Phải làm một điều gì đó cho người dân bản xứ, để họ hiểu rằng người tị nạn Việt Nam không hề là kẻ bội bạc, vong ơn với mảnh đất và người dân đã cưu mang mình trong suốt mấy mươi năm.”
Trong chuyến đi đến thăm trại tị nạn Galang, ngoài chuyện đoàn thuyền nhân đã ghé thăm hai trường trung học và trường tiểu học nơi đây, tặng họ những chiếc máy phát điện như một nghĩa cử đền ơn, một số người trong đoàn còn muốn tìm gặp, ghé thăm những ân nhân xưa.
Anh Vinh Trang, một thuyền nhân ở Arizona, mang theo trong hành trang mình một lá thư cám ơn, của một người quen, đến với một ân nhân ở Letung, Indonesia. Ngay khi vừa đặt chân đến Indo, anh Vinh đã dò hỏi ngay, với mong manh hy vọng.
Vậy mà tìm ra. Gia đình người bản xứ đó, trong những năm tháng đó, đã cưu mang một gia đình người Việt tị nạn trong gần cả một năm. Họ đâu hy vọng một sự đền đáp. Nhưng cô Ánh, người được cưu mang, vẫn khắc tâm, dù đã hơn 30 năm.
Hay vợ chồng cô Hương, chú Duật. Cứ đi tìm ngôi nhà mà hơn 30 trước, mỗi chiều cô cứ dẫn mấy đứa con ra ngồi dưới mái hiên nhà đó, ngóng ra biển, mông lung.
Vật đổi, sao dời. Vậy mà cũng gặp. Họ nhắc lại, nhận ra nhau và ôm chầm.
Những giây phút và khoảnh khắc đó, những tình cảm rất người đó, lấy gì đánh đổi?
Trong chuyến đi, những thuyền nhân xưa, theo gợi ý của người bản xứ, lại bàn nhau kế hoạch tặng dân nghèo Galang những con dê.
Tại sao lại tặng những con dê? Bởi Indonesia là quốc gia Hồi Giáo, họ không ăn thịt bò, thịt heo. Trong khi đó, dê lại là con vật được đem tế lễ trong những dịp lễ hội quan trọng của quốc gia này. “Dê có giá là như vậy.”
Nuôi dê không cần phải lo thức ăn và mất nhiều công chăm sóc, bởi dê chỉ ăn cỏ. Mỗi năm, dê cái đẻ một lứa 4 con. Họ nuôi lớn và bán đi cũng được một khoảng tiền khá lớn giúp họ có thêm phần nào trang trải cuộc sống.
Kế hoạch đã có, một số thuyền nhân cũng đã đồng ý ủng hộ. “Có lẽ Tháng Bảy này là thời điểm thích hợp nhất để những thuyền nhân xưa trao tặng món quà ý nghĩa này, thay cho lời cám ơn mảnh đất và người dân đã cưu mang mình,” ông Trần Ðông, giám đốc văn khố Thuyền nhân cho biết.
Trang sử cần phải nhớ
Lịch sử mỗi dân tộc đều có những trang đẫm máu và nước mắt đau thương. Lịch sử thuyền nhân Việt Nam là một trong những trang sử khốc liệt đó.
Tháng Tư về. Những thuyền nhân năm xưa lại kể nhau nghe những câu chuyện vượt biển. Không phải để gợi lại hận thù, gợi lại đau thương.
Họ chỉ muốn nhắc nhau nhớ, vì đâu, vì sao và bằng cách nào những thuyền nhân Việt Nam có mặt tại đây, để ghi nhớ, tri ân và trân trọng thêm cuộc sống tự do trên mảnh đất này.
Và, họ, những thuyền nhân Việt Nam, gọi đó là những câu chuyện còn mãi đến ngàn sau.

No comments:

Post a Comment