Saturday, May 8, 2010

Còn đâu, chàng của tôi

Còn đâu, chàng của tôi, ngày xưa
Friday, April 09, 2010




Tây-Bắc Nguyễn
Hai mươi năm nói về chuyện H.O., đề tài nghe sao mà thân thương quá. Ðề tài nói về H.O. thì nhiều lắm và nói mãi, nói mãi, có lẽ sẽ không bao giờ hết; nào chuyện con cái H.O., chuyện tình H.O., chuyện gia đình H.O...
Và tôi cũng muốn đóng góp một chút gì trong mảnh vườn nhỏ này, cho phong phú thêm.
Hãy cho tôi được kể sơ về “chàng H.O.” của tôi một chút.
Anh là Tù Chính Trị khi tuổi đời còn khá trẻ. Sau ngày mất nước, chàng mới ngoài tuổi đôi mươi, cộng với vài ba năm tuổi lính. Cái tuổi mà sức sống còn căng đầy nhiệt huyết. Trời cao Ðất rộng không làm chàng chùn chân. Chàng như con chim bay cao không sợ gió mưa hay bão tố, thế mà phải khép đôi cánh nhỏ trong trại tù Cộng Sản, nơi giam cầm bao nhiêu anh hùng của đất nước sau thời chinh chiến.
Sau tám năm dài trong chốn rừng thiêng nước độc, anh trở về đời sống thường dân dưới chế độ Cộng Sản. Chàng làm đủ mọi nghề nghiệp để lo cho đời sống của chính mình, làm để sống chứ không dám nói là làm để giúp đỡ người thân. Chàng làm mọi nghề, từ thợ hồ, thợ đục, thợ cưa, đến bán bánh (hàng rong), đến cái nghề mà có lẽ không bao giờ nghĩ đến, là nghề “dân biểu,” dân biểu đi đâu thì đi, không dám trái ý...
Ðôi tay ngày nào chỉ biết cầm súng chiến đấu, bây giờ lại phải cầm đục, cầm dao, cầm bào, cầm búa, và cầm cả càng xe... xích lô để nuôi cái bao tử... Tôi gặp chàng trong một trường hợp khá đặc biệt.
Một buổi trưa ngày Chủ Nhật nhiều năm về trước, khi tôi đến chơi nhà người bạn gái cũng là em họ của chàng, chúng tôi gặp nhau, tình cờ, không hẹn trước... Theo thời khóa biểu, cứ cuối tuần là tôi sang chơi với gia đình cô em họ của chàng. Như mọi lần, tôi đang nằm nghỉ trưa trong căn chung cư Nguyễn Thiện Thuật, thì anh ở đâu chạy ùa vào như cơn gió lốc trưa Hè. Anh từ ánh sáng bước vào, còn tôi nằm trên sàn nhà, sâu trong bóng tối của căn phòng, chẳng ai nhìn thấy ai. Tôi chỉ thấy một chiếc bóng vụt qua.
Ðến khi anh quay trở ra, cô bạn tôi nói đùa: “Anh, bao em chầu chè đi, em làm mai cho.”
Anh trả lời không suy nghĩ: “Ừ, cho em năm phút, nếu hơn năm phút, lời hứa vô giá trị!”
Anh đâu ngờ là tôi đã có mặt nơi đó tự bao giờ. Thế là chàng mất toi một chầu chè không tính trước... Nhưng, cũng dịp này, tôi biết chàng họ... “Liều.” Túi thì lủng đáy, không một xu làm thuốc, thế mà dám đưa nàng đi ăn chè. Thế mới oai hùng cơ chứ! Liều chưa từng thấy.
Chuyện là thế này: Ngay sau khi hứa “liều,” chàng đi vội ra người, gặp mấy người bạn bán café gần đó, mượn 20 đồng Việt Nam thời bấy giờ. Thời ấy, giá tiền một ly chè chỉ có... 1 đồng rưỡi.
Chàng của tôi là thế đó. Hình ảnh chàng lúc bấy giờ em nào nhìn thấy cũng... không dám mê. Tướng vừa ngông, vừa ngạo mạn, cái nhìn thì bất cần đời... Mặc quần thì lủng hai bên mông, trông như hai cánh cửa sổ được mở toang đón gió trưa Hè, áo thì mỏng như tờ giấy quyến của các ông nhà quê dùng vấn thuốc rê (vì áo cũ quá đó thôi), chân thì mang đôi dép da, đế dép chẻ hai giống chiếc thuyền độc mộc trên sông Sài Gòn, và chỉ có tôi mới đủ can đảm làm người bạn bắt đầu và là vợ của anh sau này.
Lần đầu tiên đi chơi với anh, vào quán nước ven đường, tôi không dám gọi cho mình ly đá chanh hay café sữa đá, mà chỉ dám gọi ly café “đen” không đường, vì sợ anh không đủ tiền. Cà phê hồi đó, sữa đá hết 1 đồng rưỡi, còn “đen” chỉ... 50 xu.
Tôi không dám dành trả tiền, sợ anh tự ái. Cũng chỉ vì thương cái nghèo sẵn có của anh... Lần đầu tiên đi chơi, tôi biết vị đắng của café đen.
Rồi thời gian qua nhanh, vài năm sau, chúng tôi đeo vào ngón tay trái áp út của mình một chiếc “còng” vô thời hạn, với lời hứa cùng nhau đi hết cuộc đời.
Thế mà...
Thắm thoát mà gần 25 năm...
25 năm, Lễ Bạc của cuộc hôn nhân...
Nhưng đời không như mình mơ.
Nhờ sự tranh đấu của Bà Khúc Minh Thơ nên chương trình H.O., ra đi có trật tự của những người tù chính trị, tôi và anh rời bỏ quê hương đi tìm tự do nơi xứ người, và cũng từ nơi này, sóng gió bắt đầu nổi dậy...
Sang vùng đất mới, anh đi học lại để kiếm mảnh bằng nhỏ nhoi lận lưng tìm cơm áo. Sau hai năm đèn sách, anh ra trường, đi làm, để rồi từ môi trường đó anh tìm cho mình một “partner” mới, thay thế cho người bạn đời ngày nào.
Và rồi cũng từ đó, ngày qua ngày, tôi sống trong âm thầm lặng lẽ, nỗi buồn chỉ giữ cho riêng mình. Còn anh, mỗi buổi chiều đi làm về, vừa xong bữa cơm tối, lại lái xe đi cho đến chiều hôm sau. Tôi đặt câu hỏi, anh trả lời: “Ði chơi cho khuây khỏa.”
Anh thường nói với tôi: “Ði đến hãng làm là đi vào nhà tù lớn, về nhà là đi vào nhà tù nhỏ. Sống như thế thì còn gì cuộc đời!”
Cũng chính vì lời đó, tôi để anh tự do, vì tôi tin anh với niềm tin “Chồng-Vợ,” không một chút nghi ngờ. Cho đến một ngày, tôi phát giác sự lừa dối của anh dành cho tôi. Quá đau khổ và tuyệt vọng, tôi nghĩ quẩn nhưng rồi nhờ sự giúp đỡ của người chị tinh thần, tôi tìm lại cho mình một hướng đi mới, tập làm quen dần sự sống không có anh...
Chuyện đâu phải chỉ đến đó. Vài năm cuối của thế kỷ 20, với sự tiến bộ của khoa học, Internet ra đời. Người ta bắt đầu biết đến “messenger,” “chat...”
Qua mạng lưới, anh lại là người khách chuyên cần mỗi đêm. Có ngày, sau buổi cơm chiều, anh ngồi “chat” cho đến nửa đêm, có hôm gần đến giờ đi làm mới dừng lại...
Tôi gọi anh là kẻ ghiền “Internet.”
Nhiều cuộc tình qua mạng, những nàng cách xa cả nửa vòng trái đất cũng gửi đến anh lời yêu thương.
Ðã buồn chán lại càng thêm mệt mỏi. Tôi muốn rời xa anh để không phải đau khổ vì cái tính “đào hoa” của chàng. Tôi muốn xa anh để trả anh về với đời sống tự do, sống cuộc sống không ràng buộc trong những tháng ngày còn lại của kiếp người như lời anh thường ao ước.
Và cũng từ đó tôi buồn...
Tôi buồn vì tôi đã mất anh.
Tôi mất anh, vì tôi đã quên chính bản thân mình.
Tưởng đã có chồng là không cần quan tâm đến mình nữa.
Và cũng vì tôi đã lầm, nên tôi đã mất anh.
Tôi không biết làm đẹp lấy tôi.
Tôi xuề xòa như bà nội trợ, và cứ cho anh thưởng thức mãi món cơm mà không cần thay đổi. Anh thèm “Phở,” anh thèm “mì,” nhưng vì những món đặc biệt đó không có trong tôi, nên anh đi tìm nơi khác.
Từ đó cuộc sống chúng tôi nặng nề hơn.
Ngày xưa, ông bà ta thường nói: vợ chồng tuy hai mà một.
Còn vợ chồng tôi thì một vẫn là hai.
Chúng tôi “đồng sàng nhưng dị mộng”.
Anh rời xa tôi mà đi, không chút vấn vương, tiếc nuối.
Còn anh, hình ảnh người trai hùng anh ngày nào không còn nữa.
Anh thay đổi nhiều quá, thay đổi cả cách sống và thay đổi cả tính tình.
Tình cảm ngày nào cũng theo gió cuốn mây trôi.
Thôi thì, hãy để thời gian làm phương thuốc nhiệm màu chữa lành vết thương lòng.
Tôi không oán trách anh mà chỉ trách thân tôi. Cứ nghĩ là vợ chồng nên sống sao cũng được, nghĩ rằng đời sống hôn nhân là lo cho gia đình trọn vẹn từ bữa cơm ngon, áo quần thơm tho là đủ.
Tôi không có cách sống “tương kính như tân,” nên mới xảy ra cớ sự.
Thôi thì đó cũng là duyên số...
Ngày nào cùng khổ nơi quê nhà, bây giờ nơi xứ người học theo cách sống tự do phóng khoáng, như người bản xứ. Cách sống đó tôi không theo kịp nên đành phải dừng chân, nép lại bên đường, cho anh bước qua.
Bởi vì tầm nhìn anh xa vời quá.
Cứ thấy “cỏ bên vườn nhà người sao quá xanh tươi.”
Thôi thì để anh đi tìm vùng đất mới mà trồng những mảnh vườn cỏ theo ý mình. Còn tôi, ngồi lại đây để ôn lại quá khứ và tìm cho mình một hướng đi mới cho ngày mai.
Tạm biệt, một ngôi nhà nhiều tình thương.
Tạm biệt, những tháng ngày đầm ấm yêu thương.
Ðóng lại một trang sách vừa đọc xong.
Tôi không oán hờn, chỉ cầu mong sao Chàng của tôi ngày xưa tìm cho mình một hạnh phúc mới... Còn hình ảnh người hùng ngày nào, hãy để tan vào gió bụi hư vô!
Còn duyên, còn nợ, còn chung thủy,
Hết duyên, hết nợ, hết mặn nồng,
Chào tạm biệt người trai năm xưa...

No comments:

Post a Comment