Chuyến ra đi ngày 9 tháng 2, 1979
Friday, April 23, 2010 Bookmark and Share
Ba chiếc ghe tị nạn đầu tiên đến nhóm đảo Letung Jemaja, Indonesia
* Lê giang trần
Tàu Hải Quân Mã Lai chận chiếc tàu vượt biển của chúng tôi khi vào gần đến bờ lúc khoảng 8 giờ sáng, cho biết có lệnh cấm không cho bất cứ tàu vượt biên nào vào bờ của Mã Lai, tuy nhiên sẽ kéo tàu chúng tôi đến một nơi an toàn dành cho người tị nạn. Trong lúc hai bên nói chuyện, người trên tàu hô hào cùng nhau gom số nhẫn, vòng, vàng, đô la còn lại sau trận cướp, được hơn hai ngàn đô và vài chục chiếc nhẫn vàng, đưa sang bên tàu Hải Quân Mã để mong họ nhận lấy rồi cho tàu chúng tôi vào bờ. Bên tàu Hải Quân nhất định không nhận. Ðây là một điểm son chứng tỏ những quân nhân ấy không tham lam vì tiền.
Thế là chiếc tàu sắt tuần dương ấy dùng hai dây thừng thật to cột mũi chiếc tàu tị nạn và kéo ngược ra hải phận, đồng thời yêu cầu tàu chúng tôi phải mở máy chạy với tốc lực cao để nương theo vận tốc kéo khá nhanh của tàu hải quân trong cuộc hải hành này.
Thời gian bị kéo tàu trôi qua thật chậm chạp và thật căng thẳng.
Trẻ em trên đảo Letung cùng những thuyền nhân xưa. Ảnh chụp tại cầu tàu ở Letung, Indonesia.
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Mọi người trong tàu đều im lặng, và trên nét mặt hiện rõ nỗi lo âu, sợ sệt. Tôi cùng số người tổ chức chủ động, ở kế bên người tài công trong suốt thời gian ấy, vừa theo dõi hướng của la bàn, vừa bàn bạc những trường hợp nào có thể xảy ra: có thể bị kéo khỏi hải phận Mã rồi bỏ chúng tôi lại ngoài hải phận quốc tế? Chuyện này không xảy ra sau khi trời đã sụp tối; Vậy tàu Mã sẽ kéo đi đâu? Theo la bàn thì chếch về Tây-Nam, đã qua khỏi Thái Lan rồi, vậy thì chỉ có thể là Indonesia, mà thời vượt biên ấy, rất ít tin tức về người vượt biển thẳng đến “In-Ðô,” nên chúng tôi thật lo lắng, chỉ còn niềm tin và hy vọng là dù sao thì tàu chiến Mã sẽ không bỏ chúng tôi chết chìm nếu tàu bị lật hay bể rã, vì chiếc tàu chúng tôi tuy đã mở hết tốc lực chạy vẫn bị kéo hơn sức chạy ấy và thân tàu cứ một lúc lại kêu lên răng rắc, chưa kể nơi bị nước tràn vào dưới đáy tàu chỉ được đóng vá tạm thời bằng miếng ván mỏng, thủy thủ dưới hầm máy phải liền tay tát nước phụ cho chiếc bơm cọ chạy liên tục bơm nước ra.
Tàu bị đứt dây kéo lần đầu vào khoảng giữa khuya. Tàu Mã vòng lại, cột dây kéo tiếp. Khoảng ba giờ sáng, tàu chúng tôi bị bể một máy vì chạy hết tốc lực trong nhiều giờ, sức kéo của tàu Mã chậm lại. Khoảng năm giờ sáng, biển còn âm u chưa ló dạng mặt trời, chúng tôi nhìn thấy vệt quét của ngọn hải đăng, liền sau đó một chút, tàu hải quân Mã Lai chặt dây kéo, bỏ đi. Tàu chúng tôi thả neo, tắt máy để xem tình trạng máy tàu. Sáu piston, bể một còn năm, phải sửa để chạy tạm năm máy. Lúc ấy nước tràn vô lòng tàu khá nhanh, ngập cao lấn lên nền máy tàu, nhóm thanh niên thay phiên liên tục tát nước nhanh tay vì bơm cọ đã bị nghẹt. Cuối cùng máy tàu chạy lại, chúng tôi quyết định nhắm hướng ngọn hải đăng chạy tới. Mặt trời lên, nhìn thấy dạng ngọn đảo hải đăng, khoảng 8 giờ sáng thì tàu cặp gần sát đảo, không dám vào bờ vì quá nhiều san hô chung quanh, neo cách bờ khoảng trăm mét, chuẩn bị dùng những can nước không để làm bè ưu tiên chuyền con nít đàn bà vào bờ. Sau đó sẽ lủi tàu vào bờ đá rồi đục thủng tàu, vì sợ sẽ bị lùa lên tàu đuổi ra khơi trở lại.
Ðó là ngày 9 tháng 2, năm 1979.
Trong ngày ấy thêm chiếc tàu mang tên Rạch Giá, dài khoảng 19 mét, hơn tàu số 0269 Bạc Liêu của chúng tôi hai mét. Tôi quên là chiếc tàu này có bị Hải Quân Mã kéo như số phận của tàu chúng tôi không, chỉ nhớ chiếc Rạch Giá này có một nhân vật tên tuổi là Dân Biểu Trần Ngọc Châu. Sau này ở Cali, con trai ông, nhà văn Trần Trúc Giang, trở thành bạn tôi.
Tàu chúng tôi tổng cộng 354 người, được kiểm danh sau khi bình yên lên đảo. Hôm sau, thêm một chiếc ghe nhỏ từ Vũng Tàu, gồm hơn 10 thanh niên trai tráng khỏe mạnh, chiếc ghe này bị gãy chân vịt, được thay bằng một chiếc vá múc canh bằng nhôm đập dẹp chế biến thành. Ðó là ba chiếc ghe tàu tị nạn đầu tiên đến nhóm đảo Jemaja mà sau đó được đưa về Letung.
Xin được mở ngoặc để nói thêm về tổng số 354 người của tàu 0269: Tàu chúng tôi thuộc diện “đăng ký” của người Hoa hồi hương, gia đình tôi hùn tiền vào, Ba tôi đứng ra lo phần máy tàu cùng thủy thủ đoàn. Số người trên giấy tờ khoảng 250 người (tôi quên con số chính xác), khi tàu ghé vào trạm hải quân ở sông Ông Ðốc để xuất trình giấy tờ trước khi ra khơi, trong khi chờ đợi duyệt khám, cả chục chiếc ghe chở đầy người từ đâu bỗng xuất hiện cặp vào tàu tới tấp, bị túi sẵn sàng, họ lẹ làng nhảy lên tàu rồi lẫn nhanh vào đám đông trên sàn và nhảy xuống hầm tàu, ngồi lẫn lộn cùng người dưới đó, là số người lo lót cho hải quan tại đây, chờ cơ hội tàu đăng ký ghé trạm kiểm soát là tràn lên “đi chui,” cả trăm người như vậy mới nâng con số lên 354, làm tàu khẳm be.
Chúng tôi được biết hòn đảo hải đăng bé tí này có tên là Mang Kai, trên chiếc tháp rọi đèn có hai người lính Indonesia canh trực và có máy đánh morse nên chúng tôi soạn một nội dung bằng Anh ngữ, nhờ anh binh sĩ trực gởi về cấp trên, đại khái như sau: “Chúng tôi là những người tị nạn Cộng Sản vượt biển tìm tự do, may mắn đến được bến bờ tự do của quốc gia Indonesia tại hòn đảo Mang Kai. Chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm tạ đến chính quyền Indonesia và rất mong được chính quyền chấp thuận cho chúng tôi tạm tá túc trong khi chờ đợi được một quốc gia tự do nhận cho vào tị nạn.” Cũng nhờ bức “điện tín” tri ân này mà sau đó từ nhóm đảo Letung Jemaja, tàu chúng tôi được ưu tiên dời về Tanjung Pinang, một đảo quận lỵ lớn có trại chuyển tiếp đi định cư.
Sát mé bờ đảo Mang Kai, nơi chúng tôi đổ bộ lên và ngủ ngay tại đó, có một mạch nước ngọt ngầm, phun chảy lên mặt đất giống như một vòi phông-tên chảy nước yếu ớt. Nhờ mạch nước nhỏ bé này, chúng tôi có nước ngọt để uống và nấu nướng dã chiến. Hai hôm sau, đêm 11 tháng 2, có một nhóm quân đội đến, mặc áo bông dù, đội bê rê xanh lá cây đậm, trang bị súng trường. Khoảng 11 giờ đêm, mọi người đang say ngủ thì bị họ dựng dậy, có thông dịch tiếng Anh, bảo chúng tôi tất cả đi ra khỏi chỗ ngủ, tụ họp ngoài chỗ bãi biển cách nơi ngủ không xa lắm, hành lý để tại chỗ để họ khám xét, và xin mọi người đừng sợ. Tất cả người tị nạn có mặt trên đảo tuân hành, họ khám xét có lẽ để tìm vũ khí súng ống nếu có, ngoài ra không ai bị mất một món đồ nào. Sau đó họ cho biết ngày mai sẽ có tàu đến đưa chúng tôi đến một đảo khác, có điều kiện sinh hoạt an toàn hơn, nước uống đầy đủ hơn, có thực phẩm. Rồi họ từ giã rút đi, có lẽ về nơi tháp hải đăng trên núi.
Bốn năm giờ chiều hôm sau, một chiếc tàu to loại chở hàng hóa tiến vào Mang Kai rồi neo cũng cách bờ khoảng trăm mét vì san hô. Có một người lính đi theo tàu ấy, các thủy thủ thì dùng chiếc xuồng nhỏ kéo theo tàu để chở con nít, nữ giới và người già, người không biết bơi ra tàu, còn lại thanh niên và đàn ông khác thì phải bơi ra tàu, đồ dùng thì bè ra.
Chiếc tàu hàng này chở chúng tôi đến đảo Letung khoảng bốn giờ sáng hôm sau, cặp vào một cầu tàu khá lớn, khá dài, cho chúng tôi đổ bộ lên và tạm tập trung nơi bến tàu ấy chờ sáng.
Mặt trời lên đã cao, cả nhà tôi tập trung dưới một vòm chòi mát khá to nơi đầu cầu sát mé biển. Gió biển thổi dìu dịu, tôi nằm đu đưa trên tấm võng dù mắc giữa hai cột căn chòi, coi chừng mớ đồ đạc gia sản nằm ngổn ngang trên mặt sàn. Mùi cà phê theo cơn gió nhẹ cứ thỉnh thoảng lại phất qua mũi tôi. Chỉ độ khoảng 10 ngày từ khi đặt chân xuống tàu đến giờ, thiếu vắng cà phê chừng thời gian ngắn ngủi thế, thế mà cái mùi nó bay bay qua mũi mình “mất dạy” thiệt! Nó làm nổi lên cơn thèm đến bủn rủn. Mọi người đi chung đã vào xóm tìm cách đổi đô la và họ đang nhâm nhi thưởng thức cà phê buổi sáng cùng những gói thuốc lá thơm lừng. Tôi chẳng đồng đô nào, đành nằm chịu trận cơn thèm.
Một lúc sau, cậu Long, người em của thím tư tôi, đi chung tàu, cà phê về đi ngang thấy tôi nằm cong queo trên võng, cậu hỏi sao không đi cà phê, tôi đáp con “hổng tiền,” cậu trợn mắt nhìn sững tôi vài giây, có lẽ ngạc nhiên, rồi móc gói commando đầu lọc chìa tới tôi: “Hút đi mầy, đi theo tao.” Cậu kéo tôi dậy, choàng vai tôi đi về phía quán cà phê. Cậu gọi tôi một ly ca cao sữa vì phe ta đã uống hết cà phê của quán. Mùi thơm bốc khói của ly ca cao sữa ấy tôi nhớ đời, bây giờ viết kể lại, tôi vẫn mường tượng được cái mùi thơm tho nhớ đời và đầy mang ơn đối với cậu Long.
Ðối diện với cầu tàu Letung xéo về bên mặt khoảng 20 độ là một mô đảo nhỏ nhắn, trồng đầy dừa, xung quanh mé bãi mọc um tùm những gốc cây mắm, rễ nhô cao khỏi mặt nước và một vòng cung núi thâm thấp bọc phía sau lưng hòn đảo này. Ðảo nhỏ này có tên là Berahala mà sau này có biệt danh là “Ðảo Ruồi,” là hòn đảo mà những người tị nạn được chở từ đảo Mang Kai về sẽ cho hết qua đó tạm trú. Về sau đổ thêm người thì tổng số cao nhất là khoảng 2,300 người, chật ních. Cũng nhìn từ hướng cầu tàu Letung, nhìn tới, sau đảo Berahala về phía tay trái một chút, xa khoảng cây số, là một đảo nhỏ hơn Berahala, tên Toley, là nơi đổ khoảng hơn ngàn người tị nạn lên đó sau khi đảo ruồi chật chỗ.
Sau khi dân tị nạn được đưa sang Berahala, mọi người tự động tìm địa thế để “cắm dùi” làm nơi ở. Chỉ hai ba hôm sau, mọi trái dừa trên cây sạch bách; mọi cây mắm đều bị đốn đến tận gốc để dành làm củi chụm. Bấy giờ bên Letung nhìn sang không còn um tùm những bụi cây mắm mà chỉ thấy toàn những mái lều ny lon cùng khắp. Những gốc rễ chùm của cây mắm sát mé biển biến thành “cầu phóng uế” và bãi biển như bãi nghỉ mát Vũng Tàu, đầy người tắm biển và nằm phơi nắng hay thong thả rong chơi.
Riêng tôi thì nhớ hoài một kỷ niệm ban đầu với Berahala. Ðó là mấy đêm đầu tiên, tôi xách thùng đi “dợt” sạch họ hàng nhà “cua núi” là những con cua hiền lành làm hang sống trên đất khô cạnh những hang hốc đá. Chúng đã hy sinh làm lương thực tươi trong mấy ngày đầu chưa xoay ra thực phẩm. Cứ nghĩ lại thì hối hận vì nhẫn tâm “ruồng bố” sát hại chúng. Như vậy mới biết, không cái xấu nào xấu hơn xấu đói, khi con người lâm vào cảnh đói thì “vật đành phải dưỡng nhân.” Có thể vì nỗi ám ảnh này, mãi đến giờ tôi tránh ăn cua, tự tôi thì không còn vào chợ mua cua sống về sực nữa.
Sau gần một tuần ở dưới những tấm nylong giăng trên những cọc cây mắm làm mái nhà che nắng che sương, ba tôi thấy không ổn. Mọi người án binh bất động mấy ngày liền vì đều suy đoán rồi tin tưởng “phái đoàn Mỹ” sẽ “đến ngay” để đưa họ vào “trại tị nạn” chứ làm sao có thể bỏ họ khơi khơi trên một đảo nhỏ xíu toàn cây dừa cây mắm, nhất là không thực phẩm và không có nguồn suối nước ngọt nào cả. Giữa Letung và Berahala có một khoảng đáy, cát bằng phẳng khá cao, khi nước ròng sát thì mặt nước chỉ ngang lưng quần, một vài ngày trong tháng nước ròng sát đáy, lộ hẳn lối đi, nên người tị nạn lội theo lối ấy qua Letung, lên núi nơi người dân chỉ dẫn có suối để mang can thùng đi lấy nước suối về dùng. Cứ đến lúc nước ròng thì nhìn thấy lũ lượt đoàn người tải nước, vác cây.
Ba tôi nhận thấy không ổn sau vài ngày chờ đợi phái đoàn Mỹ bằng ảo tưởng, ông quyết định bắt đám thanh niên trong nhà lội sang Letung lên rừng đốn cây và kéo lá dừa khô rụng về... cất nhà! Ông bảo, dù cất chưa xong rồi đi cũng được, chứ không thể kéo dài chịu trận gió mưa lạnh lẽo dưới tấm ny lon che thấp lè tè như vậy. Thế là mỗi ngày, 6, 7 thanh niên trong nhà, tay can, tay dao tay búa, lội qua Letung lên rừng làm Thạch Sanh phá sơn lâm. Ba tôi có lệnh cho mấy Thạch Sanh này là dù cây lớn cây bé cho kèo cột gì thì cũng phải chọn cây vừa dài vừa thẳng mới đốn. Cây rừng thì mọc khít khao chằng chịt, cột bó cây dài cho lên vai vác đi, tới mấy khúc ngoặc xuống núi thật là khổ ải. Lá dừa khô rụng dưới gốc rất nhiều, cây nào cũng có 4, 5 tàng lá khô rụng nằm chờ sẵn. Tôi chặt bỏ phần bẹ cho khỏi cồng kềnh rồi dùng dây rừng cột mớ tàu lá dính chùm lại, nhấc lên kê vai gánh, tay nắm nuột dây rừng cột, ghì chặt rồi ra sức bước kéo lê. Khi về gặp lúc thủy triều đang lên, nước đã khỏi đầu khoảng một vói tay lại chảy khá mạnh, hai chân tôi đạp nước hết sức mà không bè đi nổi đám lá quá lớn và quá nặng, tôi cùng đám lá có chiều hướng trôi tuột về hướng đáy sâu nếu chậm trễ. Không biết làm sao hơn, bèn hít hơi nín thở lặn xuống, hai chân đi bường dưới đáy để kéo bó lá nặng sao cho qua được bên kia bờ. Thằng tui trồi lên lặn xuống mười mấy hơi dài, hai bắp chuối bị cá rỉa lia chia vì đạp trúng mấy bụi san hô làm nhà của chúng, tui sắp xỉu thì đáy cát tới chỗ lên dốc sắp qua bờ bên kia, hú hồn hú vía. Sáng hôm sau tháo bó lá ra để phơi nắng, đếm lại được 60 cọng tàu dừa, hèn chi nó nặng trình trịch. Khi lượm gom lại nhiều thì ham, cột gấp kéo về vì rừng đã bắt đầu âm u tối, vác lên vai nặng nghĩ là tại mình mệt sức nên thấy nặng. Sáng nay đếm 60 tàu lá thì nặng thiệt, hèn gì lúc vác xuống tới bãi cát ướt, cát hít mớ ngọn lá làm lôi nó bá thở!
“Nhà chúng tôi” gồm nhiều gia đình cùng đi chung vượt biển, tổng cộng 32 người ở chung một nhà, chưa kể nhóm gia đình con người cô (chị ruột ba tôi), gia đình bên vợ chú Tư (em ruột kế ba tôi) ở rải rác gần đó, cộng vào lên năm mươi mấy mạng. Ðông người như thế, dĩ nhiên căn nhà cất phải lớn, đúng vậy, nhà tôi sau một tuần lễ cất xong trở thành lớn nhất đảo, đẹp nhất đảo, cất không khác một căn nhà lá to ở quê nhà, bên hông có thêm căn nhà bếp rộng rãi, có nhà tắm riêng, củi rừng chặt thành khúc vừa chụm, vừng xung quanh trong vách bếp.
Vậy là bà con ta bắt chước cất nhà ở cho ấm cúng. Thế là nhà to nhà nhỏ nhà cao nhà thấp mọc lên khắp đảo. Tuy vậy vẫn còn một ít chòi ny long lẹp xẹp của mấy thanh niên độc thân “con bà phước,” có thể vì họ khỏe mạnh chịu đựng nổi gió sương và nhu cầu căn chòi quá đủ để che mưa nắng chờ phái đoàn.
(Kỳ sau: Cuộc sống trên đảo Letung - Nghe nhạc Việt, nhớ nhà, bàn chuyện tương lai)
No comments:
Post a Comment