Saturday, February 12, 2011

Blogger và ngày 30 tháng tư, “Tùy bút tháng tư”

Các Blogger và ngày 30 tháng tư – (Nhật Hiên ghi nhận)
Thu, 04/29/2010 - 03:25 — daotrungdao
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReadingBlogs/Bloggers-thoughts-ab...
35 năm nhận ra nhiều điều
Nhật Hiên, thông tín viên RFA
2010-04-28
Thoáng chốc mà đã 35 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc, giang sơn Việt Nam trở về một mối. Hầu hết người Việt Nam, dù sinh ra trong chiến tranh hay hòa bình, dù đang sống ở đâu, thì ngày 30.4 đều là ngày “đặc biệt”.
Vào những ngày này, trong nước lại tiếp tục những hoạt động tưng bừng kỷ niệm ngày chiến thắng, ngày thống nhất đất nước, báo chí truyền thông của nhà nước lại tiếp tục có những bài tụng ca công ơn Đảng và Nhà Nước…Còn trên báo chí hải ngoại vẫn có những bài không dấu được lòng hận thù sâu sắc nhân ngày quốc hận…Nhưng bên cạnh đó, chúng ta có thể đọc thấy những suy nghĩ khác hơn của những người từ cả hai phía, cả thể hệ sinh ra trong chiến tranh cũng như chưa hề biết đến tiếng bom đạn…
Dạo qua các trang blog cá nhân, các diễn đàn báo chí độc lập để hiểu hơn người dân Việt Nam nghĩ gì, cảm nhận gì nhân dịp kỷ niệm 35 năm một biến cố lớn trong lịch sử đất nước…
Giá của chiến tranh
Như đã nói, trừ những bài vẫn giữ quan điểm, cái nhìn cực đoan và ít chịu thay đổi từ cả hai phía, nhìn chung nhiều bài viết về ngày 30.4 năm nay có cái nhìn bình tĩnh hơn. Cái giá quá đắt của cuộc chiến tranh kéo dài hai mươi năm trên quê hương là điều đầu tiên mà nhiều người viết đều đề cập đến.
Trong bài “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”: Sự thức tỉnh muộn màng đăng trên talawas, giới thiệu về trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” của nhà thơ Nguyễn Thái Sơn, nhà văn Phạm Đình Trọng-một người từng là đảng viên, từng mặc áo lính của phe thắng trận nhưng gần đây người đọc lại biết đến anh qua hàng loạt bài viết mạnh mẽ, sâu sắc bóc trần thực trạng xã hội, chính trị của đất nước và hành động trả thẻ đảng quyết liệt-đã viết: “Thật đau xót cho thời cuồng tín, mê muội, người Việt say sưa giết người Việt! Đau xót về một thời bi kịch của dân tộc để phải thức tỉnh về nhận thức.”
Trong “Tùy bút tháng tư” đăng trên blog quêchoa, nhà văn Vũ Ngọc Tiến xót xa:
“Giờ đã là giữa tháng 4/2010, sắp đến ngày tròn 35 năm đất nước thống nhất từ đỉnh cổng trời Hà Giang đến đất mũi Cà Mau. Cái giá phải trả cho sự kiện này không nhỏ: 1,1 triệu liệt sĩ, trong đó 500 ngàn người có mộ được quy tập đủ danh tính, 300 ngàn người phải chịu nằm dưới mộ vô danh và 300 ngàn người vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Ở phía bên kia cuộc chiến, các con số tương đồng cũng đâu có thua kém và họ cũng là con dân nước Việt cả thôi!”
Gần đây khi diễn đàn Talawas mở chuyên đề “Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975” rất nhiều cây bút đã tham gia, dưới những góc nhìn khác nhau. “Vết chém chiến tranh” của Nguyễn Huỳnh Thái kể lại câu chuyện về một người lính bị ảm ánh về cuộc chiến mà mình đã tham dự đến mức dở khùng dở điên, nhà cửa tan nát và bản thân mình ôm nỗi đau đến cuối đời:
“Chiến tranh đã cướp của ông tất cả: Từ tuổi xuân, sự khôn ngoan, những người bạn, người vợ ông yêu mến đến đứa con ông thương thảo. Với ông mọi thứ đều là ảo ảnh, chỉ nhìn thấy chứ không hề đụng chạm được dầu có khẽ khàng. Ông nghĩ, người ta đã trả giá quá đắt để thay chế độ này bằng chế độ kia, để rồi nó cũng như mọi chế độ khác.”. Vết chém ấy tiếp tục khắc sâu trong lòng đứa con của ông khi chứng kiến những giờ phút cuối cùng của người cha bất hạnh: “Nó chợt hiểu, ngoài những mất mát đã đi qua, chiến tranh vẫn còn khi người ta chưa chịu tha thứ cho nhau. Cuộc chiến kia như vết dao chém thẳng vào linh hồn của những con người phải lao mình vào nó, vết thương đó còn lâu mới lành khi người ta còn đem ra xát muối.”
35 năm trôi qua, đủ cho nhiều người trong chúng ta nhìn lại và định nghĩa lại tên gọi thực sự của cuộc chiến mà có một thời, mỗi bên đều tìm cách đặt cho nó những cái tên theo quan điểm ý thức hệ của phe mình và để giành phần chính nghĩa về mình.
Trong bài “30.4 tên gọi là gì” đăng trên talawas nhà báo Bùi Văn Phú liệt kê ra hàng loạt tên gọi khác nhau về cuộc chiến 1954-1975 và cuối cùng tác giả kết luận: “Tôi gọi đó là cuộc nội chiến. Anh em hai miền đã chẳng đến với nhau để cùng tìm ra giải pháp hòa bình mà chỉ giương cao những ngọn cờ chủ nghĩa để bắn giết nhau.”
Cũng như vậy, khi viết về bản trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” của Nguyễn Thái Sơn, nhà văn Phạm Đình Trọng nhận xét: “Phải đến trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” thì cuộc chiến tranh vẫn được gọi là chống Mỹ cứu nước mới được nhận ra bản chất thực là cuộc nội chiến tương tàn, là bi kịch lớn của dân tộc Việt Nam, là sự tái diễn thảm cảnh đau thương người Việt giết người Việt đã từng xảy ra ở thời những vương triều suy vong”.
Những thái độ quá đà buổi đầu đã qua đi, nhiều người ngậm ngùi nghĩ lại số phận đầy bi kịch của đất nước và dân tộc. Nhà văn Dạ Ngân than thở trong bài “35 năm quá dài” :
“Hòa bình thật sự được tính bằng năm hay tính bằng tháng mà lòng người loạn ly quá đỗi?” Và: “Một dân tộc vừa bất hạnh và vừa cố chấp với nhau, có lẽ chính vì vậy mà nỗi bất hạnh mới dai dẳng đến thế.”
Còn blogger Mẹ Nấm, một người phụ nữ bình thường nhưng có tấm lòng luôn thao thức với vận mệnh của quê hương, thì viết cho con nhân ngày 30.4:
“Tháng Tư mà mai này con được học, sẽ không chỉ có cờ hoa rực rỡ, mà nó còn là nước mắt và máu của rất nhiều người. Tháng Tư là tháng mà mẹ sẽ dạy con, là biết nhìn nhận, biết lắng nghe và biết suy nghĩ trước những gì lịch sử đã trải qua. Đó thực sự không phải là chiến thắng, mà chỉ là một cuộc chuyển giao quyền lực đầy đau đớn của dân tộc mình. Quê hương này là của mẹ, của con, của mọi người Việt Nam. Làm gì có ai thắng cuộc, khi cả dân tộc này bị chậm tiến so với các nước bạn phải không con?”
Kêu gọi hòa hợp
Lần đầu tiên sau 35 năm kết thúc chiến tranh, báo Vietnamnet-một tờ báo “lề phải” thực hiện hàng loạt bài về chủ đề kêu gọi hòa hợp, hòa giải. Từ sự “Trải lòng của những người trở về cội nguồn, khép thương đau”, quan điểm của
“Trí thức chế độ cũ và những góc nhìn về hoà giải” với hàng loạt ý kiến của cựu dân biểu chế độ cũ Hồ Ngọc Nhuận, Giáo sư Phan Văn Trường, giáo sư Lý Chánh Trung …Cả ý kiến của một số nhân vật người Mỹ trong bài “Muốn hòa giải phải tin nhau”… Nhưng không phải ai cũng bằng lòng với loạt bài này. Blogger Beo tức nhà báo Hồ Thu Hồng mà quan điểm chính trị vốn rât trung thành với chế độ hiện tại đã chỉ trích bài "Muốn hòa giải phải tin nhau” này trong bài “Nghĩ về hậu chiến”, chỉ trích luôn ý kiến của nhà báo Bùi Tín đăng trên blog của ông:
“Vừa rồi, một ý kiến Beo cho là ngu xuẩn nhất của ông Bùi Tín khi yêu cầu nhà cầm quyền hiện nay xin lỗi những người vượt biên trên VOA. Bỏ qua chuyện thể diện kẻ thắng người thua, liệu nhà cầm quyền đương nhiệm có dám bất chấp 30 triệu người mất con mất cháu mất người thân, dám thay mặt họ xin lỗi 3 triệu người lưu vong và ngược lại, 3 triệu người phải bỏ nhà bỏ cửa tha hương kia một lời xin lỗi có đủ để cởi bỏ oán thù. Dĩ nhiên, ý kiến này của ông Bùi Tín, theo Beo hiểu, không phải nhằm vào thân phận những con người cụ thể mà, nhằm vào sự thừa nhận thất bại của cộng sản. Diễn đạt cách khác ý ông Bùi Tín, tức là muốn thỏa mãn một mục đích thì cần phải hành động phi nhân tính.”
Trong khi đó, đứng ở một góc độ khác, suy nghĩ từ ký ức của những ngưởi Việt lưu vong-một ký ức đầy máu và nước mắt, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc quan niệm:
“Tôi không chủ trương hận thù. Tôi biết có thứ đạo đức học của sự tha thứ (ethics of forgiveness) nhưng tôi không hề tin vào thứ đạo đức học của sự quên lãng (ethics of forgetting).
Theo tôi, không phải chỉ có bản sắc mà cả ý niệm về đạo đức cũng được nuôi dưỡng từ ký ức, kể cả, nếu không muốn nói, nhất là, những loại ký ức đầy máu và nước mắt.”
Đúng là để có thể thực sự hòa giải, hòa hợp, còn cần phải làm rất nhiều thứ, từ cả hai phía, chứ không thể đơn giản chỉ là lời nói hay bảo người ta quên đi, xóa sạch ký ức.
Không chỉ nhìn lại cuộc chiến tranh đã qua, ngày 30.4 còn là dịp để hầu hết người dân Việt Nam thể hiện những nỗi băn khoăn day dứt cho hiện tại và âu lo cho vận mệnh của đất nước trong tương lai. Nhà văn Vũ Ngọc Tiến ngậm ngùi:
“35 năm sau cuộc chiến, Việt Nam ta có: 3,2 triệu người định cư ở gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ; 500.000 người đi làm thuê ở 40 quốc gia; 250.000 người đi lấy chồng nước ngoài, chủ yếu ở Trung quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia; 30.000 du học sinh ở châu Âu, châu Úc và Bắc Mỹ… Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy?”
Nhà báo tự do Lê Diễn Đức nói thẳng:
“Sau 35 năm: “Gia tài của Mẹ một nước Việt buồn”: “…nhận định về Việt Nam sau 14 năm “cởi trói” và “đổi mới”, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thừa nhận Việt Nam đã bỏ lỡ mất cơ hội phát triển vì những chính sách sai lầm sau khi thống nhất đất nước, kéo Việt Nam tụt hậu vài chục năm.
Điều đó có nghĩa rằng, nếu không bị ĐCSVN cản đường thì đất nước đã tiến xa hơn, không phải nằm trên mặt bằng hôm nay. Đất nước Việt Nam rõ ràng không vươn cao đúng với tầm vóc và khả năng của nó.
Việt Nam vẫn là một nước nghèo, nhiễu nhương và đầy nghịch lý.”
Day dứt và âu lo
Tác giả Trần Bình Nam trong bài “Suy nghĩ tản mạn về ngày 30 tháng 4” đăng trên trang web của mình cũng viết: “Nếu hôm nay, sau 35 năm hòa bình, chính quyền cộng sản đã thành công xây dựng một nước Việt Nam phồn thịnh, bên trong có nội lực bảo vệ quốc gia, bên ngoài được sự kính nể của thế giới thì có lẽ những người Việt không may (hay may mắn tùy theo quan niệm mỗi người) sống xa quê hương sẽ chấp nhận cơn đau của lịch sử, yên tâm xây dựng tương lai cho con cháu ở nước ngoài, và lòng cùng hướng về quê hương đất nước.
Những học sinh khác thì vô tư nhìn bạn bị đánh một cách tàn nhẫn. Hình RFA chụp từ YouTube.
Không may, Việt Nam hôm nay không được như vậy. Xã hội xuống cấp trong mọi lĩnh vực từ y tế, giáo dục đến đạo đức, dân tình ly tán, và sự vẹn toàn lãnh thổ đang bị đe dọa.”
Sự vẹn toàn lãnh thổ cũng như mối nguy hiểm cận kề trong quan hệ với nước láng giềng phương Bắc là điều mà nhiều người dân lo lắng nhất. Tác giả Trần Bình Nam cảnh báo:
“Và loay hoay, sau 35 năm hòa bình, Việt Nam lại rơi vào một hoàn cảnh của những ngày đầu của cuộc chiến tranh lạnh: lần này kẹt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Bài học gì người Việt Nam cần rút ra hôm nay, đứng trước thế kỷ 21 mới bắt đầu được một thập niên và hứa hẹn nhiều biến chuyển quan trọng có thể quyết định sự mất hay còn của Việt Nam trên bản đồ thế giới?
Việt Nam nằm ngay trên chiến trường nhỏ là chiến trường Đông Nam Á và nếu không khôn khéo rút bài học cũ chúng ta lại sẽ biến thành một thứ tiền đồn”.
Nhà văn Vũ Ngọc Tiến nhắc lại chuyện xưa để nói đến chuyện nay: “Kê minh thập sách” dâng lên vua Trần Duệ Tông (1372- 1377), không được vua tiếp nhận nên năm 1400 nhà Trần mới mất về tay nhà Hồ, rồi cuối cùng nước cũng mất về tay giặc Minh ở phương Bắc.
Phải chăng khi một chính thể kéo dài sự mục nát suốt mấy chục năm, quyền bính lọt vào tay lũ lưu manh hạ đẳng, chính sự nhố nhăng như phường chèo, lại khước từ minh triết Việt trong “Kê minh thập sách” thì họa diệt vong là tất yếu?
Bài học lịch sử “Kê minh thập sách” cuối thời nhà Trần, nay nhân ngày giỗthứ 633 bà Chính thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, tôi bồi hồi ngẫm lại vẫn thấy còn nguyên giá trị giữa bầu trời thủ đô tháng tư năm 2010…"
Con đưởng nào cho đất nước trong tương lai? Đây cũng là câu hỏi có được sự trả lời đồng thuận từ khá nhiều người, đó là con đường trở về với chủ nghĩa dân tộc, đặt quyền lợi đất nước, nhân dân lên trên quyền lợi của một đảng phái, một ý thức hệ và quan trọng nhất: phải có tự do, dân chủ mới tập hợp được sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Nói như tác giả Trần Bình Nam:
“Nhưng không phải chúng ta không có con đường thoát hiểm. Nếu chúng ta biết học bài học tự cường của nước Nhật, biết học bài học đùm bọc yêu thương nhau trong tinh thần “bầu ơi thương lấy bí cùng” của nước Đức, và trên hết – người cầm quyền - biết huy động nội lực dân tộc qua một chương trình chấn hưng văn hóa có nội dung tôn trọng dân chủ và nhân quyền.”
35 năm so với chiều dài lịch sử của đất nước thì chỉ là một cái chớp mắt, nhưng so với tốc độ phát triển của thời đại thì đã là một quãng thời gian đủ dài, thiết tưởng cũng đủ để con người có thể nhìn lại lịch sử một cách rõ ràng, sáng suốt hơn... Mong sao người dân Việt Nam đồng lòng tỉnh táo nhìn lại con đường đang đi của đất nước, nhận ra những hiểm nguy cũng như những vận hội để quyết định con đường đúng đắn nhất đưa đất nước thoát khỏi vũng lầy hiện tại và vươn ra biển lớn cùng nhân loại.
Nhật Hiên



Chuyện xẩy ra tại dinh Độc lập thành phố Sài gòn trưa ngày 30/4/1975-Nguyễn An giới thiệu và ghi chú
Fri, 04/30/2010 - 15:47 — daotrungdao
Lời giới thiệu của Nguyễn An: Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày 30/4/1975, nhà báo độc lập Bùi Tín hiện đang sống tại Pháp đã viết trên trang Blog của ông một bài tường thuật lại những chi tiết xẩy ra tại dinh Độc Lập buổi trưa ngày 30 tháng tư năm 1975. Theo nhà báo Bùi Tín, thì những chi tiết này đựơc tường thuật đúng như chúng xẩy ra vì ông là người tận mắt chứng kiến nếu không muốn nói là một người trực tiếp tham dự vào những gì xẩy ra trong giờ phút lịch sử ấy.
Nguồn: http://www1.voanews.com/vietnamese/blogs/tin/bui-tin-30-thang-4-2010-924...
Bùi Tín Blog
Tuyên bố của nhà báo Bùi Tín nhân ngày 30-4-2010
Bùi Tín viết riêng cho VOA Thứ Năm, 29 tháng 4 2010
Gần đây Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân ở Hà Nội đã mở hội nghị để viết lại tài liệu lịch sử về ngày 30-4-1975, với ý định được tuyên bố là «thuật lại thật chính xác những gì đã xảy ra trong ngày hôm ấy tại Dinh Độc lập giữa Sài Gòn»’.
Thật đáng tiếc là tài liệu được tạo nên có một số điều sai sự thật.
Là một người chứng kiến tại chỗ, tôi buộc lòng phải lên tiếng, không hề vì động cơ cá nhân.
Tôi giữ thái độ trung thực, tôn trọng sự thật đúng như nó có, không tô vẽ gì thêm - không tự vẽ thêm râu ria - cũng không để ai khác nhận vơ những điều chính tôi đã phát biểu.
Trong tài liệu nói trên của Bộ Tổng tham mưu, không hề nói gì đến chuyện tôi, Bùi Tín, lúc ấy là Thượng tá QĐND, cũng là cán bộ cao cấp duy nhất chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh vào buổi trưa và xế chiều ngày 30-4-1975 tại «Dinh Độc Lập».
Tôi không hề mảy may có ý tranh dành tiếng tăm hay vinh dự gì trong thời điểm lịch sử này.
Biết bao liệt sỹ của 2 bên đã nằm xuống, trong đó có nhiều bạn thân, đồng đội, anh em, con cháu trong dòng họ của tôi. Việc tranh dành công trạng là điều tôi coi là xấu xa đáng sỉ nhục.
Nhưng lịch sử là lịch sử. Sự thật lịch sử cần tôn trọng tuyệt đối. Nói sai lịch sử về một số chi tiết có thể gây nghi ngờ về nhiều điều lớn hơn.
Do có những nhận định mang tính chất bôi xấu, vu cáo là tôi đã tự nhận là người nhận đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, thậm chí cho là tôi không hề có mặt ngày 30-4 ở Dinh Độc Lập, nên tôi thấy cần nói rõ sự thật chân thực là như sau:
-Tôi đến Dinh Độc lập cùng Trung tá Nguyễn Trần Thiết - phóng viên ban biên tập quân sự của báo QĐND - lúc 12 giờ rưỡi trưa ngày 30-4-1975, sau khi đoàn cơ giới của Lữ đoàn xe tăng 202 của Quân đoàn 2 đột nhập vào trong sân;
-Tôi và Trung tá Thiết ra ngoài cổng Dinh hỏi chuyện vài thanh niên cưỡi xe gắn máy đang tò mò xúm quanh mấy xe tăng, rồi vội vào cùng đi khắp các tầng, các phòng của dinh Độc Lập. Xong chúng tôi tìm ngay chỗ ngồi viết bài tường thuật để gửi gấp về Hà Nội, vì biết rằng ngoài tòa soạn đang mong chờ cho số báo in ngay tối nay.
-Tôi đang viết bài thì Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn 202 và Trung tá Nguyễn Văn Hân, trưởng Ban Bảo vệ của Quân đoàn 2, cùng đến yêu cầu tôi vào gặp nội các Dương Văn Minh. Tôi từ chối việc này, vì tôi không được giao trách nhiệm, lại đang chăm chú lo viết bài báo. Tôi trả lời 2 trung tá: «Các anh nên đưa 1, 2 người ra đài phát thanh để công bố tin toàn thắng đi, nên làm gấp để cả nước và thế giới biết». Sau này gặp lại anh Tùng, tôi mới biết 2 anh trung tá ấy cùng nghĩ rằng cấp trung tá chỉ là cán bộ trung cấp, nên việc làm không đủ giá trị theo quân phong quân kỷ. Họ cần ý kiến một cán bộ cao cấp, mà lúc ấy không có một ai khác là tôi, họ biết tôi là cấp thượng tá, là phó tổng biên tập báo QĐND.
[Cần nói rõ thêm để các bạn ở ngoài quân đội biết là giữa Trung tá và Thượng tá là khác không chỉ một cấp, mà khác hẳn một bậc. Cán bộ sơ cấp từ Thiếu uý lên Đại úy là bậc Sơ cấp, từ Thiếu tá và Trung tá là bậc Trung cấp, từ Thượng tá lên cấp Tướng là bậc Cao cấp. Phân biệt 3 cấp ấy rất rõ, khác hẳn nhau, từ bếp ăn, phòng ngủ, nhà ở, quân phục, tiền lương, sổ mua hàng, lớp học, trường học, hội nghị, tài liệu đều phân biệt rõ.]
Ngay sau đó, Trung tá Bùi Văn Tùng đưa ông Minh ra Đài phát thanh Sài Gòn để loan tin đầu hàng trong vòng nửa tiếng rồi cùng trở về dinh Độc Lập, chờ cấp trên vào; họ chờ nhất là Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn II. Tôi cũng đã viết gần xong bài báo. Tôi còn nhớ Trung tá Thiết mở hộc bàn giấy của tổng thống lấy ra tờ giấy cứng in Thực đơn của Tổng thống trưa 30-4-1975, trên đó có 2 món chính là: «gân bò hầm sâm» và «cá thu kho mía», đưa cho tôi xem để ghi thêm trong bài báo cho sinh động.
Hai Trung tá Tùng và Hân lại khẩn khoản nói với tôi: họ đang ngồi chờ trong kia, chừng 30 người, các ông tướng chưa ai vô, anh vào gặp họ đi, để họ chờ lâu không tiện.
Anh Thiết bàn với tôi: «Anh vào gặp họ đi, ta cùng vào rồi sẽ viết thêm vài chi tiết, sau ta sẽ vào trại Davis – Tân Sơn Nhất, nhờ tổ thông tin đánh bài báo ra Tổng cục chính trị».
Trung tá Hân dẫn 2 chúng tôi vào phòng họp lớn. Anh Hân, trên cương vị trưởng ban bảo vệ Quân đoàn hiện là người sắp xếp trật tự của dinh Độc Lập. Anh vào trước, báo tin: «Tất cả đứng dậy! Sắp có một cán bộ cao cấp QĐND vào gặp các ông!»
Tôi và anh Thiết bước vào. Phòng khách rộng lớn, ghế ngồi lót dạ đỏ, trên bàn có những cốc nước và mấy hộp hạt đào lộn hột. Anh Thiết ghi tên suốt lượt cả 28 người có mặt, từ các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền đến các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Bùi Tường Chiểu, Nguyễn Hữu Hạnh, Bùi Hòe Thực, ông Diệp, ông Trường v...v...
Vừa lúc ấy, Trung tá Hân đón tổ quay phim Quân giải phóng (có 2 người) vào. Ông Minh bước tới trước, nói chậm rải:-«Thưa quý ông! Chúng tôi chờ quý ông từ buổi sáng đặng chuyển giao chính quyền».
Tôi đáp ngay: «Các ông còn có gì mà bàn giao; không thể bàn giao khi trong tay không còn có gì!»
Tôi không nói gì đến chuyện đầu hàng vì 2 Trung tá Tùng và Hân đã cho tôi biết ông Minh vừa tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh. Ý tôi muốn nói là không thể có chuyện bàn giao chính quyền, vì tình hình đã ngả ngũ xong xuôi.
Tôi thấy các ông Minh, Mẫu, Huyền, Hảo, Có …đều buồn. Ông Minh cúi hẳn đầu, tôi thấy cằm ông lún phún râu, đường gân 2 bên má co giật nhẹ. Tôi liền an ủi: «Hôm nay là ngày vui. Hòa bình đã đến. Cuộc chiến tranh đã kết thúc. Chỉ có người Mỹ là thua. Tất cả người Việt nam ta là người chiến thắng».
Tôi thấy một số vị gật gật đầu, ông Mẫu nở nụ cười vui vẻ, tán đồng. Tôi liền thêm: «Bất cứ ai có tinh thần dân tộc đều có thể coi ngày hôm nay là ngày vui lớn của mình».
Sau đó tôi mời mọi người ngồi, uống nước, trò chuyện thân mật. Tôi hỏi chuyện ông Minh, sức khỏe ra sao, ngày ông chơi mấy «sét» tennis ? Collection phong lan của ông có bao nhiêu giò rồi? có những loại hiếm quý nào? Ông trả lời hết, vui vẻ, tự nhiên …
Tôi quay sang ông Mẫu hỏi ông từ giã miền Bắc từ hồi nào? Ông còn nhớ gì về vùng quê Chèm Vẽ…nay Cầu lớn Thăng Long qua gần đấy; tôi hỏi về trường Luật ông đang dạy, tôi cũng hỏi ông: Sao tóc ông đẹp, dài vậy, tôi nghe có hồi ông cắt tó phản đối chính quyền ? ông cười, đó là chuyện 2 năm trước, ông luôn mê say với sinh viên trẻ ngành Luật…
Một lát sau, ông Nguyễn Văn Hảo yêu cầu gặp riêng tôi. Tôi cùng ông ngồi cạnh chiếc bàn con bên cửa sổ lớn nhìn xuống sân trước, ông nói: «Tôi là Nguyễn Văn Hảo, giáo sư, phó thủ tướng đặc trách kinh tế, xin báo với riêng ông một tin quan trọng: bọn này đã giữ lại trong kho Ngân khố quốc gia hơn 16 tấn vàng, không cho họ mang ra khỏi nước, mong quý ông báo ra Hà Nội cho người vô nhận…»
Tôi hỏi kỹ lại và tối đó tôi điện ngay cho Thiếu tướng Lê Quang Đạo phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị. Ngày 2-5 Hà Nội cho chuyên cơ IL 18 vào Sàigòn nhận đủ hơn 16 tấn vàng ấy.
Đêm ấy, tôi gửi bài báo «Sài Gòn 30-4: Trong ánh chớp của lịch sử» in trên số báo QĐND ra sáng 1-5-1975, do tổ thông tin của Đoàn đại biểu Mặt trận Giải phóng trong Ban Liên hợp 2 bên trong trại Davis – Tân Sơn Nhất chuyển bằng tín hiệu morse. Đây là bài báo duy nhất gửi được từ Sài Gòn, vì bưu điện bị đóng cửa liền 2 ngày. Fax, điện thoại viễn liên, điện báo đều tắc. Do chuyển bằng morse, tên 2 món trong thực đơn của tổng thống bị sai, «cá thu kho mía» thành «cá thu kho giá» và «gân bò hầm sâm» thành «gan bò hầm sâm»!
Sáng 1-5 tôi gặp các phóng viên Boris Galash (Tây Đức) và Tiziano Terzani (Ý) và nhận chuyển giúp 2 bài báo ngày 30-4 của họ qua con đường Thông tấn xã Viêt Nam ở Hà Nội. Họ mừng rỡ vô cùng vì đó là điều họ lo, sốt ruột nhất. Bài báo đến được Berlin, Bonn và Roma.
Những sự việc trên đây tôi ghi lại thật đúng với thực tế lịch sử.
Trong tài liệu chính thức của bộ Tổng tham mưu, các câu nói của tôi trên đây được đặt trong miệngTrung tá Bùi Văn Tùng (!). Tôi khá thân với anh Tùng, từng ghé thăm 2 vợ chồng anh. Tôi tin là anh Tùng sẽ có thể đến lúc không ngại gì nói rõ sự thật đầy đủ.
Có những nhân chứng còn sống, về những lời nói của tôi trưa hôm ấy, như các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Hữu Hạnh, các ông Diệp, Trường (tôi không nhớ họ)… cũng như tổ phim Giải phóng hay nhà báo Nguyễn Trần Thiết rất ngay thật thẳng tính.
Sự thật là hoàn cảnh ngẫu nhiên đưa đẩy để tôi là cán bộ cấp cao duy nhất của QĐND có mặt tại dinh Độc Lập trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 16 giờ chiều 30-4-1975 để chứng kiến và chút ít tham gia sự kiện lịch sử này.
Vị tướng đầu tiên tôi gặp lúc đã xế chiều ở Dinh Độc lập là Thiếu tướng Nam Long, phái viên của bộ Tổng tham mưu, tôi cùng tướng Nam Long chụp chung ảnh kỷ niệm. Tối mịt Thiếu tướng Nguyễn Hữu An mới đến, khi quanh sân anh em nổi lửa nấu cơm, mỳ ăn liền.
Sở dĩ một số báo nước ngoài cứ nói phóng lên là tôi là người nhận đầu hàng của tướng Minh là vì tướng Trần Văn Trà chủ tịch ủy ban Quân quản Sài Gòn hồi tháng 9-1975 có lần giới thiệu tôi với các nhà báo Nhật, Pháp, Thái lan, Hoa Kỳ … rằng : đây là nhà báo, sỹ quan cao cấp nhất chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn. Rõ ràng «chứng kiến » và «nhận» là 2 điều khác nhau.
Hồi 1989, khi tôi đưa nhà báo Mỹ Stanley Karnow đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà khách chính phủ (đường Ngô Quyền), ông Giáp giới thiệu với S. Karnow: Đại tá Bùi Tín là sỹ quan cao cấp nhất có mặt ở Dinh Độc Lập khi chính quyền của tướng Minh đầu hàng.
Từ đó, có thể có người hiểu sai, hiểu lầm cho rằng tôi là người nhận đầu hàng. Cũng có thể có người hiểu sai, cho rằng khi tôi nói «không còn gì để bàn giao» thì cũng có nghĩa là tôi đòi họ phải đầu hàng tôi!
Đã có bài báo tiếng Việt ở Pháp bịa ra rằng: Bùi Tín rút súng chĩa vào nội các Dương Văn Minh, hét mọi người phải giơ tay đầu hàng, rồi bắn loạn xạ lên trời để thị uy, làm phách…!
Tôi không bao giờ nhận một điều gì không phải của mình, không do mình làm.
Hơn nữa, sự có mặt của tôi ngày 30-4 -1975 ở Sài Gòn với hy vọng hòa giải và hòa hợp dân tộc trọn vẹn đã sớm tan thành mây khỏi, với chính sách thực tế của lãnh đạo CS là chiếm đóng, trả thù, đày đọa các viên chức, binh sỹ, đồng bào ruột thịt ở miền Nam, tịch thu quyền sống tự do, có nhân phẩm, nhân quyền của nhân dân cả nước suốt 35 năm nay. Gần 20 năm nay họ để cho bọn bành trướng uy hiếp, mua chuộc, để chúng lấn đất, lấn biển, lấn đảo, giết hại ngư dân ta…
Do tình hình đất nước nguy kịch như thế, đã 20 năm nay, tôi chỉ một điều tâm niệm là góp hết sức thực hiện đoàn kết thống nhất dân tộc, cùng toàn dân đấu tranh dành lại các quyền tự do dân chủ bị một chế độ độc đảng toàn trị tước đoạt hơn nửa thế kỷ nay. . /.
Bùi Tín
Ghi chú của Nguyễn An: Xin lưu ý đến những điểm sau đây (ở trong bài ) bởi chúng được trình bày khác, bởi những nguồn thông tin khác cũng rất có thẩm quyền:
1. Nhà báo Bùi Tín lúc đó mang cấp bậc Thượng tá và là sĩ quan có cấp bậc cao nhất tại dinh Độc lập lúc bấy giờ. Nhà báo cũng nói ông vào gặp toàn bộ nội các của chính phủ Dương Văn Minh sau khi ông Minh đã đến đài phát thanh Sài gòn đọc tuyên bố đầu hàng, trở về lại dinh Độc lập để …chờ.
Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia, mục Bùi Tín ghi nguyên văn như sau:
1. Trong bài ghi nhanh của Bùi Tín (với bút danh Thành Tín) nhan đề Sài Gòn trong những giờ phút Lịch sử đăng trên báo Quân đội Nhân dân ngày 2 tháng 5 năm 1975, ông thừa nhận sĩ một sĩ quan cao cấp hơn mình là Phó Chính ủy Quân đoàn 2, Đại tá Nguyễn Công Trang, đã có mặt tại dinh Độc Lập trước ông. [6] Cũng thông tin này được Bùi Tín viết trong ký sự Sài Gòn trong ánh chớp chói lọi của lịch sử xuất bản năm 1978[7]
2. Theo bài viết xuất bản năm 1985 của nhà báo Nguyễn Trần Thiết, người đi cùng Bùi Tín trên suốt chặng đường vào dinh Độc Lập, khi ông cùng Bùi Tín vào dinh thì được Thiếu tướng Nam Long, phái viên Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, và Đại tá Công Trang đón tiếp.[8] Còn khi Tổng thống Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh thì đoàn nhà báo còn đang ở sở chỉ huy quân đoàn 3 đóng tại Củ Chi.[9]
3. Trong hồi ký của mình[5], Thiếu tướng Nguyễn Công Trang của quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định Bùi Tín chỉ tới Dinh Độc Lập sau khi Tổng thống Dương Văn Minh từ đài phát thanh trở về.
http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_T%C3%ADn
2. Ông Tín không hề nói gì đến đại úy Phạm Xuân Thệ mà các tài liệu khác đều nói cũng có mặt tại dinh Độc lập vào cùng thời điểm.
3. Về câu nói của ông Dương Văn Minh rằng “chúng tôi chờ quý ông từ buổi sang đặng chuyển giao chính quyền,” theo nhà báo Bùi Tín, thì được nói với ông, và chính ông là người trả lời, “Các ông còn có gì mà bàn giao; không thể bàn giao khi trong tay không còn có gì!» Nhiều tài liệu khác kể lại rằng ông Minh câu đó trứơc khi ra đài phát thanh để đọc lời đầu hàng, và nói với trung tá Bùi Văn Tùng, hoặc đại uý Phạm Xuân Thệ. Cả hai chi tiết này đều đựơc nói đến trong các cuộc phỏng vấn của báo chí trong nứơc với các ông Tùng (đã về hưu với cấp bậc đại tá) và Thệ (sau là trung tướng tư lệnh quân khu 1). Tác giả Lê Xuân Sơn trong một bài viết dựa theo tài liệu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam kể lại:
…“Tổ công tác của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Viện LSQS VN) đã tập hợp được 24 bài báo viết về trung tá Bùi Văn Tùng ở Dinh Độc lập và Đài Phát thanh Sài Gòn. Trong đó hầu hết các tác giả ghi lời kể trực tiếp của Trung tá Tùng rằng khi ông cùng bộ đội tiến vào Dinh Độc Lập, nhìn biết ông là chỉ huy, Dương Văn Minh đã nói với ông: “Thưa ông, chúng tôi đang chờ các ông đến để bàn giao”.
Trung tá Tùng đã nói: “Các ông chẳng còn gì để bàn giao, chỉ có đầu hàng không điều kiện. Ông phải ra ngay Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng”.

Dương Văn Minh bước tới nói thận trọng: “Chúng tôi biết quân giải phóng tiến vào nội đô. Chúng tôi đang chờ quân giải phóng vào để bàn giao”. Đại úy Thệ nói: “Các ông đã bị bắt làm tù binh. Các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện chứ không có gì để bàn giao”.”
Độc giả có thể xem toàn bài trong đừơng link sau đây:
http://lichsuvietnam.info/index.php?option=com_content&task=view&id=5&It...
Cũng trong bài này, có những chi tiết đáng lưu ý về bản thảo viết tay tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh và tuyên bố chấp nhận lời đầu hàng ấy của ông Bùi Văn Tùng. Những chi tiết này cho thấy ngay chính những khẳng định của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cũng không hẳn là đáng tin!!!
Hoa giai dan toc
Noi thi de ma lam thi rat kho. It's easy to said then done. Lam sao gui nhung bai nay cho DCSVN. Lieu ho co bo cai ghe hoac quyen luc cua ho
ko ? nguoi Nhat hop tac vi bi vai qua BOM nguyen tu, con Dong Duc thi duoc Tay Duc ho tro, con vN thi nguoc lai va nhung nha lanh dao dau phai la dan tri thuc. Da so ho la tu NONG DAN len lam sao ma cai tri duoc dat nuoc cho cong minh cong bang, lam sao ma DCSVN thay xa nhu vay. Sau 35 nam roi ma ho van con dung DU CON DU DANG ( gangster ) de ma dan ap DAN. Ho xuyen tac ket toi dan ap ko su kiem chung cua ai. noi den ra trang va lam trang thanh den.



Hoàng Hải Thuỷ và ngày 30 tháng tư
Wed, 04/28/2010 - 15:30 — daotrungdao
Lời giới thiệu cuả Nguyễn An:
Năm năm cứ đến ngày oan trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Tác giả hai câu thơ đọc lên thấy trái tim như trầm xuống là Hoàng Hải Thuỷ.
Tên thật là Dương Trọng Hải, sinh năm 1933 tại Hà Đông, Hoàng Hải Thuỷ từng là liên lạc trong chiến khu thời chống Pháp, rồi sống ở Hà nội, và vào Nam sinh sống từ năm 1951. Sau 1975 đi tù hai lần và sang Mỹ định cư tại Virgina từ năm 1994. Ông đi nhiều, sống nhiều, thích viết và viết nhiều.
Hoàng Hải Thuỷ đã viết liên tục từ gần 60 năm qua với nhiều thể loại và dưới nhiều bút hiệu. Viết với ông vừa là nghề, vừa là nghiệp; vừa là duyên mà cũng vừa là nợ. Ông từng sống huy hoàng bằng ngòi bút, và cũng từng khốn khổ vì nó, nhưng chưa bao giờ rời khỏi được lực hút của giấy mực.
Ngòi bút của Hoàng Hải Thuỷ có bản sắc riêng, không thể lẫn được dù viết truyện, phóng sự, dịch hay làm thơ. Bản sắc ấy đựơc cấu thành bởi ít nhất hai yếu tố: thứ nhất là cái duyên và thứ hai là cái thật. Đối với những ngừơi “mê” ông- và số này khá lớn-, thì đó chính là một thứ ma tuý.
Xin được giới thiệu bài viết của ông nhân dịp 30/4 năm 2010.
Nguồn: http://hoanghaithuy.wordpress.com/2010/04/26/thang-ba-thang-tu/
Tháng Ba, Tháng Tư
Posted on April 26, 2010 by hoanghaithuy
Anh đã từng đi khắp bốn phương
Tháng Ba anh có thấy trên đường
Những bông gạo đỏ tươi như máu
Nhầu nát như người lính tử thương…
Buổi sáng ở Rừng Phong, người lưu vong già ngồi với ly trà, xem nhờ những chuyện thời sự trên màn ảnh TiVi. Những tưởng đem thân sang sống ở nước Mỹ xa vời với chiến tranh là được yên thân, là không còn bị ám ảnh, bị đau thương, bị sợ hãi vì chiến tranh, vì chết tróc, vì những chuyện người giết người. Thân, Dậu niên lai kiến thái bình… Câu chữ Hán vẫn được gọi là Sấm Trạng Trình ấy đúng với tình hình những quốc gia Âu Mỹ, Trung Ðông trong những năm Thân, năm Dậu 1944, 1945.., nhưng không đúng với tình hình thế giới những năm Thân 2004, năm Dậu 2005! Không đúng từ những năm ấy và không đúng dzài dzài không biết đến bao giờ.
Buổi sáng trên TiVi Mỹ, những cảnh bom nổ, thịt nát, máu rơi làm trái tim tôi trầm xuống. Trong thế kỷ này ít có dân tộc nào trên thế giới biết về những đau thương của chiến tranh, từng chịu đau khổ vì chiến tranh như dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã chính mắt thấy những cảnh thành phố Sài Gòn, thủ đô của Quốc Gia chúng ta, bị đánh mìn, đánh bom từ những năm 1960, chúng ta đã phải chịu đựng cuộc chiến tranh kéo dài trong 50 năm. Sau năm 1975 chiến tranh vẫn làm cho chúng ta chết, làm chúng ta đau khổ mãi cho đến bây giờ. Những đau thương của chiến tranh vẫn sống trong tim chúng ta. Dân Do Thái giết dân Palestine, dân Palestine giết dân Do Thái, những người Chechnya giết người Nga, những người Nga giết người Chechnya.. Còn chúng ta… thương thay, chúng ta người Việt giết người Việt!
Ðã giữa Tháng Ba, trời Virginia vẫn có những ngày lạnh như trong mùa đông. Tháng Ba ở quê hương ta có những ngày trời nắng nóng đến như được tả trong lời Ca Dao:
“ Nắng Tháng Ba chó già le lưỡi.”
Nhưng chúng ta còn có câu:
“Thanh minh trong tiết tháng ba..Lễ là tảo mộ, hội là Ðạp thanh..”
Tháng Ba trong truyện Kiều trời đất còn nguyên mùa xuân.. Cỏ non xanh dợn chân trời… Cành lê trắng điểm một vài bông hoa..
Liêu lạc xứ người, bài thơ của Nguyễn Bính về Tháng Ba trở lại với tôi, bài thơ có Tháng Ba, có những bông hoa gạo, có Tình Yêu…Dường như trong những tập Thơ Nguyễn Bính được ấn hành sau 1975 đều không có bài Thơ Tháng Ba Hoa Gạo. Tôi đọc bài thơ năm tôi mười tuổi. Từ ấy, sáu mươi mùa hạ trắng, mùa thu vàng đã qua cuộc đời tôi, hôm nay tôi vẫn nhớ từng câu bài thơ ấy:
Anh đã từng đi khắp bốn phương
Tháng Ba anh có thấy trên đường
Những hoa gạo đỏ tươi như máu
Nhầu nát như người lính tử thương..?
Anh ạ, tôi buồn khôn xiết nói
Cánh tình lỡ rụng tự đêm qua
Một khi tình rụng như hoa rụng
Máu đỏ lìa tim, dạ xót xa.
Ghê sợ vì những cảnh máu đổ, thịt rơi, người giết người, tôi tìm vào Thơ Nguyễn Bính. Nhưng bài thơ vẫn có hình ảnh chiến tranh: Nhầu nát như người lính tử thương..! Tôi lại thấy hiện ra cảnh xác những người bị đập đánh, bị bắn, bị chém, bị treo lên ở Irak, Aghanistanm những xác người đã bị giết, đã chết cũng vẫn chưa được nằm yên, những xác người nhầu nát..
Cố quên những hình ảnh ấy tôi trở lại với Tháng Ba Mùa Hạ trong Thơ Nguyễn Bính. Không biết tại sao loài cây đó có tên là “cây gạo?” Không có chút lúa gạo nào trong loài cây đó. Hình như chỉ đất Bắc mới có cây gạo. Tôi nhớ những cây gạo thường được trồng trên bờ những con đê, rễ của nó bảo vệ con đê, cây không có nhiều cành lá nên không bị gió bão làm bật gốc, phá hoại đê, những cây gạo miền Bắc thường được trồng bên những cái quán, cây gạo đứng một mình, thân to, cao, ít cành lá, mùa hạ đến cây gạo có hoa đỏ, khi những cánh hoa đỏ nở ra trong lòng hoa có những dây tơ trắng, những dây tơ theo gió bay đi… Ðây là hình ảnh cây gạo và hoa gạo trong những bài thơ khác của Nguyễn Bính:
Mùa vải năm nay chừng đến muôn
Chưa nghe tu hú giục xuân đi
Nóng lòng cây gạo lìa hoa đỏ
Trổ búp tơ xanh đón gió hè..
…..
Tháng Ba trời nắng mới chang chang
Tu hú vừa kêu, vải đã vàng
Hoa gạo tàn đi cho sắc đỏ
Nhập vào sắc đỏ của hoa xoan
Mặt hồ Vua đúc khối tiền sen
Bươm bướm đông như đám rước đèn
Ở bãi cỏ non mà lộng gió
Bắt đầu có những cánh diều lên
Tất cả mùa xuân rộn rã đi
Xa xôi người có nhớ thương gì
Sông xưa chẩy mãi làm đôi ngả
Ta biết xuân nhau có một thì!
o O o
Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, Tháng Ba hội hè..
Không biết trong dòng đời sống của nhân dân tôi ở xứ Bắc có thời nào nhân dân tôi được nhàn nhã, sung túc, vui sướng như lời tả trong bài lục bát đó không? Có thời nào nhân dân tôi được ăn Tết trọn một tháng Giêng, được chơi cờ bạc trọn một tháng Hai, được vui hội hè, đình đám trọn một tháng Ba? Tôi nghi không có. Ngày xưa nhân dân tôi có nghỉ làm việc để ăn Tết nhưng chỉ nhiều lắm là năm, bẩy ngày, không có chuyện ăn Tết trọn ba mươi ngày trong tháng Giêng. Ngày xưa nhân dịp Tết, viết cho rõ là những Tết trước năm 1940, xuân về, nhân dân tôi có đánh bạc – trò đánh bạc có thể có nhiều người cùng chơi ở đất Bắc là trò xóc đĩa – xong chỉ đánh bạc trong ba ngày Tết, nhưng ngày xưa nhân dân tôi, ở đồng quê, có thể vui hội hè, đình đám trong cả một tháng Ba.
Ngày xưa, Tết đến, xuân về, nhiều làng ở miền Bắc có tục lệ gọi là vào đám, những trò vui dân gian, thường là hát chèo, được tổ chức trong những ngày làng vào đám. Không có phương tiện di chuyển người dân quê không thể đi dự ngày hội gọi là vào đám ở những làng xa, họ chỉ đi quanh quẩn những làng cùng tổng, họ đi chân, chưa tối đã đi, nửa đêm tan đám họ đi bộ trở về làng họ. Những Hội Gióng, Hội Lim ở Bắc Ninh được dân Hà Nội đến dự vì ở gần ngay Hà Nội. Vì làng này vào đám xong, nghỉ năm bẩy ngày đến làng khác vào đám, nên nhân dân có thể đi dự những cuộc làng vào đám hội trong cả một tháng Ba.
Nhưng đấy là chuyện ngày xưa, chuyện hội hè trước năm 1940. Tôi chỉ nghe nói đến những hội hè ở miền Bắc quê tôi, tôi không được dự, được mắt thấy một hội hè nào. Khi tôi mới lớn, tôi 15 tuổi, chiến tranh đến, tất cả những hội hè mùa xuân ở miền Bắc đều dẹp. Không có lệnh cấm nhưng khi đất nước có chiến tranh, có người chết, nhân dân không còn lòng dạ vui xuân. Có thể nói tất cả những hội hè ở các làng miền Bắc đều ngừng từ năm 1941. Những Hội Lim, Hội Gióng, từ lâu rồi, chỉ còn được ghi lại trên những trang giấy. Bây giờ dù ta có mở lại những Hội Lim, Hội Gióng, tinh thần của ngày hội sẽ không giống tinh thần của những hội hè ngày xưa. Một thời đã qua, tất cả những gì đã xẩy ra đều trôi vào quá khứ…
o O o
Thấm thoắt vậy mà đã 35 năm kể từ Ngày Oan Nghiệt 30 Tháng Tư năm 1975. Những kỷ niệm xưa vẫn sống trong tôi, tim tôi đau nhói, hồn tôi u ám mỗi lần tôi nhớ lại Ngày 30 Tháng Tư năm xưa…
Tôi đến Mỹ quốc muộn màng, nhưng dù muộn, dù màng đến năm nay tôi đã sống trên đất Mỹ 14 năm. Ðã 10 lần tôi viết về Ngày 30 Tháng Tư. Trong những bài viết về Ngày 30 Tháng Tư mấy năm gần đây, ở cuối bài tôi đều có lời ước sang năm sau tôi sẽ không phải viết về Ngày 30 Tháng Tư Bi Thảm nữa, tôi mong ước năm sau khi Tháng Tư đến, tôi sẽ được viết những chuyện vui hơn, tươi sáng hơn, những chuyện đang xẩy ra, những chuyện sắp đến.. Nhưng dường như định mệnh an bài, chắc suốt đời tôi năm năm cứ Ngày 30 Tháng Tư đến, tôi lại buồn thương, tôi lại viết về Ngày 30 Tháng Tư năm 1975.
Năm năm cứ đến ngày oan trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ,
Cây đời đã cỗi gốc yêu đương.
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió,
Cho đống xương tàn được nở hương.
o O o
Từ ngày 19 Tháng Tư, Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế họp đại hội tại New York.
The Amnesty International, ta gọi là Hội Ân Xá Quốc Tế, là một tổ chức quen thuộc, thân thương với nhiều người tù chính trị Việt Nam. Tôi là một trong số những người tù Việt Nam chịu ơn của Ân Xá Quốc Tế. Tôi bị Công An VC Thành Hồ cho xe bông đến nhà rước đi lần thứ nhất năm 1977. Lần tù tội thứ nhất ấy của tôi chỉ là 24 tháng nhưng kéo dài trong ba năm 1977, 1978, 1979. Trở về mái nhà xưa đầu năm 1980, bốn năm sau, Tháng 5 năm 1984, Công An Thành Hồ cho chiếc xe bông thứ hai đến nhà đón tôi đi lần thứ hai.
Không phải chỉ cô đào Thanh Nga cuộc đời mới có hai chuyến xe bông, đời tôi cũng có hai chuyến xe bông, nhưng xe bông của tôi không đưa tôi đến nhà hàng tiệc cưới, không đưa tôi đến khách sạn động phòng mà là đưa tôi vào tù. Lần này tôi ở tù lâu hơn. Bị bắt tháng Năm 1984, đến năm 1987 tôi vẫn nằm phơi rốn trong Lầu Bát Giác Chí Hoà, đã bốn năm tù, tôi chưa được ra toà mà cũng chưa bị – chưa được cũng rưá – đưa đi trại tù khổ sai. Một hôm gần Lễ Giáng Sinh, tôi được ra gặp mặt vợ con tôi và nhận đồ tiếp tế. Mừng tủi nhìn nhau qua tấm lưới mắt cáo chia ngăn người tù và vợ con người tù, tôi nghe vợ tôi nói;
“Có mấy bà ở Hội Ân Xá Quốc Tế bên Úc gửi thư đến nhà cho em. Mấy bà ấy hứa sẽ can thiệp xin thả anh và hỏi em có cần thuốc không, thuốc cho anh và thuốc cho cả em nữa. Các bà ấy nghe nói anh không được khoẻ mà em cũng đau yếu…Các bà ấy muốn giúp mình.. Anh xem các bà ấy gửi cho mình cái “các” Noel này..”
Vợ tôi nhìn quanh. Không thấy anh công an nào đứng gần, nàng lấy tấm carte trong giỏ ra cho tôi coi. Qua lưới sắt, tôi nhìn thấy tấm carte lớn mầu xanh da trời, có hàng chữ trắng The Amnesty International, bên trong có mấy chữ ký và hàng chữ:
Never give up hope, because we never will.
Rất tiếc tôi đã đánh mất tấm Carte Noel Amnesty Intern. Nếu còn, hôm nay tôi trưng lên đây khoe với quí vị.
Năm 1988 tôi ra toà, lãnh án 8 năm tù rồi án giảm xuống 6 năm. Ðầu năm 1989 tôi rời Nhà Tù Lớn Chí Hoà để lên trại tù khổ sai. Ở Trại Tù Z 30 A Xuân Lộc, Ðồng Nai, vợ tôi lên trại thăm tôi. Tôi được biết chi hội Ân Xá Quốc Tế Thành phố Melbourn, Úc, được Tổng Hội ở London giao cho trách nhiệm can thiệp cứu tôi, giúp đỡ tôi và giúp cả vợ con tôi. Hội viên Ân Xá Quốc Tế là những thường dân tự nguyện làm việc cho Hội. Hội chuyên xin những chính phủ trên khắp thế giới ân xá cho những người tù vì lương tâm, và Hội an ủi những người bị tù, Hội giúp đỡ người tù và thân nhân người tù.
Ở Trại Tù Z 30 A, tôi được đọc những bức thư các ông bà trong Chi Hội Melbourn gửi cho vợ tôi. Bà Heather Morris viết thư bằng tiếng Pháp, cô Virginia Goyma là người được chi hội giao cho việc liên lạc thường xuyên với gia đình tôi. Bà Morris viết những lời rất cảm động, bà ngỏ lời xin vợ tôi cho bà và các ông bà trong chi hội được giúp vợ chồng tôi cả về vật chất.
Ở Z 30 A tôi được dùng giấy bút. Tôi viết thư cho bà Morris. Trong thư tôi cám ơn các ông bà, tôi nói lên sự xúc động của vợ chồng tôi khi được nghe những lời thương cảm và khuyến khích. Tôi viết vợ chồng tôi đã kiệt quệ về tiền bạc, vợ tôi đau yếu không làm gì được, nhưng vợ tôi vẫn cứ phải vất vả đi nuôi tôi. Vợ tôi có nhận được những hộp thuốc Tây cứu trợ gửi về nhưng sau khi nhận được một hộp, bán đi được khoản tiền đi nuôi tôi được một lần, vợ tôi lại lo âu không biết đến bao giờ nàng mới lại có được một hộp quà tặng nữa. Vì vậy tôi đề nghị các ông bà giúp chúng tôi bằng cách mỗi tháng gửi cho chúng tôi một số tiền, bao nhiêu cũng được nhưng đều đều, tháng nào cũng có, để vợ tôi yên tâm sống và đi nuôi tôi.
Các ông bà Chi Hội Ân Xá Quốc Tế Melbourn, Australia, góp tiền lại, cho vợ chồng tôi mỗi tháng 100 Mỹ kim, cứ hai tháng một lần gửi 200 Mỹ kim. Cứ như thế tôi được Chi Hội AXQT Melbourn nuôi trong năm 1989. Tôi trở về mái nhà xưa lần thứ hai đầu năm 1990. Các ông bà Úc họp nhau ăn mừng khi được tin tôi về. Thư của các ông bà cho tôi biết chi hội còn giúp tôi về tiền cho đến hết năm 1990, vì chi hội nay phải lo cho người tù vì lương tâm, vì dân quyền khác.
Những ngày như lá, tháng như mây.. Năm 1995 tôi đến Kỳ Hoa, năm 1999 các bạn tôi ở Úc, các anh Tống Ngọc, Vi Tuý, Long Quân gọi tôi sang Úc. Long Quân đưa tôi đến thăm Chi Hội Amnesty Intern. Melbourne. Bây giờ Chi Hội có văn phòng, có tới 20 nhân viên thường trực. Nhưng tất cả những ông bà trong Chi Hội những năm 1988, 1989, những vị đã giúp vợ chồng tôi mười năm trước, đều không còn một vị nào ở Melbourne, văn phòng Chi Hội bây giờ không biết những vị ân nhân năm xưa ấy của tôi hiện ở đâu.
Trong cuộc gặp mặt ở văn phòng chi hội, tôi kể chuyện 10 năm trước Chi Hội Amnesty Intern. Melbourne đã giúp đỡ vợ chồng tôi thật tận tình, tôi nói lời cám ơn các vị và nói về sự quan trọng của những tổ chức Dân Quyền Quốc Tế với tinh thần những người Việt đấu tranh đòi Dân Quyền ở Việt Nam. Riêng trong trường hợp tôi, qua 8 năm tù trong những nhà tù cộng sản, tôi thấy khi ở tù tôi cần được giúp về tinh thần và cả về vật chất, nói rõ hơn là:
“Tôi cần tiền để sống đỡ khổ trong tù. Vợ tôi cần tiền để có thể nuôi tôi trong tù.”
Năm 1989 tôi được Hội Văn Bút Phần Lan nhận làm hội viên danh dự. Các ông bà Văn Bút Phần Lan viết thư hỏi vợ tôi về tình trạng sức khoẻ của tôi trong tù, thư có đoạn hỏi:
“Bà làm ơn cho chúng tôi biết bằng cách nào chúng tôi có thể giúp ông bà về vật chất?”
Khi ấy tôi đã có án tù 6 năm, tôi đã rời Nhà Tù Chí Hoà lên sống ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Vợ tôi đem thư của Chi Hội Amnesty Intern. Melbourne, thư của Hội PEN Finland lên trại cho tôi. Ở Trại tôi có giấy, bút, tôi viết thư cám ơn các vị và kể tình cảnh kiệt quệ về Tiền của vợ chồng tôi. Các vị trong PEN Finland góp tiền mỗi tháng gửi cho tôi 100 Ðô-la Mỹ, mỗi 2 tháng gửi một lần.
Hôm nay, một sáng cuối Tháng Tư năm 2010, tôi ngưng viết trong mấy phút để thả hồn trở về một buổi sáng nắng vàng năm 1989: buổi sáng tôi ngồi viết thư trong Nhà Thăm Gặp của Trại Tù Khổ Sai Z 30 A – trại tù trong thung lũng dưới chân núi Chưá Chan, Xuân Lộc, Ðồng Nai – tôi viết thư cám ơn, tả oán, tả khổ – tức tả nỗi oan, nỗi oán, nỗi khổ cực của mình – và xin tiền các vị hảo tâm người ngoại quốc.
Hôm nay nhớ lại, tôi thấy trong 20 năm tôi sống ở Sài Gòn sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi cũng bị tù tội, bị khổ cực như mọi người, xong tôi được đỡ khổ hơn nhiều người.
Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương…
Trong một bài tới tôi sẽ kể nhiều hơn về việc trong cơn hoạn nạn tôi được Hội Ân Xá Quốc Tế và Hội Văn Bút Phần Lan giúp đỡ.
Hoàng Hải Thuỷ

Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp và ngày 30 tháng tư
Wed, 04/28/2010 - 20:05 — daotrungdao
Lời giới thiệu của Nguyễn An: Nguyễn Xuân Thiệp sinh quán ở Huế, bắt đầu làm thơ đăng báo từ năm 17 tuổi. Ông dạy học, nhập ngũ, trở thành sĩ quan trưởng đài phát thanh quân đội vùng hai chiến thuật QLVNCH, đi tù cộng sản 7 năm. Định cư ở Hoa kỳ từ 1995. Chủ biên tạp chí Phố Văn từ 2000 đến 2008. Hiện ở Dallas, Texas, vẫn đang làm báo.
Nổi trôi theo dòng đời và vận nứơc, Nguyễn Xuân Thiệp trứơc hết và trên hết là một thi sĩ, dù dậy học, đi lính, đi tù hay làm báo. Xin giới thiệu hai bài viết đuợm chất thơ của ông về ngày 30/4.
Lệ Đá
“Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan…”
Câu thơ Quang Dũng đã nói lên một điều: Đá cũng biết đau, biết khóc trước những đoạn trường của con người. Thành ra lời Bà Huyện Thanh Quan viết khi đứng trước nỗi hoang phế tịch liêu của Thăng Long Thành, theo Nguyễn tôi nghĩ, chưa được mãn ý lắm: “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt / Nước còn cau mặt với tang thương”. Không, nói như thế là chưa hiểu lòng gỗ đá. Nguyễn tôi, một chiều nào kéo gỗ, vớt sỏi và cát bên bờ sông Giăng ở Nghệ Tĩnh, nghĩ tới hiện kiếp bị vùi dập trong cơn giông lịch sử, có thốt lên những lời sau đây: “…dưới trời xưa có phai vàng nát đá / giọt lệ nào rơi trong chiều nay / ta xót ta thân dã tràng xe cát / biển đông sóng dội xô bờ / nỗi oan khiên một thời không bóng vang / mắt gỗ vàng và mắt ta qua thế kỷ / đã thấy vết chàm in những mặt người…”. Và còn biết bao lời thơ chất chứa nỗi niềm, như "đất đá ong khô nhiều ngấn lệ…" Và rồi “Đôi khi anh muốn tin, đôi khi anh muốn tin... / Ôi những người, ôi những người khóc lẻ loi một mình / Đau đớn lệ là những viên đá xanh / Tim rũ rượi... " (Lệ đá xanh, thơ Thanh Tâm Tuyền) cũng là những trải nghiệm qua cõi đá vàng. Vâng, trước những nỗi tang thương, thiên bi kịch nhiều chương nhiều đoạn bây giờ, đá cũng đau lòng, nhỏ lệ. Lệ đá, hay lệ đá xanh, là thế, nó là một sự thực -hiểu và nhìn theo cách nào đó.
Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi rồi / hỏi nắng phiêu du qua bao đỉnh trời / hỏi ái ân xưa đèn vàng héo hắt / ái ân bây giờ là nước mắt / cuối hồn một thoáng nhớ mong manh... Ai, người đài trang nào dưới bầu trời đêm mưa và sấm, như đêm nào chiến tranh đã xa, đã đọc cho Nguyễn tôi nghe. Những câu hỏi dồn dập không cần lời giải đáp. Và đó là ca từ của bài Lệ Đá do Hà Huyền Chi viết cho một bài nhạc của Trần Trịnh năm nào. Cũng là lệ đá…
Vâng. Hay như Đá Xanh, hóa thân của một mối tình tan vỡ trong nhạc Lê Uyên Phương:
rồi
ngày xanh ngày xanh qua nhanh
rồi ngày xanh qua nhanh
ngày hè đã nứt khô trên môi còn lại tiếc thôi
như viên đá lưng mềm vuốt ve tình nhân
nuôi mộng ước lâu bền
nhưng viên đá nay thành đá xanh thủy chung
đã rơi dọc sườn cao lưng đồi
ngày ngày đợi chết trong lùm cây u uất
ngày ngày nằm nhớ ân tình sâu muôn đời
đá không đổi dời
tình,
tình ơi
tình ơi mênh mông
tình, tình ơi mênh mông
dòng lệ nóng đã trôi trong tim
còn lại xót xa
như viên đá lưng tròng mắt quan tài tươi
ôi mộng đã tan rồi như viên đá nay thành đá trên mộ bia
đá im lìm ngàn thu rêu mờ
người tình giờ đã quên tình sâu xa vắng
Tình yêu của một mùa hè rực rỡ nay đã biến thành cái chết. Như viên đá trong lòng suối thành đá trên mộ bia. Cũng là lệ đá, nhưng đây là lệ của một tình yêu xưa. Nó không phải là điều Nguyễn tôi muốn nói ở thời khắc này. Đã gần hai giờ sáng rồi. Trăng soi trên thềm đá ẩm. Ngồi cầm bút (à, quên, gõ phiếm còm-pu-tờ) viết những dòng này, trong lúc trí óc nghĩ tới những điều, cũng nằm trong thế giới người, nhưng lại liên quan tới những vật vô tri ở chung quanh -vô tri, nhưng nhờ mắt nhìn của thi sĩ chạm tới mà bỗng nhiên có một linh hồn, biết xót thương và rơi lệ. Những con mắt gỗ nhìn qua thiên trường kịch của đời người, những ngọn đèn ủ ê thở than cho thân phận những o nghèo, và những phiến đá rơi lệ trong buổi chiều tiễn đưa một người về nơi cõi gió...
Và, kể từ khi đá biết đau... Hừm, đây có phải là thơ mình không, hay một lời mê sảng nào đó? Nhưng, đúng là vậy. Chuyện kể: ít lâu sau khi bức tường Berlin bị phá sập, có một cô bé leo lên những bậc thang của tòa nhà Quốc Hội nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức cũ, lần theo mấy cây cột, lấy tay sờ lên những vết đạn của cuộc Thế Chiến Thứ Hai còn sót lại trên những phiến đá. Được hỏi, cô bé trả lời "Em đang hỏi chuyện những phiến đá này!" Và cô bé nói tiếp: "Em hỏi đá là bị nhiều vết đạn như thế này, đá có đau không? Đá không trả lời. Nhưng đá đã kể cho em nghe những gì đá đã chứng kiến trong chiến tranh, lúc em chưa sinh ra, với bao nhiêu người chết, bao nhiêu đá gạch đã đổ vỡ, và đá đã khóc...". Lúc đó, ai cũng nghĩ cô bé giầu óc tưởng tượng. Nhưng về sau, người ta mới thấm thía. Trong một xã hội vô nhân tính, như xã hội Đức Quốc Xã hay xã hội Cộng Sản, con người đối xử với con người chẳng khác loài lang sói cắn, xé nhau. Khiến gỗ đá cũng phải đau lòng, như lời cô bé đã nói.
Kể từ khi đá biết đau. Chúng ta lại nghĩ đến những tấm bia trên hai hòn đảo Bidong và Galang. Một tấm ghi hàng chữ nói đến thảm cảnh thuyền nhân đã vùi thây nơi "thủy mộ quan" (từ của Viên Linh) trong những chuyến hành trình tả tơi đi tìm chân trời mới. Người ta đọc thấy: "Tưởng niệm hàng trăm ngàn người VN đã bỏ mình trên đường tìm tự do (từ 1975 đến 1996). Cho dù họ chết vì đói vì khát hay bị hãm hiếp, hoặc vì kiệt sức hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta cầu nguyện linh hồn họ giờ đây được hưởng phúc nơi an bình vĩnh cửu". Trong khi tấm bia ở đảo Bidong thì bày tỏ lòng biết ơn chính phủ Mã Lai và Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ đã cứu vớt, cưu mang những người vượt biển cách đây mấy chục năm. Cả hai tấm bia mới được dựng lên hồi tháng 3 năm 2005 khi các cựu thuyền nhân, nay đã định cư yên ổn ở Hoa Kỳ và Canada, trở về đảo xưa ghi lại dấu tích tưởng nhớ tới những bạn đồng hành xấu số. Như thế đó, hai tấm bia ở Bidong và Galang hoàn toàn mang ý nghĩa tưởng niệm và đầy tinh thần nhân bản. Vậy mà những anh em ta trong đảng đang cai trị đất nước bây giờ đã không để yên. Được biết tấm bia tưởng niệm thuyền nhân được đặt tại Paulau Bidong vào tháng 3.2005, đã bị chính quyền sở tại phá bỏ vào ngày 20 tháng 10. 2005, do đại sứ Việt Nam vận động triệt hạ. Đây là lần thứ hai họ đã dùng tới hạ sách để áp lực các quốc gia sở tại đục bỏ những tấm bia tưởng niệm thuyền nhân. Trước đó, vào cuối tháng 5. 2005, tấm bia ở Paulau Galang, Indonesia, cũng đã bị phá bỏ.
Nhẫn tâm đến như thế hỏi làm sao đá không đau lòng, nhỏ lệ. Rõ ràng chỉ có kẻ ác mới nuôi lòng thù hận đối với những người đã chết cách đây ba chục năm. Hay bàn tay ai đó muốn xóa vết tích tội lỗi của họ đã gây ra, muốn thế giới quên đi thảm kịch thuyền nhân, muốn thế hệ mai sau quên đi một thời của quỷ. Nhưng họ đã lầm, thảm kịch thuyền nhân Việt Nam đã đi vào lịch sử, mà những gì đã thuộc vào lịch sử thì không thể nào xóa bỏ. Ôi, một hôm nào Nguyễn lên Internet nhìn thấy tấm bia đá thuyền nhân bị đập vỡ ở giữa mà tưởng chừng đá kia cũng như tim người vỡ vậy.
Và, kể từ khi đá biết đau… Vâng. Không cứ gì những những tảng đá ong ở Sơn Tây Bất Bạt ngày nào, và cũng không nhất thiết phải là đá trên bức tường Bá Linh hay toà nhà Quốc Hội Cộng Hòa Dân Chủ Đức, hoặc giả những tượng đài bia đá ở Garlang, Bidong. Ở đây, Nguyễn muốn nói tới những phiến đá lát trên hè phố Sài Gòn. Bạn ơi, thanh xuân ngày ấy, Nguyễn và bạn đã chẳng hơn một lần gõ bước trên những phiến đá của đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Thánh Tôn sao… Những bước chân vui như tiếng huýt sáo của một thời trước cả khi Nguyên Sa viết Sài Gòn phóng solex rất nhanh. Đúng như thế đó, Sài Gòn của tôi ngày ấy. Cho tới khi xe tăng và dép râu, nón cối của bộ đội Cộng Sản vào Sài Gòn thì cuộc đời bỗng dưng lật sang một chương đoạn khác. Người với người chia tay, mưa dầm nắng quái, trẻ con xa lớp xa trường, những đôi mắt đêm đêm hướng về cửa biển… Và mới đây khi gót chân hãnh tiến của bọn thanh niên Trung Quốc trong cuộc rước đuốc ma quỷ dẵm xuống vỉa hè đường phố Sài Gòn thì mọi suy nghĩ bỗng trở thành thứ dụ ngôn của cơn mê sảng. Ôi, nhà thơ tiên tri khải thị, nói gì đi chứ khi đá cũng biết đau biết buồn trước cảnh ngang trái của một thời. Nói gì đi chứ khi lời nguyền thuở nào còn ghi trên đá, nỡ nào lãng quên:
Khi ta đi và mùa xuân đang lại
Máu ta ghi trên đá đợi ta về?..*
*Thơ của một tác giả quên tên
Nguyễn Xuân Thiệp
Nguồn: http://www.gio-o.com/NguyenXuanThiep.html

Tháng Tư, nhớ về Sài Gòn bài của Nguyễn Xuân Thiệp
Posted on Tháng Tư 13, 2010 by nguyenlieu
Tháng Tư, nhớ về Sài Gòn
Nguyễn Xuân Thiệp - Thứ Hai, 12 tháng 4 2010
Tháng Tư gợi lại bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều thế hệ người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước
Tháng Tư về, gợi lên bao điều để suy nghĩ và để nhớ.
Nhớ Sài Gòn, chẳng hạn. Ờ, tại sao lại nhớ Sài Gòn mà không nhớ Huế, nhớ Đà Nẵng, nhớ Nha Trang? Hay nhớ Đà Lạt? Có thể nhiều người nhớ những thành phố này, còn với Nguyễn thì Sài Gòn là đóa quỳ vàng của một thời. Có lẽ tại vì Nguyễn đã sống ở đó những năm thanh xuân của đời mình, và ra đi từ đó. Lại nữa, Sài Gòn chính là Việt Nam trong tim của Nguyễn và của nhiều người. Ôi Việt Nam / từng là nỗi đau xé trong tôi / sao tôi khóc lúc ra đi / phượng đỏ một lời yêu dấu cũ / là lúc chia xa… Vâng, qua bên này nghe ca khúc Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng lại càng nhớ da diết. Đêm nhớ về Sài Gòn / Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa / Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa / Ai sầu trong quán úa…
Ôi Tháng Tư. Tháng Tư mở ra những cơn mưa đầu tháng Năm ở Sài Gòn ngày ấy. Mưa. Mưa trái mùa trên rừng cao su An Lộc. Những chiến sĩ Biệt Kích Dù, hàng hàng lớp lớp, đứng nghiêm trong mưa, chào quốc kỳ lần cuối. Rồi chia tay… Vì đâu… Xin hãy nhớ lại kể từ 30 Tháng Tư 1975, không còn tiếng súng xối xả vào kẻ thù, mà đây đó có những tiếng súng lẻ tẻ, tiếng nổ lựu đạn, của các tướng quân, sĩ quan, binh sĩ chấp nhận cái chết chứ nhất định không để rơi vào tay kẻ thù. Những người lính Dù ở Lăng Cha Cả chẳng hạn, hay những người lính Thủy Quân Lục Chiến trong Biển Xưa của Nguyễn Mộng Giác.
Và như vậy, Tháng Tư gợi lại bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều thế hệ người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Nó là một dấu mốc rất lớn, kể từ năm 1975 trở đi tới nay, và chắc chắn nó cũng nói lên bao điều với những thế hệ sau này. Thật vậy, tháng 4 vẫn luôn là những kỷ niệm thật đau khổ và lớn lao, một vết cháy trong tâm hồn bạn tâm hồn tôi – những người một thời bước đi trên sạn đạo lửa đỏ quê hương – và cho cả lớp người theo cha mẹ vượt biên hồi còn bé dại rồi lớn lên ở những xứ sở xa lạ – như cô bé Phạm Quỳnh Anh người hôm nào đã hát ca khúc Bonjour Vietnam tuyệt vời, hay như cô bé Dao Strom với tiếng đàn thùng, tác giả những bài ca buồn trong tuyển tập Send Me Home – lớp người trẻ hôm nay vẫn chưa quên những năm hãi hùng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội xã hội chủ nghĩa,” với những ông chủ mới “y trang xúng xính. giọng hét phàm phu” (chữ của Tô Thùy Yên) chĩa mũi súng đẩy hàng trăm ngàn người vào trại cải tạo, đẩy cả triệu dân ra biển Đông sóng dữ hay đi vùng kinh tế mới ma hoang nước độc…
Đúng vậy. Nhà báo Trần Khải viết: Những hình ảnh kinh hoàng, bây giờ nhìn lại vẫn thấy y hệt như là truyện tiểu thuyết Liên Xô. Có vẻ gì rất là siêu thực, như không thể là thực, nhưng lại rất là bi thảm, và đã làm chết biết bao nhiêu người, trên rừng, ngoài phố và sau này là trên biển. Bao giờ thì tháng 4 có thể hàn gắn, không còn là một vết thương, ít nhất là với nhiều triệu người? Với Sơn Ca, có bao giờ cô quên được những hình ảnh hãi hùng đau đớn của Tháng Tư 1975: hôm 28 tháng tư em vào Tân Sơn Nhất / đêm địch pháo phi trường. em ôm hai con / trời tối đen. tắt rồi ánh lửa / không tiếng người. anh ờ nơi đâu… Ôi, cô ca sĩ mắt xếch, tóc màu auburn, em còn nhớ đã cùng chàng chỉ ít hôm sau khi Việt Cộng chiếm Sài Gòn, đã đi mua ngay chiếc xe đạp, đèo nhau đi, để gọi là từ đài các bước xuống bụi đời… Và em nữa, cùng hai con, lúc ấy còn bé xíu, chiều chiều đứng trên ban công nhìn ra sông Thanh Đa, cầu nguyện… Tháng Tư quả như vết dao chém xuống Sài Gòn, chém xuống Việt Nam, cắt đứt những mảnh đời. Kể từ đây xanh thành đỏ, phải thành trái, đúng thành sai, con người lộn ngược đầu kiểu như trong tranh Upsidedown của Nguyễn Đại Giang. Còn gã nhạc sĩ mù ôm đàn gào trong cơn mưa trước rạng đông mặt trời bị cắt cổ (soleil / cou coupé –Apollinaire), bây giờ đi đâu về đâu?
Cuối cùng, Tháng Tư vọng lên câu chửi thề nổi tiếng của thi sĩ Sơn Núi: Đù mẹ cây bông hồng / Mày không lao động / Sao mày trổ bông…
Nguyễn Xuân Thiệp

Nhà văn Phạm Đình Trọng và ngày 30 tháng tư
Thu, 04/29/2010 - 03:08 — daotrungdao
Lời giới thiệu của Nguyễn An: Nhà văn Phạm Đình Trọng sinh năm 1944 tại Hải phòng, là hội viên hội nhà văn Việt Nam từ năm 1997, sở trường về truyện và ký. Đầu tháng 3 năm 2009, ông gửi thư lên thủ tứơng Nguyễn Tấn Dũng, nhân danh “một con dân nứơc Việt” để bày tỏ mối quan ngại trứơc tham vọng bá quyền của Trung quốc, vào khi đảng và nhà nứơc coi trọng giá trị giai cấp hơn giá trị dân tộc, lại chủ trương cho tiến hành khai thác bauxite tại Tây nguyên. Ông cũng là một trong những trí thức đầu tiên ký tên vào kiến nghị dừng dự án khai thác bauxite mà ông cho là rất đáng quan ngại về nhiều phương diện này. Tháng 12, chỉ ít ngày trứơc khi tròn 40 năm tuổi đảng, ông phổ biến bức thư “Thôi không cùng hàng ngũ với đảng” và công khai từ bỏ đảng tịch cộng sản. Sau đây là bài viết của ông đăng trên Thông Luận nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày 304/1975.
Nguồn: http://thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4773
Sự thức tỉnh muộn màng
“Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”:
Phạm Đình Trọng
“…Thật đau xót cho thời cuồng tín, mê muội, người Việt say sưa giết người Việt! Đau xót về một thời bi kịch của dân tộc để phải thức tỉnh về nhận thức…”
Viết về cuộc chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm đòi hỏi phải có cái nhìn công bằng, khách quan, lý trí, thoát khỏi thân phận công cụ tuyên truyền. Nhà thơ Nguyễn Thái Sơn đã có được cái nhìn đó trong trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”, tập trường ca vừa được Nhà xuất bản Văn Học phát hành cuối năm 2009.
Những năm sáu mươi, bảy mươi thế kỷ hai mươi, hầu hết đàn ông Việt Nam đã trưởng thành đều mặc áo lính của cả hai bên chiến tuyến, đều là lính của hai đội quân đang đối đầu tiêu diệt nhau, lính Quân đội Việt Nam Cộng hòa và lính Quân đội Nhân dân Việt Nam khi còn ở miền Bắc, lính quân giải phóng khi vào chiến đấu ở miền Nam. Không là lính, họ là đồng bào, nhiều người còn là họ hàng, anh em ruột thịt. Nhưng chiến tranh hút họ vào lính, đẩy họ thành kẻ thù đối kháng của nhau:
“Bộ đội nghĩa vụ quân sự
Chọi nhau với lính quân dịch Cộng hòa!”
Những học trò vừa tốt nghiệp trung học, những sinh viên đang học dở đại học bị động viên vào lính cầm súng ra trận. Những người lính có chữ đó, nhiều người có năng khiếu văn chương và tâm hồn nhạy cảm đã cầm bút viết về cuộc chiến, viết về thân phận con người, thân phận quê hương đất nước trong chiến tranh và họ đã làm nên đội ngũ nhà văn, nhà thơ quân đội của cuộc chiến tranh đó. Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Văn Lê, Thái Thăng Long, Chu Lai, Thái Bá Lợi, Trần Nhương, Nguyễn Thái Sơn… Họ đều là bầu bạn thân thiết cùng thế hệ với tôi và tôi đã đọc đầy đủ trường ca của họ viết về cuộc chiến tranh mà chúng tôi là người lính ngoài mặt trận. Phải đến trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” thì cuộc chiến tranh vẫn được gọi là chống Mỹ cứu nước mới được nhận ra bản chất thực là cuộc nội chiến tương tàn, là bi kịch lớn của dân tộc Việt Nam, là sự tái diễn thảm cảnh đau thương người Việt giết người Việt đã từng xảy ra ở thời những vương triều suy vong:
“Lính họ Trịnh Đàng Ngoài
Đánh lính họ Nguyễn Đàng Trong
Lính Tây Sơn Nguyễn Huệ
Chém giết lính Nguyễn Ánh Gia Long”.
Thời công nghiệp, điện tử, chiến tranh không còn chỉ là động tác của cơ bắp chém, đánh như thời Trịnh, Nguyễn, thời Tây Sơn nữa mà là ấn nút, nhấn cò, động tác nhẹ nhàng cuối cùng sau chuỗi những thu nạp dữ liệu, phân tích, tính toán điện tử:
“Lọat hỏa tiễn rời bệ phóng
Nổ tung trong căn hầm bên trại giặc chen chúc người”.
Hiệu quả hủy diệt, chết chóc của động tác nhẹ nhàng ấn nút ấy không còn tính bằng hàng đơn vị mà phải tính bằng hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn nhân mạng:
“Người Việt miền Bắc
Người Việt miền Nam
Mỗi ngày
Bao nhiêu bom đạn
Mấy ngàn người chết!”
Trước đó, trường ca viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo… chỉ mới soi rọi vào góc khuất trong đời sống tâm hồn tình cảm của người lính, người mẹ, người vợ, mới khám phá những hoàn cảnh nghiệt ngã, những tâm thế chênh vênh của con người cá thể trong xoáy lốc chiến tranh:
“Vắng anh, chị bị thừa ra
Trong giỗ tết họ hàng nội ngoại
(Hữu Thỉnh – Trường ca “Đường tới thành phố”)
Thử thách với người chồng ngoài mặt trận là bom đạn, còn thử thách với người vợ ở quê lại chính là nhan sắc của chị:
“Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì chị còn nhan sắc!”
(Hữu Thỉnh – Trường ca “Đường tới thành phố”)
Trường ca “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh mang rõ dấu ấn của ngòi bút tài hoa và bộc lộ tấm lòng hồn hậu nhân văn của người viết và sự hồn hậu nhân văn ấy dành cho những thân phận cá thể. “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” của Nguyễn Thái Sơn là nỗi bận tâm, nỗi đau đáu cho số phận dân tộc bị xô đẩy vào cuộc nội chiến thảm khốc, lâu dài!
Vì mối quan tâm là số phận cả dân tộc, “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” không có nhân vật cụ thể mà chỉ có hai nhân vật ước lệ: Người đàn ông ra trận và người đàn bà ở lại làng quê. Hai nhân vật ấy như hai cá thể ước lệ cho thủy tổ loài người, ông Adam và bà Eva, như hai ông bà ước lệ cho tổ tiên dân tộc Việt Nam, ông Lạc Long Quân và bà Âu Cơ. Những tâm trạng sâu kín, những tình cảnh quẫn bách được nhắc đến trong trường ca là cuộc sống không bình thường, trái tự nhiên mà người đàn ông và đàn bà ước lệ phải chịu đựng do họ phải sống thiếu nhau vì chiến tranh. Người đàn ông ngoài mặt trận không phải chỉ khổ vì nằm gai nếm mật, sốt rét, bom đạn mà còn khổ vì:
“Chúng tôi
Những người lính đàn ông con trai
Mười chín, ba mươi tuổi
… Chúng tôi không e ngại bất kể điều gì
Chỉ khổ vì dư thừa năng lực đàn ông!”
Nỗi khổ của người đàn bà ở làng quê vắng bóng đàn ông càng âm ỉ thiêu đốt:
“Những người đàn bà khao khát tình yêu
Da thịt có gai, có lửa
… Những người đàn bà sung mãn
Đêm uống “nước sông”
Ngày ăn “cơm nhạt”!”
Khao khát mà chỉ có “nước lã”, “cơm nhạt”, chỉ có cuộc sống chay tịnh! Họ phải khỏa lấp sự trống vắng, thiếu thốn, xả nỗi khát khao vào những công việc bất thường, nặng nhọc:
“Gánh nước nửa đêm tưới đầm vườn nhãn
Xay vài thúng thóc
Giã nửa nong ngô!”
Bom đạn khốc liệt! Cái chết đến từng phút từng giây:
“Không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử
Dễ như người lính
Nhanh như người lính
Nhiều như người lính
Đương nhiên, mặc nhiên, tất nhiên, hồn nhiên như người lính!”
Chết chóc như thế nên người đàn ông trở thành hồn ma cũng là lẽ đương nhiên:
“Chúng tôi sống bình thường rồi chết
Chưa xấu cũng chưa kịp tốt
Không thành ma quỉ, chẳng hóa thánh thần
Không phải xuống địa ngục
Không được lên Thiên Đàng
Tụ tán trên tàn cây ngọn cỏ
Ẩn trong giọt sương, tiêu dao trên ngọn sóng!”
Người đàn bà lấy chồng ở với chồng được hai đêm:
“Mười chín năm con gái
Làm đàn bà hai đêm!”
Người đàn ông thành hồn ma rồi thì người đàn bà đành sống cô quả:
“Có chồng hai đêm
Chị chỉ là người đàn bà tập sự
Mười năm
Mười lăm năm
Hai mươi mốt năm
Vẫn chỉ sống như thời con gái!”
Cuộc nội chiến đau lòng như vậy thì đâu có gì để ồn ào khoe khoang, để lỉnh kỉnh huân chương, xênh xang mũ áo phô trương nhỉ?
Người lính miền Bắc mang súng AK, nói tiếng Việt. Người lính miền Nam mang súng AR15, cũng nói tiếng Việt. Hai người lính cùng một tiếng mẹ đẻ Việt Nam mà tìm mọi cách tiêu diệt nhau, mang cái chết đến cho nhau. Cái chết đến từ khẩu AR15:
“Chùm đạn AR15 bắn gần khoan vào trán
Găm giữa ngực
Những người lính đội mũ tai bèo đổ gục!”
Cái chết đến từ khẩu AK:
“Tốp lính Sài Gòn lò dò đặt chân lên sườn đồi
Hứng trọn những lọat đạn AK vào đầu, vào ngực!”
Người giết và người bị giết đều là người Việt:
“Người Việt thắng trận huy hoàng
Bại trận
Cũng là người Việt!”
Người bị giết dù ở phía nào thì người Mẹ Việt Nam vẫn phải nhận lấy nỗi đau chết chóc:
“Năm Nhâm Tý – bảy hai
Máu binh sĩ Sài Gòn
Máu quân giải phóng
Đỏ sông Thạch Hãn
Ướt sũng gạch vụn Cổ Thành!”
Thật đau xót cho thời cuồng tín, mê muội, người Việt say sưa giết người Việt! Đau xót về một thời bi kịch của dân tộc để phải thức tỉnh về nhận thức.
“Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” là sự thức tỉnh đó. Sự thức tỉnh cần thiết mà muộn màng!
Phạm Đình Trọng
© Thông Luận 2010

No comments:

Post a Comment