Ngô My phản hồi Bùi Đức Hào
về bài viết
Thử nhận định về Gió Lẻ
sau hiện tượng Cánh Đồng Bất Tận
trong hành trình văn học Nguyễn Ngọc Tư
Vì bài viết của ông Bùi Đức Hào có một đoạn tập hợp nhiều ý kiến từ nhiều người phê bình khác, tôi xin được phản hồi bên dưới một vài ý kiến đó bằng chữ màu xanh. Tôi chỉ xin nêu ý kiến và cảm nghĩ của mình về Gió Lẻ và viết tắt NPB như Nhà Phê Bình hay Người Phê Bình.
Thế nhưng, trong Gió Lẻ, văn chị súng sính – và đôi khi hơi ngượng nghịu – trong chiếc áo mới, nhất là ở phần đầu, như thể ngòi bút chưa đủ hâm nóng, dẫn tới những phê bình như của Nhã My (24):
“Cách viết mới, nên người khen không ít, người không chấp nhận cũng nhiều thiệt nhiều. Nhất là, người quen với Nguyễn Ngọc Tư chân quê dung dị, bảo Gió lẻ khác chị xưa quá, như cô gái chân quê một bước đi ra thành thị, với câu chữ làm duyên làm dáng (…) Nguyễn Ngọc Tư có lạ, có mới, có biến đổi câu chữ kỳ ảo làm cho bạn có khi hơi mất đi chút xíu cảm tình.”
Khi NPB Bùi Đức Hào nói
“... trong Gió Lẻ, văn chị súng sính – và đôi khi hơi ngượng nghịu – trong chiếc áo mới, nhất là ở phần đầu, như thể ngòi bút chưa đủ hâm nóng...”,
ông đã không chỉ ra được đoạn văn đó súng sính hay ngượng nghịu ở từ nào, nghĩa nào. Theo tôi, đoạn văn đầu tiên đó không có vẻ gì ngượng nghịu hay súng sính, nó chỉ là không làm tốt cho phần mở đầu Gió Lẻ. Ví dụ, nếu tác giả đưa đoạn văn đó về sau như một hồi tưởng, đồng thời bắt đầu Gió Lẻ bằng đoạn thứ hai
“Họ không còn nhớ màu của nắng, hay phía của mặt trời rơi, vào buổi chiều chiếc xe tải rời một cái quán ăn bên ngã ba đường đi chợ Cỏ...”,
thì tôi tin, câu chuyện sẽ được mở màn sống động hơn, trực dẫn vào chuyến xe định mệnh của ba con người.
Mỹ từ pháp nhân cách hóa đôi lúc dường như bị “quá dose”, dễ cho cái cảm giác văn hơi cầu kỳ, chẳng hạn như khi tác giả viết:
“Hôm ấy, gió lẻ bắt đầu ướm chân vào mùa” (trang 125);
Bắt đầu chuyện kể về cái chuyến đi của những con người cô lẻ ấy bằng cuộc khởi hành của gió. Gió đã bắt đầu “ướm chân vào mùa”, họ cũng vừa lên đường... Còn một biện pháp nào tốt hơn, thích hợp mà thi vị hơn thế nữa không, trừ phi có ai thực sự ghét gió bởi thường lậm gió?
hay như ở tiểu đoạn tả về cơn gió làm nền cho tác phẩm (trang 132), với những câu giống văn chính luận nhiều hơn là văn truyện ngắn: “Và từ khi lìa nhau, gió dằn vặt con người bởi nỗi ly tan của chính nó”,
“Và từ khi lìa nhau, gió dằn vặt con người bởi nỗi ly tan của chính nó” là không nên dùng cho Truyện ngắn? Lời khuyên này sẽ gây nhiều “nan giải” cho chính người viết ra nó đấy. Khi Bình Nguyên Lộc viết:
"Gió bấc lướt trên ngọn cây, té vào giếng ấy như nước chảy vào chỗ trũng, và vì không có lối ra gió quay cuồng, càng vặn thêm lòng người vốn đã lạnh" (*), sao không hề nghe ai trách cứ?
Gió mà “quay cuồng” vì “té vào giếng” rồi “vặn thêm lòng người vốn đã lạnh...” thì chuyện nó có “dằn vặt con người bởi nỗi ly tan của chính nó” đâu có gì là không phải?
Xem “gió” của Ngô Phan Lưu trong “Bầy Người Bé Nhỏ” kìa: “Bầu trời như một tấm chì đang đè sát xuống một biển nước màu gạch pha tro. Đè sát đến mức, gió lạnh cũng phải ép mình mới đi qua được.”
Gió phải tự “ép mình mới đi qua được” cái gầm trời sát sạt ấy đấy, khổ lắm. Gió mỏi mệt tả tơi rồi, nhưng vì bản chất hồn nhiên xuân thì của nó, nên gió lại “ướm chân vào mùa” tiếp tục lang thang, tôi nghĩ thế.
(*) – theo trích dẫn của NPB Thụy Khuê, Hợp Lưu 11/11/2008
Mặc dù có người nghĩ Nguyễn Ngọc Tư chọn “bút pháp tượng trưng xen lẫn siêu thực” (17) trong Gió Lẻ, độc giả vẫn dễ cảm thấy, ở tiểu đoạn tả người say rượu (trang 128), hình ảnh “máu loãng” hơi bị gượng ép, nhất là ở câu cuối:
“Cả người anh ta ngấm nước mưa, rượu và nỗi buồn, tất cả đã ướt đẫm tới xương. Chúng pha loãng máu, và trái tim mệt mỏi kia phải đẩy đưa từng dòng trong vắt. Em quẩy túi lên vai, em sợ cái cách chảy trôi tuột, trơn lẫy của những dòng máu loãng.”
“Em quẩy túi lên vai”, cuống cuồng bỏ đi, “em sợ cái cách chảy trôi tuột, trơn lẫy của những dòng máu loãng” ấy, bởi vì đó là những dòng “máu lạnh” hay “máu hèn”?... (“Bữa ở trên đèo, tụi nó có tới sáu thằng. Mình đâu có bỏ chạy, mình chỉ tìm người tới giúp.” )
Mà “Em”, hình như “Em” khinh cả hai thứ máu đó, cho dù “nước mưa, rượu và nỗi buồn” có cố gắng “pha loãng” bớt cái lạnh lùng, cái hèn của dòng máu đó, có cố trưng ra một lời giải thích, thì em cũng vẫn cứ khinh, sợ và bỏ đi. Có gì gượng ép ở đây không nhỉ? Và chắc chắn, không có bút pháp siêu thực nào, chỉ là một dụng ý của nghệ thuật ẩn dụ.
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên (27) đã rất khắt khe với tác giả trong câu cuối này, cho rằng:
“…khi chị tỏ ra làm lạ mình, khác mình bằng cách “làm văn” ở câu chữ thì lại không nên. Cái duyên cái chất của Ngọc Tư là ở những câu văn chân chất, hồn nhiên truyền tải được cái hồn vía của một người văn. Những câu làm dáng, văn hoa thật không phù hợp và không cần thiết cho truyện, càng rất không “Ngọc Tư”.
Để vươn ra thế giới, ngoài ví dụ Hàn quốc, làm sao giới thiệu nữ sĩ Cà Mau với các nước khác đặc biệt là ở phương Tây?
Để làm giàu, làm mới mình, tác giả có nghiền ngẫm, kế thừa, giao lưu, cọ xát với văn học thế giới đủ chưa? Hỏi tức là trả lời.
Tôi tin, khi đem thân mạng của mình đi đấu tranh cho hoà bình, không ai muốn nghĩ đến giải Nobel Hoà Bình Thế Giới (dĩ nhiên phải trừ ra vài ca khác thường đã từng có trong lịch sử của giải thưởng này). Khát vọng thì khác với tham vọng. “Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”.
Yêu cầu một tác giả phải vừa “bám giọng”, giữ “hồn vía”, luôn giữ “chất Ngọc Tư”, không nên “bỏ một mạch ngầm”, vừa phải “vươn ra thế giới”, rồi phải “nghiền ngẫm, kế thừa, giao lưu, cọ xát với văn học thế giới”, phải “định hướng chiến lược” theo marketing, vân vân và vân vân... ? Các nhà phê bình quí mến ơi, tất cả những điều các vị nói trên nghe rất giống chỉ thị, một sự phân công tác, hay lời hợp đồng của nhà xuất bản, chứ không phải là công việc của phê bình tác phẩm.
Nếu độc giả Việt Nam, trong đó có các nhà phê bình, chưa rung động thực sự trước sự nhạy cảm tinh tế, chưa hiểu trọn vẹn những dụng ý nghệ thuật , không chấp nhận những giọng văn khác nhau của một tác giả, thì việc giới thiệu tác giả đó ra nước ngoài hẳn có gì mà phải vội?
Lời của riêng tôi:
1. Giọng kể của ai?
Trong Gió Lẻ, nếu hai ba giọng kể nào như một số người phê bình đã chỉ ra, thì đó cũng chỉ là một giọng nói duy nhất, giọng của tác giả ở thể ngôi thứ ba, vừa third-person omniscient (biết ý nghĩ, cảm giác của tất cả nhân vật) lẫn third-person limited (chỉ biết ý nghĩ, cảm giác của một nhân vật) .
“Em” ở đây không tự mình kể chuyện, mà là tác giả đang kể chuyện. Tác giả dùng từ “Em” như là “Nàng”. Vì là ở trong vai ngôi thứ ba third-person omniscient nên “người kể” có toàn năng hiểu và kể lại khi thì về hoàn cảnh của tất cả nhân vật; khi thì hiểu được sự giao cảm giữa “Em” và các con vật rồi tường thuật; lúc thì nói lời của Gió, và ghê hơn nữa, đã kể lại lời của các con ma. Ngôi thứ ba third-person omniscient này xuyên suốt Gió Lẻ từ lời mở đầu của một con ma (“Tại sao người ta không nhìn thấy mình khi mình còn sống”) cho đến lời trách của con ma Tìm Nội khi chiếc xe rơi xuống vực (“con nhỏ này… tôi chỉ định giỡn thôi mà…”).
Nhưng, dọc theo câu chuyện đôi khi tác giả ở ngôi thứ ba đó lại “thu mình” vào third-person limited, chỉ biết được ý nghĩ của một nhân vật, không biết về những nhân vật kia. Ví dụ, khi “thu mình” vào “Em” , tác giả chỉ biết về em, mà không biết ý nghĩ của các nhân vật Ông Buồn và anh Tìm Nội. Tác giả cũng đã làm điều tương tự, “thu mình” vào nhân vật Ông Buồn, anh Tìm Nội, thậm chí vào các con ma, con vật.
Độc giả dễ bị “rắc rối” chỗ này, “Em” và con chó tên Cò lại trò chuyện và hiểu nhau được ư? Thật vừa ngộ nghĩnh, vừa cảm động khi tác giả làm thông ngôn, tường thuật lại với chúng ta về sự giao cảm không lời giữa “Em” và con chó...
“Con Cò lẽo đẽo đi theo, thật ra cái từ “đi” nó chẳng hiểu, vì em (nàng) chưa từng nói, nhưng nó biết có cơn đau nào đó đang xảy ra...”
Lẽo đẽo theo sau bước chân cô độc của kiếp người là một tình thương, một mối cảm thông vô ngôn, một cái biết siêu nhiên, xoá tan biên giới giữa người và vật. Nó gây chấn động, gây xấu hổ cho con người, sao chúng ta còn tệ hơn cả loài vật?
Vì là ở ngôi thứ ba third-person omniscient nên tác giả có toàn năng hiểu và kể lại lời độc thoại của nhân vật, nói lên những suy nghĩ của nhân vật bằng tiếng nói của chính mình, nên mới xảy ra việc đột xuất xen lẫn trong những độc thoại của nhân vật, có một giọng nào đó đang “làm văn”, tả cảnh tràng giang mà không nhất thiết đó là lời nói của nhân vật. Cho nên, nhận xét của NPB Phạm Xuân Nguyên:
“Thí dụ câu này từ miệng kể cô bé nhân vật chính: “Trong mớ âm thanh quen thuộc của lũ kiến chạm chân trên đường rời tổ, của muôn vạn cái lá dập xao xác, những giọt sương sẽ sàng rụng xuống, tu hú kêu vang trong bờ sậy, có lẫn tiếng cây đang ứa nhựa hàn gắn vết thương, nơi nụ hoa lìa” là hố to. Đó là lời tác giả, chứ không phải là lời của cô gái.
Vừa trực tuyến, đơn tuyến, vừa đa tuyến. Sự nhào lộn, biến hoá của “point of view” này gây ra sự “khó nắm bắt” cho một số độc giả , nhưng nó rất thông dụng trong truyện ngắn và tiểu thuyết, tạo nên những tình huống hấp dẫn.
2. Gió Lẻ – một biểu tượng:
Suốt truyện ngắn Gió Lẻ, độc giả có thể sẽ choáng ngợp, đếm được đến vài chục từ “gió” trong đủ loại gió khác nhau: gió chướng, gió độc, gió lạnh, gió bầy, ... Nhưng Gió Lẻ là loại gió gì? Tôi thầm mong nó không có nghiã là Gió Lẻ Tẻ, mà hy vọng rằng tác giả đã dùng nó cho tựa đề, như một biểu tượng để nói lên sự lẻ loi, cô độc. Thật xiết bao thất vọng khi chị bỗng dưng tự phá huỷ cái biểu tượng rất độc sáng của tựa đề Gió Lẻ:
“Câu chuyện trong trẻo và vui nhộn không bao giờ chấm dứt, bất chấp mưa, nắng, bất chấp gió lẻ gió bầy.”
“Gió bầy đi rồi gió lẻ tới, mỗi mùa gió có một tiếng nói riêng, nên âm thanh chung quanh em lúc nào cũng thanh thao và trong trẻo.”
Khi Gió không còn là hình ảnh để nói về sự lẻ loi, vô định và cô độc thì sự “trốn gió” bỗng hoá ra là cái “trốn lạnh” bình thường, chứ không phải là sự chạy trốn nỗi cô đơn, cô độc. Do đó mà NPB Bùi Đức Hào mới nói rằng:
“Vì thế, người đọc khó được thuyết phục về mục đích chỉ nhằm “trốn gió” của gã lái xe”. Và ông ta đúng.
Tôi tin, trong vội vã chị đã “lỡ tay đánh rơi” biểu tượng. Cho nên, khi trả lời phỏng vấn, chị đã nói: “Thật ra tôi có thể viết Nắng lẻ, hay Mây lẻ, nhưng những thứ này không… lạnh, khi tôi đang nói tới cái cô độc hiu hắt của cuộc đời.”
3. “Làm văn”, tại sao không?
“Em” xiết bao hoang dại, ngây thơ, khi vừa chớm dậy thì...
Nằm nhìn trăng trôi trong rẫy bắp, em từng nghĩ, khi mình nói trở lại, câu đầu tiên là gì?
– Mầy đừng liếm chân tao, nhột lắm!
Câu đó em sẽ nói với con Cò. Nó hay làm em tỉnh giấc bởi sự hí hửng vô chừng, chỉ là bóng trăng, lá rơi hay mùi một con chó cái xa xa… Cái lưỡi ướt lạnh của nó bắt đầu lượn lờ lên gót chân rồi lên đến bắp chân, đầu gối em. Những cơn rùng mình từ đó chạy lên đỉnh đầu, làm nên một vòng sóng ran cả người.
Dù “Từ lưu lạc, bầy sao bắt đầu nhuốm màu lam lũ, tả tơi”,thì giữa đất và trời, “sao tả tơi” kia vẫn cứ nguyên sơ, trong lành như một giọt sương.
Rồi ... “những giọt sương sẽ sàng rụng xuống, tu hú kêu vang trong bờ sậy, có lẫn tiếng cây đang ứa nhựa hàn gắn vết thương, nơi nụ hoa lìa.”
Có hạt sương rụng rơi, có nụ hoa lìa, có vết thương tự cứu chữa bằng nhựa ứa của chính mình, nhưng không có “Những luồng run rẩy rung rinh lá” (Xuân Diệu). Những “luồng run rẩy” ấy đã bị tước đoạt, đã bị chết oan!
Chỉ bằng với những khắc khoải âm thầm của thiên nhiên, những “bài làm văn” của Nguyễn Ngọc Tư cứ làm cho người đọc ngậm ngùi, rơi nước mắt. Tôi vẫn không thể hiểu, nhà văn mà không “làm văn”, thì làm gì? Giọng kể này hay lắm, sao quý vị không ưa?
Chưa hết, dù “những tia máu vằn trong mắt” và “ bước chân oằn trĩu”, với nỗi oán giận và cơn đau mà em không thể chia sẻ được cùng ai ngoài con chó tên Cò, “Em” vẫn cứ thương người. Có độc giả sẽ hiểu, “Em” khinh kẻ đã hại mình như khinh một con chó, nhưng tôi nghĩ, “Em” thương kẻ đó như thương một con chó đã “lè lưỡi liếm để gọi em than thở chuyện đời nó”. Một Tình thương đã xô ngã mọi nấc thang giá trị, nơi tâm Phật ẩn náu, không chút mê mờ. Những ai đã nói Gió Lẻ chỉ là những câu chữ làm duyên làm dáng cần nên xem lại nhận xét của mình.
4. Định vị chiến lược hay Tự do?
Hầu hết những nhà phê bình đều cho rằng Nguyễn Ngọc Tư không nên rời bỏ giọng kể của vùng sông nước Nam Bộ, bởi làm như vậy là chị sẽ đánh mất hồn, bản sắc của mình... Nhưng chỉ có chị mới có thể cảm thấy những ước muốn vươn ra ngoài địa phận đó như một khao khát khám phá nghệ thuật, chứ không phải là muốn “làm duyên làm dáng”, “làm lạ”, “đánh bóng” nọ kia. Dùng những từ này để sỗ sàng phủ đầu một tác giả đang ra sức tìm kiếm, thám hiểm trên con đường sáng tạo là không tốt bụng và không tiến bộ. Nếu chị chỉ biết tự đóng khung, tự thoả mãn với những gì đã làm ra thì mới là đáng ngại. Giọng văn cũng chỉ là phương tiện của bếp núc sáng tác, mà giọng đó là giọng của ai cơ chứ? Tại sao chị lại không thể tiếp tục sáng tác bằng nhiều giọng văn khác nhau? Tại sao phải gò ép chị nói giọng nói của nhân vật? Trung thành với giọng kể vùng sông nước phương Nam của mình, tác giả sẽ phải từ chối những đề tài khác mà chắc hẳn chị yêu thích và muốn thử nghiệm.
Tôi quý ý kiến này của NPB Thụy Khuê từ Hợp Lưu:
“Trái ngược với thời điểm sau 1954, các nhà văn Bắc di cư vào Nam, ngoài giọng văn Bắc, họ còn tập viết đối thoại tiếng Nam và họ đã làm giầu thêm ngôn ngữ của họ: văn chương luôn luôn cộng vào, khi trừ là mất đi.”
Mặc dù chị Thụy Khuê lo lắng:
“Nếu quả như vậy, thì sự "thống nhất ngôn ngữ" đang đi trong chiều đáng ngại: nó đẩy nhà văn đến chỗ chối bỏ bản ngã của mình.”
Tôi vẫn cứ không tin rằng giọng văn quyết định bản ngã của người viết, cũng không là “phần hằng số bất biến” của tác giả, như lời của ông Bùi Đức Hào.
Đọc Truyện Ngắn Việt Nam hiện nay, là một độc giả, tôi nhận thấy Ngô Phan Lưu là một bậc thầy trong cái gọi là “giọng văn”. Những câu đối thoại trong truyện ngắn của ông có khi là những lời nói của những người dân quê, mang đậm hồn quê Việt Nam nhưng câu chuyện không tự nó muốn tạo ra chất “quê” hay “dân dã” bởi nó đã là “quê mình” rồi còn gì. Tàng ẩn đằng sau những truyện ngắn ấy là một triết lý sâu lắng. Thoắt một cái, giọng nông dân chân chất biến mất, người ta nghe một giọng “Xuân Thu Chiến Quốc”, những cái nhìn gườm nhau sát nút, những lời gằn đầy hiểm hoạ (như “Xoa Tay Và Cười”), bỗng thư giãn giọng một ông “dại” Phú Yên, rồi đùng một cái lại là giọng rất trẻ như của một trung niên, có cả giai nhân, có cả sóng, cả nhạc của một khung cảnh đô thị... Một giọng kể đang “điều hành” nhưng tự nén chặt mình đằng sau sự tự diễn biến của câu chuyện. Nó không “lộ mình”, như người điều khiển những con rối mà khán giả không thực sự biết mặt mũi và giọng nói thật của người nghệ sĩ sau bức màn kia là ai. Một nhà văn vẫn có thể là một kịch tác gia theo cái cách của mình. Nếu vở kịch của mình có hai màn, một về nông thôn, một về thành phố, dĩ nhiên người viết kịch phải sử dụng đủ loại “giọng” thì mới làm nên nổi. Cái tham vọng nếu có chăng ở Nguyễn Ngọc Tư, tôi nghĩ, có lẽ là chị đang muốn viết một tác phẩm “không biên giới”. Chị đang đứng “Bên Cầu Biên Giới” đó thôi.
Nguyễn Ngọc Tư đang bị báo chí kìm hãm trong “tình thương yêu vô vàn”, dù chị đã như “gào” lên: “Con cá quẫy để khỏa bèo vì nó cần thở ở một khoảng rộng hơn. Tôi cũng vậy”. Nhưng con cá ấy đã chẳng khoả nổi bèo, mà còn là cả một rừng bèo mới thật đáng sợ.
NPB Bùi Đức Hào đã tung ra một cái lưới hoành tráng, thu gom toàn bộ dư luận và nguồn với 36 links. Không những thế, ông còn trích dẫn những tên tuổi gạo cội nước ngoài, gợi ý cả “thương hiệu”, “định vị chiến lược” của marketing, dùng đòn kinh tế để thuyết phục nữ sĩ Cà Mau:
Cách tân (innover) không phải để cách tân. Nó không phải chỉ duy nhất dựa trên sự sáng tạo (créativité), mà còn phải biết sáng tạo ra cái gì, và sản phẩm mới đó có lọt được vào mắt xanh của thiên hạ, có đáp đúng những khát vọng bùng phát hoặc còn đang âm ỉ trong lòng khách thưởng ngoạn hay không.
Văn chương trong một nền kinh tế thị trường. Nghe quen thuộc lắm. Lần này, biết bao nhiêu là người đã hả dạ. Còn nữ văn sĩ, chị đang nghĩ gì?
Tôi sống ở Mỹ, nơi hằng năm suốt trong nhiều tháng trời, đài truyền hình Fox xen kẽ chiếu hai chương trình American Idol và So You Think You Can Dance. Cả hai chương trình đó đã cho thấy thí sinh được tuyển chọn không nhất thiết phải là giọng ca / vũ công hay nhất (the best) mà là giọng ca / vũ công được yêu thích nhất (the most favorite). Với American Idol, thật dễ nhận thấy rằng ban giám khảo đã khống chế thiên hướng của thí sinh, bác bỏ nét tài hoa riêng bẩm sinh của họ, gò tất cả những “riêng lạ” ấy theo mô hình chiến lược sản phẩm của nhà sản xuất băng đĩa, cái mô hình hội đủ các yếu tố giọng và hình thể trẻ, sexy và “Americanized”. Đây chỉ là một ví dụ của cái gọi “định vị chiến lược” cho một số sản phẩm văn hoá của Phương Tây, tôi không có ý ám chỉ nhà văn như là các thí sinh kia.
Dĩ nhiên các thí sinh sau khi chịu gò mình vào các “yêu cầu” trên, dẹp bỏ cái tôi của mình, chịu lắng nghe lời khuyên của ban giám khảo và đi theo “tiếng gọi” của người thưởng thức (chứ không phải tiếng gọi của trái tim mình), họ sẽ gặt hái danh hiệu và những hợp đồng béo bở. Các ban giám khảo luôn am tường giới thưởng thức, tiêu thụ, chìu theo thị hiếu của họ để hái ra tiền. Khách hàng là thượng đế, họ nói thế. Nhưng, đó chỉ là một nửa sự thật, vẫn có một thế lực siêu quần hơn “đi trên đầu” khách hàng đấy. Không những “Selling the Invisible”, họ còn có cả “Mind Control Marketing” nữa cơ.
“Hollywood là nơi mà người ta trả một triệu dollars cho một nụ hôn và chỉ 50 xu cho linh hồn của bạn mà thôi” cô đào Marilyn Monroe đã nói thế ("Hollywood is a place where they'll pay you a million dollars for a kiss and 50 cents for your soul.").
Nhưng chúng ta có quyền hy vọng, rằng các nhà xuất bản của phương Tây không mang “tinh thần” của Hollywood.
5. Lời Kết.
Trở về Gió Lẻ, với bài viết này tôi chỉ muốn bày tỏ sự ủng hộ đối với tác giả về sự thử nghiệm phong cách mới của chị. Chẳng phải ngẫu nhiên mà chị đã khởi hành sự đi tìm cái mới bằng một cơn gió lẻ loi, cô độc đó sao? Dường như chị đã thậm hiểu rằng, sáng tác là cuộc hành trình cô độc ít bóng mát, không ai có thể giúp đỡ ai, cõng ai đi. Như một kẻ lữ hành đi qua sa mạc, qua các ốc đảo, lang thang tìm kiếm những mạch nước để được buông vào đó những cơn khát sáng tạo của mình. Nếu y không kiếm ra được mạch nước, nếu y bị lạc đường không tìm ra một ốc đảo, y sẽ phải “chết”. Các nhà văn, nhà thơ và các nhà phê bình quý mến, có phải mỗi người trong quý vị, ai cũng có những sớm mai thức dậy thấy mình như một kẻ đã chết rồi? Không cảm hứng, không đề tài, không biết viết cái gì? Rồi quý vị khoả lấp cái “nỗi chết” đó bằng sự bận rộn của một ngày để thấy mình... đang “sống”? Cái nghiệt ngã ở chỗ, ai cũng có thể cho nhau lòng mến mộ, đề tài, định hướng, nhưng không thể cho nhau nguồn cảm hứng và cái “tự biết mình phải làm gì”. Ai cũng có thể nhìn thấy, phát biểu, phân tích nhưng chỉ có một người phải tự mình làm ra cái gọi là tác phẩm. Sao không trả lại cho nhau cái đẹp nhất của “tình nghệ sĩ”: quyền tự do sáng tạo.
Nguyễn Ngọc Tư đã nói rõ những điều này trong bài tham luận Lớn lên từ những ngộ nhận
“... Nhưng sự trải nghiệm của tuổi tác, của thời gian đã làm tôi nhận ra, những gì tôi viết là không gian của riêng tôi, của sự tưởng tượng và sáng tạo. Những đất ấy, người ấy, tôi chỉ mượn cái hồn cốt, giai điệu của Nam Bộ để chuyển tải. Thổ ngữ địa phương chỉ là phương tiện thể hiện ý tưởng và câu chuyện của người viết. Chúng được mọi người xem là phong cách riêng của văn tôi. Nhưng thực chất đó chỉ là một lớp vỏ, tôi muốn bỏ qua cả lớp vỏ đó, để tận mắt thấy trên mảnh đất này, người đời đang lạnh hay ấm, vui hay đau qua làn da, qua từng vết tím, từng cái se lại của lỗ chân lông, thấu thị tận tâm hồn, như một người hành hương về chốn tâm linh không cần bất cứ phương tiện hiện đại nào, chỉ bằng đôi chân trần.”
Lời “đề từ” trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Phạm Phú Phong
Đại học Huế
1. Trước khi có cuộc “Đối thoại với Cánh đồng bất tận” trên báo Tuổi trẻ tháng 4. 2006, Nguyễn Ngọc Tư đã được bạn đọc biết đến với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, giải Nhất trong cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi XX (lần 2) năm 2000, được tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2000, giải B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001... Nhưng quả là đến cuộc “Đối thoại...” chị trở thành một hiện tượng văn học đáng chú ý, một sự kiện văn học hy hữu trong lịch sử văn học nước ta, thể hiện tinh thần dân chủ hoá của thời kỳ đổi mới và hết sức tập trung, đến mức chỉ trong một thời gian ngắn, báo Tuổi trẻ đã nhận được 868 ý kiến gửi về tham gia diễn đàn, trong đó có 855 ý kiến khen và chỉ có 13 ý kiến chê.
Nhìn chung, cả khen và chê tác phẩm Cánh đồng bất tận đều theo tư duy kiểu cũ, đều lấy hiện thực đời sống làm thước đo, làm tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm. Người chê, phản đối tác phẩm thì cho rằng những chi tiết, nhân vật, vấn đề trong tác phẩm đều không thể có trong hiện thực đời sống, chủ yếu đó là ý kiến của những người làm công tác chính trị.
Ở phía đa số, những người khen Nguyễn Ngọc Tư cũng lấy hiện thực đời sống làm tấm gương phản chiếu, bởi “đó là sự chân thực, đôn hậu, trong sáng toả ra từ những gì cô viết”.[1]
Sự khen-chê đều xoay quanh vấn đề nội dung, vấn đề hiện thực và hư cấu, mà không căn cứ vào văn bản ngôn từ để lý giải vì sao, bằng quan niệm nào mà tác giả viết như thế và cách viết ấy tạo được hiệu ứng thẩm mỹ như thế nào? Một trong những đặc điểm nghệ thuật nổi bật của Nguyễn Ngọc Tư, thu hút đông đảo người đọc, đó chính là những yếu tố nằm ngoài cốt truyện, mà chủ yếu là những yếu tố thuộc về thi pháp hình thức độc đáo như cách đặt tên tác phẩm, tên nhân vật, lời đề từ, đề tặng, những đoạn trữ tình ngoại đề, hình thức trình bày tác phẩm,... Ở đây, tôi chỉ xin khảo sát một trong những yếu tố đó (chủ yếu là thông qua Cánh đồng bất tận), là lời đề từ trong tác phẩm văn xuôi.
2. Lời đề từ là “thành phần nằm ngoài văn bản tác phẩm, được viết ở đầu sách hoặc sau tiêu đề mỗi chương trong cuốn sách nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả hoặc tư tưởng của tác phẩm”.[2] Các tác phẩm trữ tình hay sử dụng lời đề từ cho cả tập sách, như lời đề từ cho Nhật ký trong tù là bài thơ in ở bìa sách:
Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao
Có thể nói, đó là cảm hứng chủ đạo của toàn bộ tập thơ, thể hiện tư tưởng - chủ đề của tác phẩm, là người tù - người tự do. Các bài thơ trong tập, dù nhiều bài không nhắc đến tự do, nhưng vẫn cứ bàng bạc tư tưởng ấy trong toàn bộ tác phẩm. Các tác phẩm nghiên cứu phê bình, thường sử dụng lời đề từ cho mỗi chương như Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh, Chân trời có người bay của Đỗ Lai Thuý... Nguyễn Ngọc Tư là một trong số người hiếm hoi sử dụng lời đề từ cho văn xuôi tự sự. “Trong tập tản văn Sống chậm thời @ một nửa là của chị và tác phẩm nào chị cũng đưa ra lời đề từ như dấu ấn sâu đậm khắc ghi trong lòng độc giả và đó dường như cũng là nỗi day dứt lớn nhất trong chị”.[3] Cánh đồng bất tận gồm 14 truyện, thì có 11 truyện được tác giả sử dụng lời đề từ. Theo cách trình bày, do yêu cầu các truyện đều phải bắt đầu từ trang lẻ, trong khi đó ba truyện Thương quá rau răm, Huệ lấy chồng, Dòng nhớ các truyện đặt trước đều kết thúc bằng các số trang chẵn, không có trang trống nên không có lời đề từ. Thực ra, tác giả hoàn toàn có cách trình bày khác, đồng thời khi đọc lời đề từ của các truyện còn lại mới thấy hết giá trị nội dung của tác phẩm. Ở đây, lời đề từ có thể là một danh ngôn, một đoạn trích từ kinh Phật, một câu hát dân gian, hoặc đôi khi chỉ là một ý nghĩ bâng quơ, nêu một sở thích ngộ nghĩnh, hoặc một đoạn tự sự tồn tại song song với truyện... nhưng tất cả đều có thể vận vào, đều thể hiện chiều sâu của tư tưởng, là một phần bổ sung không thể thiếu cho văn bản tác phẩm, góp phần tạo nên sự toàn vẹn của chỉnh thể, thực chất là một bộ phận của chỉnh thể tác phẩm, thể hiện ý đồ sáng tạo của tác giả và tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm, cần phải được lưu ý xem xét, nếu bỏ qua, hoặc bỏ sót sẽ không khám phá hết giá trị nội dung của tác phẩm.
Truyện Cải ơi! có lời đề từ sau: “Mỗi lần nghe câu hát “Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại...”, tôi hơi quạu, ông bà mình quá hiền lành đi, thí dụ có bị phụ phàng, thì cũng có chanh chua, hằn học một tí. “Gió đưa thằng quỷ sứ về thành. Để tôi ở lại chành ành... đắng cay”. Đau, tức vậy mà trách cứ nhẹ hều... Dường như người ta vẫn yêu, đến mức không thể giận dỗi, nặng lời. Và mình thì chưa bao giờ yêu ai đến như vậy ?!!!”.[4] Đó là nỗi oan của ông già Năm Nhỏ, bỏ nhà đi tìm đứa con riêng của vợ, tên là Cải. Từ năm mười ba tuổi, khi đi chăn trâu, vì ham chơi đôi trâu lạc mất, Cải sợ bị đòn không dám về nhà, ông già Năm bị vợ và bà con lối xóm nghi là đã xua đuổi, thậm chí đánh chết Cải rồi vùi xác ở đâu đó. Hơn mười hai năm ông đi tìm, ông xin làm chân sai vặt cho đoàn ca múa nhạc, để trước giờ biểu diễn, ông lên thông báo tìm con: “Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè con”; rồi ông đẩy xe kẹo kéo đi bán, cố tình vi phạm pháp luật như lấn chiếm lòng lề đường để bị phạt, ăn trộm trâu để bị bắt, được đưa lên ti vi, cũng chỉ để được gọi hai tiếng “Cải ơi...”.
Ở truyện Một trái tim khô, lại được mở đầu dòng tự sự bằng những câu hát sướt mướt để đối lập với hành động phi nhân thuê người giết vợ: “Dạo trước, hồi chưa có phong trào nhạc “Sáng sáng anh uống cà phê. Tối tối anh uống cà phê...” hay “ở bên người ấy xin đừng nhớ đến tôi, ở bên cạnh tôi xin đừng làm khổ tôi...”, mấy chiếc xe kẹo kéo, khoai mì luộc hay mở bản nhạc như vầy “Một trái tim khô, một trái tim mùa đông. Trái tim đã nhiều lần, nhiều lần chạy trốn tình yêu. Suốt đời tôi mãi mãi là người đến sau...”, nghe cũng hay hay / Mà hơi mắc cười, tình yêu, ai cũng khoái, sao cha nội nầy đòi chạy trốn ?!” (tr.144). Đây là truyện có nhiều tình tiết éo le, hấp dẫn như truyện hình sự. Truyện xuất sắc nhất trong tập là truyện ngắn có dung lượng tiểu thuyết Cánh đồng bất tận, vốn ít nhiều thể hiện tư tưởng nhân quả của nhà Phật, chị dẫn ngay kinh Phật làm đề từ: “Tôi hiểu biết về Phật giáo không nhiều, vớ được quyển sách nào thì đọc cái ấy. Cũng có điều hiểu được, học được, làm được, nhưng nhiều điều buộc phải “bó tay”. Ví dụ như mấy lời này: “Khi nào bạn bực tức, giận dữ, hãy bất động! Ngay tại đó! Đừng cử động! Đừng làm gì cả! Đừng nói gì – dù chỉ một lời. Hãy yên lặng và bất động hoàn toàn. Tuyệt đối không biết gì đến kẻ hoặc sự việc làm cho mình giận dữ” (Hạn chế sân hận, trải rộng tình thương - Tỳ kheo VISUDDHÀCÀRAZ). Trời ơi, mình giận muốn chết, muốn gào thét, muốn cào cấu, muốn đập phá mà không cho mình nhúc nhích, sao có thể hả hê? Đạt được đạo mới khó làm sao...” (tr. 154).
Ở một truyện khác, truyện Mối tình năm cũ, có lời đề từ ngắn gọn mà sâu sắc: “Chiến tranh, theo tôi hiểu, có nhiều người nhói đau khi nhắc về nó / Những huân chương, huy chương chỉ làm ấm ngực, niềm đau khuất ở một góc lòng, có kẻ nhìn thấy, có người không” (tr.72). Đó là câu chuyện của ông Mười yêu và lấy dì Thấm là vợ liệt sĩ Nguyễn Thọ nổi tiếng trong chiến tranh, vì muốn vợ dứt ra khỏi mối tình năm cũ, ông đã đem bốn mươi chín bức thư tình ra đốt, làm cho đứa con riêng của vợ giận bỏ về nhà ngoại ở, khi đoàn làm phim về liệt sĩ Nguyễn Thọ đến nhà ông không cho vợ tiếp, vì sợ khơi lại chuyện cũ vợ buồn, thế mà mọi người không hiểu, ai cũng trách cứ ông.
Lời đề từ như một ẩn dụ của nội dung câu chuyện. Cũng viết về những số phận sau chiến tranh, trong Biển người mênh mông mỗi người mỗi cảnh ngộ trớ trêu: cha Phi tham gia kháng chiến, mẹ ở nhà bị giặc làm nhục sinh ra Phi, khi cha mẹ đoàn tụ anh trở thành kẻ lạc loài, bỏ học theo đoàn hát, gặp già Sáu Đèo, gần bốn mươi năm đi bán vé số khắp các hang cùng ngõ hẻm, để cố tìm lại người vợ đã bỏ nhà đi, tác giả lại dẫn dắt bằng một lời đề từ khái quát, đau xót hơn, trong nỗi cô đơn đến da diết, riết róng của phận người: “Ngày ngày kẹt giữa đám đông, chen chúc trên những con đường đông nghịt người, nhiều khi tôi giật mình, trời ơi, họ kia, đồng loại mình kia, sao mình lại cô đơn đến rã rời... / Lúc ấy, tôi có một cảm giác kỳ lạ, chỉ mình trên đời này, chỉ một mình... Chẳng ai là tri âm, chẳng ai cả...” (tr.98). Khác với những truyện trước, lời đề từ truyện này như phần mở đầu cho câu chuyện, là một bộ phận của truyện, nếu thiếu nó, truyện mất đi phần mở đầu trong phương thức tự sự của tác giả.
Tương tự, ở Cái nhìn khắc khoải, được mở đầu bằng lời đề từ: “Một ngày khác thường của tuổi hai mươi - tuổi bè bạn, tuổi vui chơi, tôi lùa mười sáu con vịt - một trong những gia tài của má tôi - ra đồng, mưa đầm đìa vào mùa. Tôi thường ngồi ở bờ ruộng, mắt trông chừng bầy vịt, không cho chúng lân la đến những đám mạ muốt xanh, và da diết thèm người, thèm được nói chuyện / Bây giờ, quay quanh tôi bao nhiêu là người, tôi lại thèm cảnh đồng nước vắng tanh...” (tr.48). Những số phận trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, là những con người sống giữa mọi người, không cô đơn nhưng lại cô độc, con người cá thể với những ý thức cá nhân không được đầy đủ. Một ông lão chăn vịt, trước đã từng tham gia chiến tranh, khi trở về vợ đã bị chết vì đạn pháo, sống một mình giữa bầy vịt, nhặt được một người phụ nữ bị chồng bỏ rơi đưa về chăm sóc, rồi tìm nơi chồng cô ta ở để chỉ đường cho cô ta tìm đến, còn mình chỉ ngoái nhìn theo với cái nhìn khắc khoải. Hầu hết những con người trong truyện đều có đời sống nội tâm phong phú, có lương tâm, có nhân phẩm, sống lặng lẽ, không phô bày tâm trạng.
Cũng là những mối tình thầm lặng, kín đáo, nhưng ở Nhà cổ được diễn đạt theo một hướng khác: “Tôi thích những mối tình câm, tình thầm. Tôi tưởng tượng đó là những mối tình da diết, sâu sắc. Mãi mãi chẳng dám nói thật lòng, cho đến cuối đời, tình ấy vẫn bàng bạc, rập rờn, và mỗi khi có dịp (như đi qua chỗ ngồi cũ, con đường cũ, gương mặt cũ...), ta bỗng thấy nhói ran / Chắc là khó chịu lắm, khi yêu mà giả bộ không yêu, khi buồn cố diễn mặt vui, khi đau tình phải tỏ ra vô tình...” (tr. 62). Đó là mối tình giữa anh em Tứ Hải, Tứ Phương với Thể. Phương nhường Thể cho anh, để suốt đời đau khổ, mà không hề hay biết cô hàng xóm Út Nhỏ cũng thầm yêu...
Nhiều truyện, lời đề từ được dẫn dắt một cách dài dòng, như là một câu chuyện bổ sung, tồn tại song song bên cạnh tác phẩm, vừa góp phần làm nổi bật tư tưởng - chủ đề của tác phẩm, vừa như một đoạn trữ tình ngoại đề thổi vào không gian tâm tưởng của người đọc những day dứt khôn nguôi. Trong 22 chương của tiểu thuyêt Paris 11 tháng 8 của Thuận, tác giả người Việt sống tại Pháp, không có chương nào là không sử dụng lời đề từ, cái ngắn nhất là gần một trang sách, có cái dài hơn ba trang sách, nó tạo nên sự dồn nén thông tin, lần giở từng trang sách, người đọc cảm nhận được cái sức nặng của đời sống hiện đại. Nguyễn Ngọc Tư cũng đã làm được điều ấy trên cái nền của đời sống đồng bằng Nam bộ.
Cuối mùa nhan sắc kể về cuộc đời ông Chín Vũ, xuất thân là “công tử Bạc Liêu”, mê cô đào Hồng, bỏ nhà đi theo gánh hát làm chân kéo màn, giờ về già tập trung về nhà dưỡng lão “Buổi chiều”, đi bán vé số kiếm sống vẫn yêu tha thiết đào Hồng – nay đã trở thành bà lão. Trong khi đó đào Hồng lại yêu và có con với một người khác. Truyện có lời đề từ dài kín cả trang sách, là những ý nghĩ hết sức ngộ nghĩnh buộc người ta phải quan tâm: “Hồi nhỏ tôi có nhiều mơ ước kỳ cục lắm. Thí dụ như lớn lên tôi sẽ làm chủ tịch nước, hay lấy một ông già làm... chồng. Già như ông ngoại tôi vậy. Lúc nào cũng chậm rãi, cũng hiền hiền, cũng trầm lặng, cũng tràn đầy bao dung (một ông chồng giống như vậy đáng mong chờ lắm chớ bộ). “Ảnh hưởng” lớn nhất có lẽ vì ông luôn nhặt mấy cây sậy... giập để đánh khi tôi phạm lỗi, và dành cho tôi những con tép, con cua lớn nhất, trong chén luôn đầy ắp phần nạc của thịt, cá... Tôi nhớ, cứ đôi ba ngày, ông ngoại lại cứ nhấp nhổm cồng cồng trên chiếc xe đạp cũ hiện ra chỗ rẽ vào hàng dâm bụt trước nhà tôi. Ông hiện ra với dáng vẻ của một ông tiên không có phép thuật thần kỳ, nghèo, mắc đoạ. Mồ hôi chảy nhễ nhại trên gương mặt già nua, mồ hôi đầm đìa lưng áo, ông phèo phào vừa thở vừa cười nhìn đám cháu xúm xít lục lọi mớ đồ ăn trong giỏ ra. Những trái vú sữa, khế, mãng cầu... không khi nào còn nguyên vẹn do bị dằn xóc trên đoạn đường gần mười cây số nhưng với đám cháu nghèo, đó là tất cả nỗi vui / Những ước mơ ngày xưa như bong bóng lên trời nhiều khi vì lý do lãng xẹt. Lớn lên tôi nhận ra người già quá... nhăn nheo, không được... đẹp (trong khi có nhiều thằng con trai hấp dẫn, trắng trẻo, thẳng thớm phát mủi lòng) / Cũng tiếc lắm chứ, cái tình đằm thắm, sâu lắng của những người già. Hay là tôi thi vị hoá cuộc sống của họ, lo chiến đấu với tuổi tác, bệnh tật mệt muốn bứt gân, hơi đâu mà yêu iếc...?!” (tr. 84).
Nhớ sông viết về ba bố con ông Chín. Vợ chết đuối ở một đoạn sông, ba cha con suốt năm này qua năm khác gắn bó với sông, thương con ông cho đứa lớn lấy chồng lên bờ, nhưng vẫn cứ nhớ sông, đêm không ngủ được, lời đề từ dàn trải như một câu chuyện thứ hai: “Tôi thường đứng trên Gành Hào, nhìn về chợ nổi, ở đó có thể trông thấy một dãy ghe rập rờn xao động cả mặt sông, những cái chân vịt gác chổng lên loang loáng dưới mặt trời / Mỗi chiếc ghe là một ngôi nhà nhỏ, ngang hai mét, dài năm bảy mét. Nhỏ bé, chật hẹp. Nhưng có một cái gì đó thật khác thường, thế giới đó hẹp đến nỗi chỉ vừa để xoay lưng, để nằm co, để cúi người... mà cũng dài cũng rộng vô phương bởi cuộc sống rày đây mai đó, lênh đênh cuối bãi đầu ghềnh / Những chiều tà, chợ nổi đìu hiu bập bềnh đâu hết một vạt áo nắng vàng hoe hoe, đỏ hoe hoe. Những người đàn bà cúi đầu ngó chăm chăm xới nồi cơm dào dạt khói, những người đàn ông xếp bằng ngồi trên mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng đầu những ngón chân cái, phì phà nhả khói lên trời. Những đứa trẻ con ngồi tênh hênh trên mũi ghe câu cá chốt, cá mè. Những cô con gái sau một ngày bán hàng mệt mỏi soi mình xuống sông, chải tóc / Họ chắc cũng từng yêu từng vui từng đau, từng nghe phảng phất niềm thương nhớ đất” (tr.112). Có thể coi đây là một đoạn văn miêu tả đầy đủ nhất về sinh hoạt đời sống của người dân buôn bán trên chợ nổi ở Cà Mau.
Duyên phận So Le viết về nhóm tiếp viên nhà hàng một khu du lịch ở đất Mũi, trong đó diễn ra mối tình giữa cô Xuyến và những người đàn ông chợt đến, chợt đi, tác giả đã có dòng tự sự bổ sung: “Tôi mới gặp lại thằng bạn cũ, cái thằng mỗi khi cười làm tim tôi thút thít thòm thèm. Tốn tới bốn năm, ủa, vậy thì bốn năm đó, chúng tôi chẳng rời xa cái thành phố chật chội này, cớ sao không gặp nhau? / Tôi ngồi ngẫm nghĩ mấy giả thuyết (tất nhiên là trong lúc rảnh), có thể, khi tôi tất tả trên con đường này thì thằng bạn lại đi trên con đường khác; tôi đi chợ mua cá nấu cơm, bạn đang nhậu; tôi thức gần trắng đêm để viết lách kiếm cơm, bạn phải ngủ; khi tôi ngược về vùng sâu vùng xa công tác, bạn được sếp cử đi Sài Gòn... Kẻ xuôi người ngược. Nhưng tôi nghĩ, cũng không loại trừ chúng tôi từng bị mắc trong một vụ kẹt xe, có cách nhau chừng năm ba thước cũng vô phương đối mặt. Hay chúng tôi cùng học, ở, thí dụ như học nghị quyết, chắc là tôi ngồi đằng cuối còn thằng bạn ngồi dãy đầu, tôi lên cầu thang bên này bạn xuống cầu thang bên kia... / Về cái sự chúng tôi không gặp (dù thi thoảng cũng nhớ nhau), có quá nhiều giả thuyết. nhưng, nếu quyết lòng, thì có khó khăn gì để gặp nhau, hở trời?!” (tr.134).
Hiu hiu gió bấc tả mối tình của anh Hết và chị Hoài yêu nhau dữ dội mà không lấy được nhau, do mẹ chị Hoài chê anh Hết nghèo. Anh thầm lặng chôn chặt tình yêu trong lòng. Anh có biết đâu bên cạnh anh còn có chị Hảo, thương anh, chờ đợi anh đến thành gái lỡ thì, tác giả đã có lời đề từ: “Tôi thường đón gió chướng về với một tâm trạng lộn xộn, ngổn ngang. Mừng đó rồi bực đó. Sao tôi lại chờ đợi nó, chẳng phải năm nào cũng vậy, lúc cầm cây chổi ra quét sân, đứng trong gió đầm đìa tôi cũng buồn. Trời ơi, gió này là hết năm đây, già thêm một tuổi đây, mình đã kịp sống gì đâu, tay mình vẫn trắng như vầy... Mỗi lần gió về lại cảm giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được, như ai đó đuổi theo đằng sau, tôi gấp rãi nói, gấp rãi cười, gấp rãi khi ngày bắt đầu rụng xuống... / Cuối mùa gió chướng, trời bỗng lạnh hơn, thêm vào một chút buồn, nó kia, gió bấc! Những đám cưới được tôi cho xuất hiện trên cái nền gió nầy, nhưng chỉ là cái cớ cho buồn thấm hơn, sắc lại trên những mối tình dang dở. Chắc tại gió quá dịu dàng, nên có cảm giác gờn gợn buồn, có cảm giác như gió mồ côi, cúi đầu hiu hắt đi giữa đời. Hay tại tôi đã già, đã nhận ra không mùa vui nào là vui trọn. Đến đám cưới vốn là hỷ sự, tôi cũng “gây sự” để nó phải buồn chút chút. Chỉ có đám trẻ con là không biết, nên mới sướng rơn vỗ tay cười hát “Cô dâu chú rể. Làm bể bình bông. Đổ thừa con nít...” Hà hà, thấy vậy mà không phải vậy đâu, mấy cưng...” (tr. 26).
3. Những lời đề từ mà tôi đã dẫn trên, tuy có nhiều cái dài cả gần trang sách, nhưng tôi vẫn phải dẫn nguyên văn, không lược bỏ một câu chữ nào. Bởi vì mỗi cái có một chỉnh thể riêng không thể chia cắt. Nếu tách mỗi cái riêng ra, có cái hoàn toàn có giá trị như một đoản văn, một tác phẩm nghệ thuật độc lập, hoàn chỉnh. Nó có tính tự đầy đủ để tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất. Trong lời đề từ Nhà cổ có câu mở đầu đáng chú ý: “Tôi thích những mối tình câm, tình thầm” (tr.62). Đó chính là cảm hứng chủ đạo chi phối toàn bộ cốt truyện, tình huống, xây dựng đời sống nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Tình yêu thầm lặng là tình yêu giữa Phương và Thể, Út Nhỏ và Phương (Nhà cổ) giữa ông Hai và cô Út (Cái nhìn khắc khoải), giữa Huệ và Thi (Huệ lấy chồng), giữa Hảo và Hết (Hiu hiu gió bấc), giữa Nga và Văn (Thương quá rau răm), giữa ông Chín Vũ và đào Hồng (Cuối mùa nhan sắc), giữa Năm Già và Xuyến (Duyên phận So Le) và có ít nhiều bản năng theo kiểu hiện sinh như giữa Điền và chị Sương (Cánh đồng bất tận)... Yêu lặng lẽ. Không cần thổ lộ. Những mối tình âm thầm đơn phương, không cần đáp lại, không cần đi đến kết quả cuối cùng. Yêu để mà yêu. Đó mới thật sự là tình yêu đích thực, bền vững ở cõi nhân gian tạm bợ, lắm đổi thay này.
Phương thức biểu hiện sinh động các yếu tố thi pháp hình thức của Nguyễn Ngọc Tư còn thể hiện ở việc miêu tả thiên nhiên, thời tiết như nắng, mưa, bụi, khói... mà nhất là gió, ở ngay chính các lời đề từ. Trong Cánh đồng bất tận không dưới hai mươi lần chị miêu tả các loại gió: gió bấc, gió chướng, gió thốc, gió lùa, gió cười, gió hiu hiu, gió dịu dàng, gió mồ côi, gió đầm đìa,... Thật ít có tác giả nào phổ vào gió nhiều cung bậc đến như vậy. Ngay trong lời đề từ của truyện mở đầu Cải ơi!, chị cũng mở đầu bằng câu hát cửa miệng của người dân Nam bộ: “Gió đưa cây cải về trời”... (tr. 6); mở đầu cho lời đề từ Hiu hiu gió bấc, chị thổ lộ: “Tôi thường đón gió chướng về với một tâm trạng lộn xộn, ngổn ngang”... Gió thổi xuyên suốt tập sách dày mấy trăm trang của chị (ở các trang 6, 26, 36, 61, 71, 120, 136, 158, 191, 198, 202, 208...). Cái không gian đủ các kiểu gió trên vùng sông nước kênh rạch, đồng ruộng ấy, đậm đặc chất liệu của đời sống đồng bằng Nam bộ, nó thổi vào tâm trạng, vào đời sống nội tâm của những con người có tâm hồn trong như ngọc, chất phác, thánh thiện nhưng cũng hết sức bản năng. Những gì hiện ra trên văn bản, trên ngôn từ mà ta thường gọi là hiển ngôn hữu hạn hơn rất nhiều so với sự hàm ngôn, ở tầng sâu hơn, chị có khả năng mở ra những ngóc ngách tận đáy tâm hồn của con người, trong sự đồng hiện, đồng cảm giữa người đọc và thế giới nhân vật. Một trong những thủ pháp nghệ thuật tạo cho chị thành công, đó chính là việc sử dụng nhuần nhuyễn các lời đề từ. Có lẽ nhờ vậy, mà gần đây Cánh đồng bất tận của chị vừa được dịch giả Ha Jae Hong dịch ra tiếng Hàn, được Nhà xuất bản Châu Á (Asia Publishers) cho ra mắt độc giả Hàn Quốc. Đánh giá về sự kiện này, Thời báo Hàn Quốc (Korea Times) đã có bài viết trang trọng giới thiệu về tác giả và tác phẩm, trong đó có đoạn: “Trở thành một nhà văn có sách bán chạy ở tuổi 31 là một kỳ công để nhiều tác giả khác phải thèm muốn. Nhà văn Việt Nam Nguyễn Ngọc Tư -javascript:void(0) người đã “độc chiếm” độc giả ở tuổi 31 - không chỉ bán được khoảng tám mươi ngàn bản cho cuốn sách mới nhất, chị còn được giới thiệu như một giọng văn riêng ăn khách ở đất nước mình...”.[5]
Ở nơi nào chị chưa thấu đáo, chưa thật sự chín hay như có người nói còn ít nhiều bị ảnh hưởng trào lưu này trào lưu khác cũng là điều tất yếu. Nhưng với tôi, sau những bậc trưởng bối đã thành danh không thể thay thế ở Nam bộ trước đây như Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức,... nay tôi mới gặp được một tâm thức, một giọng điệu Nam bộ trong thế hệ trẻ là Nguyễn Ngọc Tư. Ở chị có sự đậm đặc của một giọng điệu văn chương Nam bộ, trong đó có những kế thừa thế hệ trước, nhưng lại là giọng điệu của đời sống hiện đại, không trộn lẫn với bất kỳ ai. Đó là điều đáng quí, cần được khẳng định ở Nguyễn Ngọc Tư.
No comments:
Post a Comment