BÀN ĐỀ
Dương Văn Chung
Bà-con Châu Đốc mình đã một thời thất điên bát đảo vì mê chơi số đề bốn mươi con do một nhóm người Hoa tổ chức. Mỗi số đề biểu tượng bằng một con số, kèm theo là tên một con thú hay tên một vật gì đó, ví dụ số 2 “con ốc”, số 6 “con cọp”, số 8 “con thỏ”, số 21 “con én”, số 35 “con dê”…, tôi không nhớ hết.
“Tổng hành dinh” của Chủ đề, tức là Nhà cái đặt tại đình Đa Phước, ngay tại bến đò ngang Cồn Tiên - Chợ Châu Đốc. Trước cửa “Tổng hành dinh” có dựng một cây tre cao, trên đọt treo một cái hộp, có buộc miếng vải đỏ bay phất phơ trước gió, bà-con đánh đề cho miếng vải đỏ đó là bùa của nhà cái để trù ếm không cho ai đánh trúng.
Mỗi buổi sáng, một người Hoa, gọi là thầy đề hạ cái hộp treo trên đọt tre xuống, để một con số đề vào, đậy và khóa cái hộp lại, rồi rút dây cho cái hộp chạy trở lên đọt tre. Tiếp theo, tên thầy đề cho phát ra những tờ giấy có in hình cảnh hay vật và ghi chú một vài câu nói sàm nào đó, gọi là “ra thai đề”. Người chơi đề xem thai đề để bàn coi đề xổ con gì, gọi là “bàn đề”. Đến xế, thầy đề kéo hộp đề xuống để công bố đề xổ con gì. Đề xổ rồi thì có một số người vui được trúng đề, bao nhiêu người khác tiu nghỉu, mặt buồn như đưa đám.
Đối với giới đánh đề, thầy đề là người quan trọng nhứt, được tôn vinh như một thánh sống, vì chính y là người để con số đề vào hộp, y biết con số đó là số mấy. Gặp thầy đề người ta bu lại yêu cầu y “nói bóng nói gió” hôm nay xổ ra con gì, tức là “ra thai đề”.
Có lần một bà kia hỏi:
-Thầy đề, bữa nay đề xổ con gì?
- Con đĩ ! Thầy đề nói sỗ sàng.
Bà kia không giận, mà còn vui vẻ về khoe với những người quen, rủ nhau bàn xem thầy đề nói con đĩ thì đề sẽ xổ ra con gì, số 2 “con ốc”, số 35 “con dê”…, những con nào có thể dính dấp đến con đĩ. Rốt cuộc hôm đó đề xổ ra con số 21 “con én”. Từ đó về sau, giới chơi đề tự đặt số 21 “ con én” là con đĩ.
Không lúc nào đầu óc người ta không nghĩ đến đề, ăn cũng nói về đề, ngủ cũng mong chiêm bao thấy cái gì để bàn đề.
- Tối ngủ thấy cái gì, sáng cho tao biết nghe mậy !
- Hồi hôm mầy có chiêm bao thấy cái gì không vậy mậy ?
Có người chiêm bao thấy một anh chàng đứng đái bên đường, thiên hạ bàn đánh con tôm. Đề xổ trật lất.
Khi bàn đề, chẳng những nói con đề chánh, mà còn nói con phụ nữa, như đánh con cá đen phải đánh “thối thân” con cá trắng nữa.
Có người đánh hoài một con, nay mua con số 6 “con cọp”, không trúng, mai mua số 6 “con cọp” nữa, không trúng. Cứ tiếp tục mua con số 6 nữa cho đến khi nào đề xổ con cọp mới thôi. Đó là “nuôi đề”. Chừng vài tháng con cọp không xổ chuồng thì chắc tới nước bán nhà.
Thời đó tôi mới nhập học Trường Thủ Khoa Nghĩa, người lớn hay mượn tôi đi đò qua Cồn Tiên mua giùm đề. Hình như chỉ có một chỗ duy nhứt bán đề là nơi “tổng hành dinh”, sau nầy mới có những chi nhánh bán đề, gọi là “huyện đề”. Đi mua đề giùm, nhưng tôi không có đánh đề. Không phải tôi tốt lành gì đâu, chỉ vì một lý do rất đơn giản khiến tôi không đánh đề là học trò nghèo, không có tiền dư. Chớ trong người tôi cũng có máu mê cờ bạc. Nhớ lại, như có lần tôi đã kể cho bạn bè nghe, hồi còn nhỏ tôi cùng với các bạn đánh bài cào ăn hột me, mê cho đến nỗi trong bữa ăn dẻ cá không đứt, kêu mấy bà chị rứt tiếp mà nói:
-Kinh.
Bị ông già trợn mắt :
-Mê dữ đa! Tao kinh cho mầy bây giờ !
Tôi mê bài nên thông cảm với những người mê đề, cũng như thông cảm với ông dượng rễ của tôi mê “đánh con xiệp”, một loại bài tứ sắc, ông biết cờ bạc là khổ, mà ông không bỏ được. Ông viết trên vách nhà một bài tự nhắc nhở mình, ông đọc đi đọc lại mỗi ngày mà vẫn đi đánh bài:
Cờ bạc là bác thằng bần
Phàm nhân bá nghệ hảo tùy thân
Đổ bát môn trung mạc khứ thân
Năng xử anh hùng vi hạ tiện
Giải giao phú quý dịch cơ bần (Câu nầy tôi không nhớ chắc lắm).
Ý nói: Con người có trăm nghề tốt cho bản thân, đừng đi vào nơi cờ bạc, dễ khiến cho người anh hùng làm điều ti tiện, cũng dễ chuyển từ giàu có thành đói nghèo.
Sunday, February 27, 2011
CÂU CHUYỆN VĂN CHƯƠNG
CÂU CHUYỆN VĂN CHƯƠNG
(Một nén tâm hương cho Lưu Nhơn Nghĩa)
Dương Văn Chung
Năm 1955 học hết lớp Đệ Tam tại Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa, tôi lên Sài Gòn, xin vào học lớp Đệ Nhị, Ban Toán ( Ban B) Trường Petrus Ký. Trường trả lời hết chỗ, chỉ còn Ban Văn chương ( Ban C). Tôi đi tìm trường khác. Thầy Ngô Văn Dư lúc bấy giờ là Hiệu Trưởng Trường Thủ Khoa Nghĩa nói tôi cũng khá về văn, tại sao không theo học Ban C.
Tôi chọn Ban B vì những lý do hết sức đơn giản. Trước nhứt là tôi say mê con số, có lúc miệt mài giải những bài toán khó, quên ăn cơm. Thứ hai là nếu giỏi toán mình có thể đạt điểm tối đa dễ dàng trong các kỳ thi, một cộng với một phải bằng hai, không ai có thể nói khác được, còn văn chương thì giám khảo khi chấm bài luôn luôn giữ lại cho mình một phần “điểm của thầy ”, học trò làm sao bằng thầy. Hơn nữa, trăm người trăm ý. Viết một bài văn, có người đọc khen hay, có người chê, không khác gì đầu bếp nấu ăn, làm dâu trăm họ, kẻ nói mặn, người chê lạt. Gặp bà già chồng dễ tánh, đỡ khổ cho nàng dâu, bà già chồng “lựu đạn” thì nhức mình lắm!
Ông Nguyễn Văn Vĩnh có bài thơ rằng:
Gì cũng cười
Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra.
Thí sinh nào gặp thầy giám khảo chấm bài theo kiểu “thủ vĩ ngâm”- thủ là đầu, vĩ là đuôi- thì càng dễ rớt. Nghe nói chấm nhiều bài văn quá, giám khảo mỏi mắt, chỉ đọc phần nhập đề (đầu), nếu thấy hay thì đọc tiếp phần kết luận (đuôi). Nếu kết luận hay nữa thì cho điểm lớn, không cần xem thân bài viết gì. Còn nếu hai phần này lệu ệu thì “xổ toẹt” cả bài.
Ví văn học như là một khu vườn thật rộng, mỗi người viết đứng ở một góc vườn, có cái nhìn cảnh vật khác nhau, viết khác nhau. Người đọc cũng có sở thích riêng, có người thích đọc văn chương bác học, triết lý cao siêu, khó hiểu, có người thích văn chương bình dân, viết những chuyện xãy ra hàng ngày. Trình độ và năng khiếu của mỗi người cũng khác nhau. Nhớ lại lúc còn đi học tại Sài Gòn, tôi cùng với mấy người bạn ở trọ nơi một căn gác, trong đó có một anh là sinh viên Trường Mỹ Thuật Gia Định, đem khoe với chúng tôi một bức họa lập thể của Picasso, một họa sĩ nổi danh thế giới. Anh khen bức họa đáo để, anh nói mỗi chiều của bức tranh đều hiện lên một hình ảnh tuyệt vời. Chúng tôi xoay mãi mà chỉ thấy bức tranh có nhiều màu, nhiều miểng như tấm gạch bông, không thấy hình gì đẹp hết. Số người có con mắt mỹ thuật để xem và thưởng thức được tranh của Picasso như anh bạn sinh viên trường Mỹ Thuật thật là hiếm hoi.
Tôi sợ những bài thi về văn chương của tôi không hợp với ý của giám khảo nên không dám chọn Ban C.
Đến đây, tôi muốn nói một đôi điều tôi biết về anh Lưu Nhơn Nghĩa để chúng ta trong một nhà cũng như bạn bè của anh đừng hiểu lầm về anh.
Trước hết, anh Lưu Nhơn Nghĩa đã chọn lối viết văn chương bình dân, văn chương miệt vườn, tả thật, sinh động, dễ hiểu. Không phải anh muốn chạy theo thị hiếu của đọc giả bình dân mà văn của anh tự nhiên bình dị giống như nếp sống, cách cư xử, y phục của anh. Có lẽ không ai phản bác tôi về nhận xét này ?
Lưu Nhơn Nghĩa viết nhiều về Xà Tón. Có người khuyên anh nên viết truyện gì khác. Trong Những Mãnh vụn Cuộc Đời (Thất sơn Châu đốc-Bút ký) anh nói như muốn khóc:
“ Nhiều người than phiền tôi viết quanh quẩn chuyện Xà Tón, đọc hoài thấy nhàm chán, khuyên tôi đổi đề tài. Tôi bị đuỏi khỏi vùng yên vui tuổi thơ, cuộc sống và kinh nghiệm hiện tại ai cũng biết, Úc, Mỹ, Âu Châu đâu đâu cũng giống nhau nhờ kỹ thuật truyền thông. Khó quá. Tôi không phải nhà văn, chỉ có khả năng của người già chuyện, thấy gì vui buồn thì kể lại, chuyện xứ sở. Kinh nghiệm tôi giới hạn, không phải tôi khiêm nhường, mà là sự thật. Nếu bà con cho phép, tôi hứng gì thì kể nấy, nhớ đâu kể đó những nảnh vụn cuộc đời, xin thề kể đúng, không thêm không bớt những việc chứng kiến.”
Như vậy anh viết về Xà Tón không phải vì anh chỉ biết có một địa phương, một hàng xóm đó, anh đã từng đi học ở Sài Gòn, ở Tân Tây Lan, sống ở Đức, ở Úc…, anh cũng đã từng đi du lịch ở Pháp, Mỹ, Gia Nã Đại…v.v., nhưng bao nhiêu kỷ niệm thời niên thiếu dâng trào trong trí óc của anh, anh phải viết về Xà Tón, không viết anh cảm thấy khó chịu. Điều đáng nói là anh viết như thế nào ? Tiên sinh Lương Thư Trung trong bài bút ký đăng trên Thất sơn Châu đốc “Xà Tón và Nhà văn Lưu Nhơn Nghĩa” có nhận xét: “…người đọc không ngờ có một nhà văn viết về cái vùng khỉ ho cò gáy như Xà Tón quá hấp dẫn như vậy. Một địa danh mà khi nhắc đến tên người ta cứ nghĩ là nó sễ chẳng cho mình một hứng thú nào thì ai mà viết cho nổi những trang văn. Nhưng Lưu Nhơn Nghĩa đã làm được điều mà kẻ có mắt như mù, có tai như điếc, có óc nhưng lười suy nghĩ như tôi chợt tỉnh và thán phục.”
Một điểm nữa là tất cả chúng ta trong đó có Lưu Nhơn Nghĩa, không ai coi Thất sơn Châu đốc như là đất dụng võ, dụng văn, mà coi đó là một cái nhà chung, một nhịp cầu thông cảm để đồng hương Châu đốc và đồng môn Thủ Khoa Nghĩa, Nguyễn Hữu Cảnh có dịp hàn huyên.
Đang nói dài dòng về Lưu Nhơn Nghĩa thì tôi bổng nhột nhạt nhớ tới phận mình, xuất thân từ ban toán mà cũng đèo bòng viết lách. Tôi không phải là nhà văn, viết để bạn bè đọc cho vui, nếu thấy không vui thì đọc qua rồi bỏ. Cũng giống như một đầu bếp nấu cơm dọn sẵn, không bán mà chỉ mời tự tiện dùng, dùng hay không dùng thì cũng tùy nghi.
Thỉnh thoảng tôi cũng có làm thơ con cóc. Tôi không phải là thi sĩ mà chỉ là « thợ thơ” để người đọc giải buồn. Nếu thấy thơ tôi không chỉnh hay lạc vận, xin hoan hỷ coi như là “thơ mới” cho tôi khỏi mang nỗi buồn nặng trĩu trong lòng.
Cau sáu chúng ta chỉ nên chẻ làm ba.
Sydney, tháng 10/2007
(Một nén tâm hương cho Lưu Nhơn Nghĩa)
Dương Văn Chung
Năm 1955 học hết lớp Đệ Tam tại Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa, tôi lên Sài Gòn, xin vào học lớp Đệ Nhị, Ban Toán ( Ban B) Trường Petrus Ký. Trường trả lời hết chỗ, chỉ còn Ban Văn chương ( Ban C). Tôi đi tìm trường khác. Thầy Ngô Văn Dư lúc bấy giờ là Hiệu Trưởng Trường Thủ Khoa Nghĩa nói tôi cũng khá về văn, tại sao không theo học Ban C.
Tôi chọn Ban B vì những lý do hết sức đơn giản. Trước nhứt là tôi say mê con số, có lúc miệt mài giải những bài toán khó, quên ăn cơm. Thứ hai là nếu giỏi toán mình có thể đạt điểm tối đa dễ dàng trong các kỳ thi, một cộng với một phải bằng hai, không ai có thể nói khác được, còn văn chương thì giám khảo khi chấm bài luôn luôn giữ lại cho mình một phần “điểm của thầy ”, học trò làm sao bằng thầy. Hơn nữa, trăm người trăm ý. Viết một bài văn, có người đọc khen hay, có người chê, không khác gì đầu bếp nấu ăn, làm dâu trăm họ, kẻ nói mặn, người chê lạt. Gặp bà già chồng dễ tánh, đỡ khổ cho nàng dâu, bà già chồng “lựu đạn” thì nhức mình lắm!
Ông Nguyễn Văn Vĩnh có bài thơ rằng:
Gì cũng cười
Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra.
Thí sinh nào gặp thầy giám khảo chấm bài theo kiểu “thủ vĩ ngâm”- thủ là đầu, vĩ là đuôi- thì càng dễ rớt. Nghe nói chấm nhiều bài văn quá, giám khảo mỏi mắt, chỉ đọc phần nhập đề (đầu), nếu thấy hay thì đọc tiếp phần kết luận (đuôi). Nếu kết luận hay nữa thì cho điểm lớn, không cần xem thân bài viết gì. Còn nếu hai phần này lệu ệu thì “xổ toẹt” cả bài.
Ví văn học như là một khu vườn thật rộng, mỗi người viết đứng ở một góc vườn, có cái nhìn cảnh vật khác nhau, viết khác nhau. Người đọc cũng có sở thích riêng, có người thích đọc văn chương bác học, triết lý cao siêu, khó hiểu, có người thích văn chương bình dân, viết những chuyện xãy ra hàng ngày. Trình độ và năng khiếu của mỗi người cũng khác nhau. Nhớ lại lúc còn đi học tại Sài Gòn, tôi cùng với mấy người bạn ở trọ nơi một căn gác, trong đó có một anh là sinh viên Trường Mỹ Thuật Gia Định, đem khoe với chúng tôi một bức họa lập thể của Picasso, một họa sĩ nổi danh thế giới. Anh khen bức họa đáo để, anh nói mỗi chiều của bức tranh đều hiện lên một hình ảnh tuyệt vời. Chúng tôi xoay mãi mà chỉ thấy bức tranh có nhiều màu, nhiều miểng như tấm gạch bông, không thấy hình gì đẹp hết. Số người có con mắt mỹ thuật để xem và thưởng thức được tranh của Picasso như anh bạn sinh viên trường Mỹ Thuật thật là hiếm hoi.
Tôi sợ những bài thi về văn chương của tôi không hợp với ý của giám khảo nên không dám chọn Ban C.
Đến đây, tôi muốn nói một đôi điều tôi biết về anh Lưu Nhơn Nghĩa để chúng ta trong một nhà cũng như bạn bè của anh đừng hiểu lầm về anh.
Trước hết, anh Lưu Nhơn Nghĩa đã chọn lối viết văn chương bình dân, văn chương miệt vườn, tả thật, sinh động, dễ hiểu. Không phải anh muốn chạy theo thị hiếu của đọc giả bình dân mà văn của anh tự nhiên bình dị giống như nếp sống, cách cư xử, y phục của anh. Có lẽ không ai phản bác tôi về nhận xét này ?
Lưu Nhơn Nghĩa viết nhiều về Xà Tón. Có người khuyên anh nên viết truyện gì khác. Trong Những Mãnh vụn Cuộc Đời (Thất sơn Châu đốc-Bút ký) anh nói như muốn khóc:
“ Nhiều người than phiền tôi viết quanh quẩn chuyện Xà Tón, đọc hoài thấy nhàm chán, khuyên tôi đổi đề tài. Tôi bị đuỏi khỏi vùng yên vui tuổi thơ, cuộc sống và kinh nghiệm hiện tại ai cũng biết, Úc, Mỹ, Âu Châu đâu đâu cũng giống nhau nhờ kỹ thuật truyền thông. Khó quá. Tôi không phải nhà văn, chỉ có khả năng của người già chuyện, thấy gì vui buồn thì kể lại, chuyện xứ sở. Kinh nghiệm tôi giới hạn, không phải tôi khiêm nhường, mà là sự thật. Nếu bà con cho phép, tôi hứng gì thì kể nấy, nhớ đâu kể đó những nảnh vụn cuộc đời, xin thề kể đúng, không thêm không bớt những việc chứng kiến.”
Như vậy anh viết về Xà Tón không phải vì anh chỉ biết có một địa phương, một hàng xóm đó, anh đã từng đi học ở Sài Gòn, ở Tân Tây Lan, sống ở Đức, ở Úc…, anh cũng đã từng đi du lịch ở Pháp, Mỹ, Gia Nã Đại…v.v., nhưng bao nhiêu kỷ niệm thời niên thiếu dâng trào trong trí óc của anh, anh phải viết về Xà Tón, không viết anh cảm thấy khó chịu. Điều đáng nói là anh viết như thế nào ? Tiên sinh Lương Thư Trung trong bài bút ký đăng trên Thất sơn Châu đốc “Xà Tón và Nhà văn Lưu Nhơn Nghĩa” có nhận xét: “…người đọc không ngờ có một nhà văn viết về cái vùng khỉ ho cò gáy như Xà Tón quá hấp dẫn như vậy. Một địa danh mà khi nhắc đến tên người ta cứ nghĩ là nó sễ chẳng cho mình một hứng thú nào thì ai mà viết cho nổi những trang văn. Nhưng Lưu Nhơn Nghĩa đã làm được điều mà kẻ có mắt như mù, có tai như điếc, có óc nhưng lười suy nghĩ như tôi chợt tỉnh và thán phục.”
Một điểm nữa là tất cả chúng ta trong đó có Lưu Nhơn Nghĩa, không ai coi Thất sơn Châu đốc như là đất dụng võ, dụng văn, mà coi đó là một cái nhà chung, một nhịp cầu thông cảm để đồng hương Châu đốc và đồng môn Thủ Khoa Nghĩa, Nguyễn Hữu Cảnh có dịp hàn huyên.
Đang nói dài dòng về Lưu Nhơn Nghĩa thì tôi bổng nhột nhạt nhớ tới phận mình, xuất thân từ ban toán mà cũng đèo bòng viết lách. Tôi không phải là nhà văn, viết để bạn bè đọc cho vui, nếu thấy không vui thì đọc qua rồi bỏ. Cũng giống như một đầu bếp nấu cơm dọn sẵn, không bán mà chỉ mời tự tiện dùng, dùng hay không dùng thì cũng tùy nghi.
Thỉnh thoảng tôi cũng có làm thơ con cóc. Tôi không phải là thi sĩ mà chỉ là « thợ thơ” để người đọc giải buồn. Nếu thấy thơ tôi không chỉnh hay lạc vận, xin hoan hỷ coi như là “thơ mới” cho tôi khỏi mang nỗi buồn nặng trĩu trong lòng.
Cau sáu chúng ta chỉ nên chẻ làm ba.
Sydney, tháng 10/2007
NHỮNG CON THÚ VÀ HOA
NHỮNG CON THÚ VÀ HOA
BIỂU TƯỢNG NƯỚC ÚC ÐẠI LỢI
Dương Văn Chung
Những người thổ dân xuất phát từ vùng Đông Nam Á châu đã đến định cư ở Úc khoảng 40.000 năm trước khi người Âu châu khám phá ra vùng đất nầy vào thế kỷ thứ 17. Đến năm 1770, Thuyền trưởng James Cook nhân danh Anh quốc chiếm hữu 6 vùng của Úc châu, lập thành 6 thuộc địa riêng lẻ trong những thế kỷ 18 và 19. Đến năm 1901 mới thành lập Chánh phủ Liên bang, gom chung 6 Tiểu bang lại thành Cộng đồng Liên bang Úc châu. Tuy nhiên mỗi Tiểu bang có quyền tự trị.
Nước Úc có nhiều chim muông, thú rừng và hoa. Quốc huy của nước Úc có từ lúc thành lập Chánh phủ Liên bang năm 1901, lấy thú và hoa làm biểu tượng. Thú gồm có con Kangaroo, tức là con đại thử và con emu hay là con đà điểu. Loại hoa wattle làm nền. Trên quốc huy còn có một bảng huy hiệu của 6 Tiểu bang trong Cộng đồng Liên bang Úc Đại Lợi là New South Wales, Victoria, Queensland, Westwern Australia, South Australia, Tasmania. Giềng chung quanh bảng huy hiệu tượng trưng cho sự đoàn kết của các Tiểu bang. Ngôi sao Liên bang nằm trên cùng và một băng chữ Úc Đại Lợi nằm dưới cùng của quốc huy. Hai Vùng lãnh thổ có tư cách tự trị, tương đương với Tiểu bang la thủ đô Canberra và Northern Territory (thủ phủ là Darwin), mới thành lập sau nầy nên không có trong bảng quốc huy nước Úc.
Mỗi Tiểu bang và Vùng lãnh thổ chọn một thứ hoa làm biểu tượng :
• New South Wales : hoa Waratah
• Victoria: hoa Pink heath
• Queensland: hoa Cooktown Orchid
• Western Australia: hoa Mangles Kangaroo Paw
• South Australia: hoa Sturt’s Desert Pea
• Tasmania: hoa Tasmanian Blue Gum
• Canberra: hoa Royal Bluebell
• Northern Territory: hoa Sturt’s Desert Rose
I. NHỮNG CON THÚ BIỂU TƯỢNG
Như trên đã trình bày, hai loại thú biểu tượng trên quốc huy Úc Đại Lợi là Kangaroo và Emu. Nhưng ở Úc có một loại thú khác, rất phổ biến, cùng một họ với Kangaroo, nếu không nói đến e rằng thiếu sót. Đó là con Koala, sẽ được đề cập sau phần trinh bày về con Kangaroo.
• Kangaroo: Là loài thú có vú (mammal) và có túi đãy (marsupial) ở Úc và các hải đảo lân cận. Kangaroo sanh con và mang con trong một cái túi đãy trước bụng. Có hơn 50 loại kangaroo, hai chủng loại lớn và nhỏ. Loại lớn thuộc họ Macropodidae, có kangaroo đỏ và kangaroo xám cao đến 2 mét và nặng đến 85 kg và loại nhỏ hơn thuộc họ Potoroidae, có loại kangaroo rat (chuột kangaroo), thân dài khoảng 30 cm. Có những con kangaroo khổng lồ cao tới 3 mét và nặng 200 kg.
Theo chứng tích từ những bộ xương hóa thạch, những con kangaroo đầu tiên đã xuất hiện tại Úc cách đây khoảng 15 triệu năm.
Về hình trạng, hầu hết kangaroo có tai lớn và đầu tương đối nhỏ, chân trước nhỏ có 5 ngón, chân sau dài có 4 ngón. Mỗi ngón chân sau có móng rất bén nhọn để tự vệ. Chân sau có thể dài gấp mười lần chân trước. Khi di chuyển chậm, kangaroo sử dụng cả 4 chân. Khi cần phóng nhanh, chúng đứng lên, chỉ dùng 2 chân sau để nhảy phóng như nhảy cò cò (hoping). Đối với kangaroo lớn, một cái nhảy của nó có thể xa đến 5 mét và tốc độ di chuyển của kangaroo có thể vượt quá 50 km/giờ. Cái đuôi của kangaroo cũng rất quan trọng, dùng làm bánh lái cũng như tăng lực phóng khi di chuyển.
Một kangaroo cái mỗi lần có thai chỉ sanh một con kangaroo con. Kangaroo chuột có thể sanh 2 con. Kangaroo con rất nhỏ, chỉ nặng khoảng 1 g, bò trên thân mẹ, chung vào túi đãy trước bụng mẹ để bú và để được bảo vệ an toàn cho đến hơn một năm mới rời khỏi bụng mẹ, sống tự túc. Một con Kangaroo loại lớn có thể sống thọ đến 20-30 năm, các con loại nhỏ thì đời sống ngắn ngủi hơn.
Kangaroo ăn cây cỏ. Những kangaroo loại nhỏ như kangaroo chuột cũng có thể ăn cả sâu bọ, những thú vật chết.
Kangaroo đỏ và xám có thể sống thành từng nhóm độ 10 con hay đông hơn, có đực có cái. Con đực được phân cấp, căn cứ theo tuổi tác và thể lực, con nào già nhứt và mạnh khỏe nhứt được coi là trưởng thượng, được đặc quyền làm tình với những con cái. Thường thì đặc quyền nầy chỉ kéo dài khoảng một năm thì có con đực khác, trẻ hơn và mạnh khỏe hơn, buộc con già phải nhường vị thế tối cao nầy. Sau đó con kangaroo già chết đi.
Kangaroo nhờ có móng vuốt, chân cẳng và đuôi khỏe mạnh, đánh lộn rất giỏi, như đấu võ đài.
Ở Úc chạy xe đường trường dễ gặp kangaroo bất ngờ băng qua lộ, gây ra tai nạn giao thông.
Cho nên trên đường chạy ngang bìa rừng thường có dấu hiệu kangaroo băng qua lộ để cảnh báo tài xế.
• Koala
Còn có tên là Koala gấu. Sự thật nó không phải là gấu. Koala cũng là loài thú có vú và có túi đãy để mang con như kangaroo. Koala có lông mao mềm dầy, màu xám hoặc màu nâu
Koala ở miền nam nước Úc lạnh lẽo có lông dầy hơn Koala ở miền bắc ấm áp. Mũi của koala lớn, không có lông, tai tròn, thân dài từ 64 đến 76 cm, tay chân có ngón dài với móng vuốt cứng và nhọn, giúp cho chúng leo trèo được dễ dàng.
Hầu hết koala đều lặng thinh, chúng trò chuyện với nhau bằng một thứ âm thanh nghe giống như tiếng ngáy lớn.
Koala ăn lá và mầm non của độ 20 loại cây khuynh diệp trong số khoảng 600 loại hiện có tại Úc.
Koala gần như lúc nào cũng đeo những nhánh cây mà sống, ngủ gần suốt ngày, ban đêm chuyền từ cây nầy sang cây khác. Koala phải tốn hao nhiều năng lượng để tiêu hóa những lá khuynh diệp vốn đã khó tiêu. Do đó nó phải ngủ thật nhiều để tái tạo năng lượng cần thiết.
Koala ít uống nước, nó sống nhờ chất nước trong lá khuynh diệp. Danh từ « koala » theo tiếng thổ dân có nghĩa là « không uống ».
Koala mang thai độ 35 ngày thì sanh một koala con, nặng không tới 1 g , chẳng khác gì con chuột con, đỏ hỏn, mắt nhắm, không có tai. Điều kỳ diệu, cũng như ở kangaroo, là koala con tự bò lên mình mẹ, tìm cách chung vào cái túi đãy trước bụng mẹ để bú sữa, koala mẹ vận động bắp thịt để khép bớt miệng túi đãy lại để con không rớt ra ngoài. Trong khoảng thời gian koala con được trên 20 tuần đến 30 tuần tuổi, koala mẹ tập cho con ăn một hỗn hợp sền sệt, gồm có thức ăn nhai nát trộn với phân của con koala mẹ trong đó có chứa chất khuynh diệp độc hại đối với hầu hết loài vật có vú. Sau sáu bảy tháng, koala con có thể leo ra khỏi túi đãy, bò trên mình koala mẹ, và khi cần thì trở vào túi đãy để bú sữa. Khi được một tuổi koala con có thể rời mẹ để mẹ rảnh rang chuẩn bị cho lần mang thai tới.
• Emu
Emu còn gọi là đà điểu, là loài chim chạy (ratite) lớn nhứt ở Úc, sống rải rác khắp nơi, một số sống ở sa mạc. Đà điểu có lông vũ màu nâu, nhưng không bay được vì cánh ngắn và xương ức của chúng không đủ mạnh. Nhờ có chân rất dài (mỗi chân có 3 ngón) và mạnh, chúng chạy thật nhanh lên đến 50 km/giờ.
Đà điểu là loài chim đặc biệt, duy nhứt có lông kép, hai lông dính lại ở phần gốc. Cổ của chúng chỉ có lông măng. Mỏ rộng và mềm.
Đà điểu vừa ăn cây cỏ vừa ăn thịt sống. Cái mề của con đà điểu nghiền nát thức ăn. Đà điểu nuốt một khối lượng lớn đá sỏi để giúp nghiền nát thức ăn ở trong mề.
Bộ cánh ngắn của đà điểu giúp chúng mát mẻ trong lúc nóng nực. Chúng nó có thể dang cánh ra để cho không khí lưu thông chung quanh cơ thể.
Đà điểu mái đẻ trứng, rồi đi chỗ khác để dồn nhiều trứng lại cho con trống ấp. Con trống ấp khoảng 8 tuần thì đà điểu con nở. Đà điểu con có lông màu kem với những sọc đen chạy dài từ đầu xuống đến đuôi. Lúc đó con trống không rời ổ và ăn ít. Đà điểu con sống với đà điểu trống cho đến 18 tháng. Đà điểu mái nghỉ ngơi, phục hồi sinh lực để cùng với một con trống khác sanh con đẻ cái.
II. NHŨNG LOÀI HOA BIỂU TƯỢNG:
• Wattle (làm nền của quốc huy)
Tên khoa học là Acacia pycnantha, thuộc họ Mimosaceae, lá xanh, bông vàng, hình cầu, kết thành chùm ( là loại hoa mi-mô-sa ở Việt Nam).Người Úc rất thích loài hoa nầy. Hiệp Hội Wattle do Archibald Campbell thành lập năm 1899 tại Tiểu bang Victoria đã phát động ngày lễ hội hoa Wattle trong tháng 9 hàng năm nhằm khích lệ công nhận đó là loại hoa biểu tượng nước Úc, vì khối lượng hoa Wattle không có nước nào nhiều bằng nước Úc.
Ngày 01/09/1988, nhân ngày Kỷ niệm 200 năm người Anh đến định cư ở Úc, Acacia pycnantha được công nhận là hoa biểu tượng cho quốc gia. Ngày đó Thủ Tướng phu nhân, Bà Hazel Hawke, trồng một cây Wattle Vàng (Golden Wattle) trong vườn Australian National Botanic Gardens.
Bốn năm sau đó, 1992, Bộ Môi Sinh Liên bang Úc chánh thức tuyên bố ngày 1 tháng 9 hàng năm là “Ngày lễ hội hoa Wattle của nước Úc”.
• Waratah ( Biểu tượng Tiểu bang NSW)
Hoa màu đỏ, đường kính từ 7 tới 10 cm, cành hoa dài tạo thành bụi cao tới 4 mét, lá xanh đậm, dài từ 13 đến 15 cm, tên khoa học là Telopea speciosissima, phát sinh từ tiếng Hy Lạp “Telopos”, có nghĩa “ nhìn thấy từ xa” và speciosissima do tỉnh từ La tinh “specious” là “đẹp đẽ”. Telopia thuộc họ Proteaceae.
Waratah được nhận là biểu tượng của Tiểu bang NSW vào ngày 24/10/1962.
• Pink Heath ( Biểu tượng Tiểu bang Victoria )
Bụi hoa cao độ 1 mét, lá dài từ 4 đến 16 mm. Hoa màu hồng, hình cái chuông dài 25 mm, tên khoa học là Epacris impressa, thuộc họ Epacridaceae. Epacris do tiếng Hy Lạp “epi” có nghĩa là “upon” ở trên và “akris”có nghĩa là “ngọn đồi”, chữ “impressa” do tiếng La tinh “impressed” hay “indented” mang ý nghĩa “chen kẻ” cứ 5 hoa mọc thẳng hàng trên cành hoa, rồi 5 hoa khác mọc thẳng hàng tiếp theo ở phía bên kia của cành hoa.
Victoria là Tiểu bang tiên phong chọn một loài hoa làm biểu tượng vào ngày 11/11/1958 và loài hoa đó là Pink Heath.
• Cooktown Orchid ( Biểu tượng Tiểu bang Queensland)
Là loại hoa lan, có tên khoa học là Dendrobium bigibbum. Dendrobium do tiếng Hy Lạp “dendron” có nghĩa là “cây” và “bios là “đời sống”. Tên đặc biệt của nó là phalaenopsis, gốc từ tiếng Hy Lạp “phalaina” là “sâu bướm”, vì hình dáng của hoa rất giống sâu bướm, màu hồng sậm. Cooktown là tên một địa danh miền Bắc Queensland có con sông Endeavour, nơi mà thuyền trưởng Cook của Anh Quốc vào năm 1770 đã có dịp ngừng lại để sửa tàu. Ven bờ sông nầy có nhiều Cooktown orchid mọc.
Loại lan nầy dễ trồng, rất hợp với phong thổ Queensland, nên được chọn làm biểu tượng của Tiểu bang ngày 19/11/1959.
• Mangles Kangaroo Paw ( Biểu tượng Tiểu bang Western Australia)
Có tên khoa học là Anigozanthos manglesii, thuộc họ Haemodoraceae.
Anigozanthos có thể do từ Hy Lạp “Anises”, có nghĩa là “không đều” hay là “xiên xéo” và “anthos” nghĩa là “hoa”, ám chỉ phần cuối của hoa gồm 6 cánh không bằng nhau. Còn manglesii là để vinh danh Robert Mangles, người đã thí nghiệm gieo trồng loại hoa nầy trong khu vườn của ông ở Anh quốc.
Tên thường gọi, Kangaroo Paw vì hoa nầy rất giống bàn chân của Kangaroo.
Hoa màu xanh lục, nền màu đỏ, được nhận làm biểu tượng của Tiểu bang Tây Úc vào ngày 9/11/1960.
• Sturt’s Desert Pea (Biểu tượng Tiểu bang South Australia)
Tên khoa học là Swainsona formosa, thuộc họ Fabaceae. Là một loại dây bò dưới đất, có bông dài khoảng 9 cm, màu đỏ thắm, kết từng chùm từ 6 đến 8 cái trên một nhánh ngắn và thẳng đứng. Trên mỗi cánh hoa có nổi phồng lên một cái mụt màu đen bóng, trông giống hột đậu.
Thuyền Trưởng Charles Sturt (1795-1869) phát hiện loại hoa nầy vào năm 1844 trong chuyến đi thám hiểm giữa Adelaide (South Australia) đến miền trung bộ nước Úc.
Tên Swainsona để vinh danh Isaac Swainson người đã bảo quản Vườn bách thảo tư Twickenham gần London vào khoảng năm 1789. Và Formosa , từ La Tinh, có nghĩa là đẹp.
Sturt’s Desert Pea được chọn làm biểu tượng của Tiểu bang Nam Úc vào ngày 23/11/1961.
• Tasmania Blue Gum (Biểu tượng Tiểu bang Tasmania)
Tên khoa học là Eucalyptus globulus, thuộc họ Myrtaceae, do nhà thực vật học người Pháp, Jacques-Julien Houton de Labillardiere (1755-1834), là người đầu tiên tìm thấy ở bờ biển đông nam đảo Tasmania khoảng năm 1792-93. Đó là một trong số trên dưới 800 loại cây khuynh diệp tại Úc. Cây Tasmanian Blue Gum có thể cao tới 70 mét và đường kính của thân cây có thể tới 2 mét, lá xanh, bông hình cầu (globulus), trắng ngà.
Tasmanian Blue Gum được chọn làm biểu tượng của Tiểu bang Tasmania vào ngày 27/11/1962.
• Royal Bluebell (Biểu tượng thủ đô Canberra)
Tên khoa học là Wahlenbergia gloriosa, thuộc họ Campanulaceae.
Wahlenbergia là tên do nhà thực vật học người Đức, Heinrich Schrader, đặt ra để vinh danh Georg Goran Wahlenberg (1780-1851), Giáo sư Thực Vật ở Uppsala, Thụy Điển. Từ La Tinh Gloriosa có nghĩa là “glorious”, rực rỡ, lộng lẫy. Hoa hình ngôi sao 5 cánh, đường kính 2-3 cm, màu tím xanh, lợt dần về phía nhụy.
Royal Blue Bell được chọn làm biểu tượng của thủ đô Canberra (ACT, Australian Capital Territory) vào ngày 26/05/1982.
• Sturt’s Desert Rose (Biểu tượng Northern Territory)
Tên khoa học là Gossypium sturtianum, thuộc họ Malvaceaeae. Còn có tên Darling River Rose, Cotton Rosebush và Australian Cotton. Gossypium xuất phát từ tiếng La Tinh “gossypion”, cây bông vải. Sturtianum để vinh danh thuyền trưởng Charles Sturt (1795-1869) đã tìm thấy loại hoa nầy trong chuyến đi đến miền trung bộ nước Úc những năm 1844-45.
Bụi hoa Sturt’s Desert Rose cao từ 1 mét đến 2 mét.
Lá màu xanh đậm., hình bầu dục, dài độ 5 cm. Cánh hoa dài 5 cm màu hoa cà, đài hoa đỏ. Nhụy hoa (trái) dài 1 cm, gồm nhiều hột nhỏ có lông tơ.
Sturt’s Desert Rose được chọn làm biểu tượng cho Vùng Lãnh thổ Bắc Úc vào ngày 12/07/1961.
BIỂU TƯỢNG NƯỚC ÚC ÐẠI LỢI
Dương Văn Chung
Những người thổ dân xuất phát từ vùng Đông Nam Á châu đã đến định cư ở Úc khoảng 40.000 năm trước khi người Âu châu khám phá ra vùng đất nầy vào thế kỷ thứ 17. Đến năm 1770, Thuyền trưởng James Cook nhân danh Anh quốc chiếm hữu 6 vùng của Úc châu, lập thành 6 thuộc địa riêng lẻ trong những thế kỷ 18 và 19. Đến năm 1901 mới thành lập Chánh phủ Liên bang, gom chung 6 Tiểu bang lại thành Cộng đồng Liên bang Úc châu. Tuy nhiên mỗi Tiểu bang có quyền tự trị.
Nước Úc có nhiều chim muông, thú rừng và hoa. Quốc huy của nước Úc có từ lúc thành lập Chánh phủ Liên bang năm 1901, lấy thú và hoa làm biểu tượng. Thú gồm có con Kangaroo, tức là con đại thử và con emu hay là con đà điểu. Loại hoa wattle làm nền. Trên quốc huy còn có một bảng huy hiệu của 6 Tiểu bang trong Cộng đồng Liên bang Úc Đại Lợi là New South Wales, Victoria, Queensland, Westwern Australia, South Australia, Tasmania. Giềng chung quanh bảng huy hiệu tượng trưng cho sự đoàn kết của các Tiểu bang. Ngôi sao Liên bang nằm trên cùng và một băng chữ Úc Đại Lợi nằm dưới cùng của quốc huy. Hai Vùng lãnh thổ có tư cách tự trị, tương đương với Tiểu bang la thủ đô Canberra và Northern Territory (thủ phủ là Darwin), mới thành lập sau nầy nên không có trong bảng quốc huy nước Úc.
Mỗi Tiểu bang và Vùng lãnh thổ chọn một thứ hoa làm biểu tượng :
• New South Wales : hoa Waratah
• Victoria: hoa Pink heath
• Queensland: hoa Cooktown Orchid
• Western Australia: hoa Mangles Kangaroo Paw
• South Australia: hoa Sturt’s Desert Pea
• Tasmania: hoa Tasmanian Blue Gum
• Canberra: hoa Royal Bluebell
• Northern Territory: hoa Sturt’s Desert Rose
I. NHỮNG CON THÚ BIỂU TƯỢNG
Như trên đã trình bày, hai loại thú biểu tượng trên quốc huy Úc Đại Lợi là Kangaroo và Emu. Nhưng ở Úc có một loại thú khác, rất phổ biến, cùng một họ với Kangaroo, nếu không nói đến e rằng thiếu sót. Đó là con Koala, sẽ được đề cập sau phần trinh bày về con Kangaroo.
• Kangaroo: Là loài thú có vú (mammal) và có túi đãy (marsupial) ở Úc và các hải đảo lân cận. Kangaroo sanh con và mang con trong một cái túi đãy trước bụng. Có hơn 50 loại kangaroo, hai chủng loại lớn và nhỏ. Loại lớn thuộc họ Macropodidae, có kangaroo đỏ và kangaroo xám cao đến 2 mét và nặng đến 85 kg và loại nhỏ hơn thuộc họ Potoroidae, có loại kangaroo rat (chuột kangaroo), thân dài khoảng 30 cm. Có những con kangaroo khổng lồ cao tới 3 mét và nặng 200 kg.
Theo chứng tích từ những bộ xương hóa thạch, những con kangaroo đầu tiên đã xuất hiện tại Úc cách đây khoảng 15 triệu năm.
Về hình trạng, hầu hết kangaroo có tai lớn và đầu tương đối nhỏ, chân trước nhỏ có 5 ngón, chân sau dài có 4 ngón. Mỗi ngón chân sau có móng rất bén nhọn để tự vệ. Chân sau có thể dài gấp mười lần chân trước. Khi di chuyển chậm, kangaroo sử dụng cả 4 chân. Khi cần phóng nhanh, chúng đứng lên, chỉ dùng 2 chân sau để nhảy phóng như nhảy cò cò (hoping). Đối với kangaroo lớn, một cái nhảy của nó có thể xa đến 5 mét và tốc độ di chuyển của kangaroo có thể vượt quá 50 km/giờ. Cái đuôi của kangaroo cũng rất quan trọng, dùng làm bánh lái cũng như tăng lực phóng khi di chuyển.
Một kangaroo cái mỗi lần có thai chỉ sanh một con kangaroo con. Kangaroo chuột có thể sanh 2 con. Kangaroo con rất nhỏ, chỉ nặng khoảng 1 g, bò trên thân mẹ, chung vào túi đãy trước bụng mẹ để bú và để được bảo vệ an toàn cho đến hơn một năm mới rời khỏi bụng mẹ, sống tự túc. Một con Kangaroo loại lớn có thể sống thọ đến 20-30 năm, các con loại nhỏ thì đời sống ngắn ngủi hơn.
Kangaroo ăn cây cỏ. Những kangaroo loại nhỏ như kangaroo chuột cũng có thể ăn cả sâu bọ, những thú vật chết.
Kangaroo đỏ và xám có thể sống thành từng nhóm độ 10 con hay đông hơn, có đực có cái. Con đực được phân cấp, căn cứ theo tuổi tác và thể lực, con nào già nhứt và mạnh khỏe nhứt được coi là trưởng thượng, được đặc quyền làm tình với những con cái. Thường thì đặc quyền nầy chỉ kéo dài khoảng một năm thì có con đực khác, trẻ hơn và mạnh khỏe hơn, buộc con già phải nhường vị thế tối cao nầy. Sau đó con kangaroo già chết đi.
Kangaroo nhờ có móng vuốt, chân cẳng và đuôi khỏe mạnh, đánh lộn rất giỏi, như đấu võ đài.
Ở Úc chạy xe đường trường dễ gặp kangaroo bất ngờ băng qua lộ, gây ra tai nạn giao thông.
Cho nên trên đường chạy ngang bìa rừng thường có dấu hiệu kangaroo băng qua lộ để cảnh báo tài xế.
• Koala
Còn có tên là Koala gấu. Sự thật nó không phải là gấu. Koala cũng là loài thú có vú và có túi đãy để mang con như kangaroo. Koala có lông mao mềm dầy, màu xám hoặc màu nâu
Koala ở miền nam nước Úc lạnh lẽo có lông dầy hơn Koala ở miền bắc ấm áp. Mũi của koala lớn, không có lông, tai tròn, thân dài từ 64 đến 76 cm, tay chân có ngón dài với móng vuốt cứng và nhọn, giúp cho chúng leo trèo được dễ dàng.
Hầu hết koala đều lặng thinh, chúng trò chuyện với nhau bằng một thứ âm thanh nghe giống như tiếng ngáy lớn.
Koala ăn lá và mầm non của độ 20 loại cây khuynh diệp trong số khoảng 600 loại hiện có tại Úc.
Koala gần như lúc nào cũng đeo những nhánh cây mà sống, ngủ gần suốt ngày, ban đêm chuyền từ cây nầy sang cây khác. Koala phải tốn hao nhiều năng lượng để tiêu hóa những lá khuynh diệp vốn đã khó tiêu. Do đó nó phải ngủ thật nhiều để tái tạo năng lượng cần thiết.
Koala ít uống nước, nó sống nhờ chất nước trong lá khuynh diệp. Danh từ « koala » theo tiếng thổ dân có nghĩa là « không uống ».
Koala mang thai độ 35 ngày thì sanh một koala con, nặng không tới 1 g , chẳng khác gì con chuột con, đỏ hỏn, mắt nhắm, không có tai. Điều kỳ diệu, cũng như ở kangaroo, là koala con tự bò lên mình mẹ, tìm cách chung vào cái túi đãy trước bụng mẹ để bú sữa, koala mẹ vận động bắp thịt để khép bớt miệng túi đãy lại để con không rớt ra ngoài. Trong khoảng thời gian koala con được trên 20 tuần đến 30 tuần tuổi, koala mẹ tập cho con ăn một hỗn hợp sền sệt, gồm có thức ăn nhai nát trộn với phân của con koala mẹ trong đó có chứa chất khuynh diệp độc hại đối với hầu hết loài vật có vú. Sau sáu bảy tháng, koala con có thể leo ra khỏi túi đãy, bò trên mình koala mẹ, và khi cần thì trở vào túi đãy để bú sữa. Khi được một tuổi koala con có thể rời mẹ để mẹ rảnh rang chuẩn bị cho lần mang thai tới.
• Emu
Emu còn gọi là đà điểu, là loài chim chạy (ratite) lớn nhứt ở Úc, sống rải rác khắp nơi, một số sống ở sa mạc. Đà điểu có lông vũ màu nâu, nhưng không bay được vì cánh ngắn và xương ức của chúng không đủ mạnh. Nhờ có chân rất dài (mỗi chân có 3 ngón) và mạnh, chúng chạy thật nhanh lên đến 50 km/giờ.
Đà điểu là loài chim đặc biệt, duy nhứt có lông kép, hai lông dính lại ở phần gốc. Cổ của chúng chỉ có lông măng. Mỏ rộng và mềm.
Đà điểu vừa ăn cây cỏ vừa ăn thịt sống. Cái mề của con đà điểu nghiền nát thức ăn. Đà điểu nuốt một khối lượng lớn đá sỏi để giúp nghiền nát thức ăn ở trong mề.
Bộ cánh ngắn của đà điểu giúp chúng mát mẻ trong lúc nóng nực. Chúng nó có thể dang cánh ra để cho không khí lưu thông chung quanh cơ thể.
Đà điểu mái đẻ trứng, rồi đi chỗ khác để dồn nhiều trứng lại cho con trống ấp. Con trống ấp khoảng 8 tuần thì đà điểu con nở. Đà điểu con có lông màu kem với những sọc đen chạy dài từ đầu xuống đến đuôi. Lúc đó con trống không rời ổ và ăn ít. Đà điểu con sống với đà điểu trống cho đến 18 tháng. Đà điểu mái nghỉ ngơi, phục hồi sinh lực để cùng với một con trống khác sanh con đẻ cái.
II. NHŨNG LOÀI HOA BIỂU TƯỢNG:
• Wattle (làm nền của quốc huy)
Tên khoa học là Acacia pycnantha, thuộc họ Mimosaceae, lá xanh, bông vàng, hình cầu, kết thành chùm ( là loại hoa mi-mô-sa ở Việt Nam).Người Úc rất thích loài hoa nầy. Hiệp Hội Wattle do Archibald Campbell thành lập năm 1899 tại Tiểu bang Victoria đã phát động ngày lễ hội hoa Wattle trong tháng 9 hàng năm nhằm khích lệ công nhận đó là loại hoa biểu tượng nước Úc, vì khối lượng hoa Wattle không có nước nào nhiều bằng nước Úc.
Ngày 01/09/1988, nhân ngày Kỷ niệm 200 năm người Anh đến định cư ở Úc, Acacia pycnantha được công nhận là hoa biểu tượng cho quốc gia. Ngày đó Thủ Tướng phu nhân, Bà Hazel Hawke, trồng một cây Wattle Vàng (Golden Wattle) trong vườn Australian National Botanic Gardens.
Bốn năm sau đó, 1992, Bộ Môi Sinh Liên bang Úc chánh thức tuyên bố ngày 1 tháng 9 hàng năm là “Ngày lễ hội hoa Wattle của nước Úc”.
• Waratah ( Biểu tượng Tiểu bang NSW)
Hoa màu đỏ, đường kính từ 7 tới 10 cm, cành hoa dài tạo thành bụi cao tới 4 mét, lá xanh đậm, dài từ 13 đến 15 cm, tên khoa học là Telopea speciosissima, phát sinh từ tiếng Hy Lạp “Telopos”, có nghĩa “ nhìn thấy từ xa” và speciosissima do tỉnh từ La tinh “specious” là “đẹp đẽ”. Telopia thuộc họ Proteaceae.
Waratah được nhận là biểu tượng của Tiểu bang NSW vào ngày 24/10/1962.
• Pink Heath ( Biểu tượng Tiểu bang Victoria )
Bụi hoa cao độ 1 mét, lá dài từ 4 đến 16 mm. Hoa màu hồng, hình cái chuông dài 25 mm, tên khoa học là Epacris impressa, thuộc họ Epacridaceae. Epacris do tiếng Hy Lạp “epi” có nghĩa là “upon” ở trên và “akris”có nghĩa là “ngọn đồi”, chữ “impressa” do tiếng La tinh “impressed” hay “indented” mang ý nghĩa “chen kẻ” cứ 5 hoa mọc thẳng hàng trên cành hoa, rồi 5 hoa khác mọc thẳng hàng tiếp theo ở phía bên kia của cành hoa.
Victoria là Tiểu bang tiên phong chọn một loài hoa làm biểu tượng vào ngày 11/11/1958 và loài hoa đó là Pink Heath.
• Cooktown Orchid ( Biểu tượng Tiểu bang Queensland)
Là loại hoa lan, có tên khoa học là Dendrobium bigibbum. Dendrobium do tiếng Hy Lạp “dendron” có nghĩa là “cây” và “bios là “đời sống”. Tên đặc biệt của nó là phalaenopsis, gốc từ tiếng Hy Lạp “phalaina” là “sâu bướm”, vì hình dáng của hoa rất giống sâu bướm, màu hồng sậm. Cooktown là tên một địa danh miền Bắc Queensland có con sông Endeavour, nơi mà thuyền trưởng Cook của Anh Quốc vào năm 1770 đã có dịp ngừng lại để sửa tàu. Ven bờ sông nầy có nhiều Cooktown orchid mọc.
Loại lan nầy dễ trồng, rất hợp với phong thổ Queensland, nên được chọn làm biểu tượng của Tiểu bang ngày 19/11/1959.
• Mangles Kangaroo Paw ( Biểu tượng Tiểu bang Western Australia)
Có tên khoa học là Anigozanthos manglesii, thuộc họ Haemodoraceae.
Anigozanthos có thể do từ Hy Lạp “Anises”, có nghĩa là “không đều” hay là “xiên xéo” và “anthos” nghĩa là “hoa”, ám chỉ phần cuối của hoa gồm 6 cánh không bằng nhau. Còn manglesii là để vinh danh Robert Mangles, người đã thí nghiệm gieo trồng loại hoa nầy trong khu vườn của ông ở Anh quốc.
Tên thường gọi, Kangaroo Paw vì hoa nầy rất giống bàn chân của Kangaroo.
Hoa màu xanh lục, nền màu đỏ, được nhận làm biểu tượng của Tiểu bang Tây Úc vào ngày 9/11/1960.
• Sturt’s Desert Pea (Biểu tượng Tiểu bang South Australia)
Tên khoa học là Swainsona formosa, thuộc họ Fabaceae. Là một loại dây bò dưới đất, có bông dài khoảng 9 cm, màu đỏ thắm, kết từng chùm từ 6 đến 8 cái trên một nhánh ngắn và thẳng đứng. Trên mỗi cánh hoa có nổi phồng lên một cái mụt màu đen bóng, trông giống hột đậu.
Thuyền Trưởng Charles Sturt (1795-1869) phát hiện loại hoa nầy vào năm 1844 trong chuyến đi thám hiểm giữa Adelaide (South Australia) đến miền trung bộ nước Úc.
Tên Swainsona để vinh danh Isaac Swainson người đã bảo quản Vườn bách thảo tư Twickenham gần London vào khoảng năm 1789. Và Formosa , từ La Tinh, có nghĩa là đẹp.
Sturt’s Desert Pea được chọn làm biểu tượng của Tiểu bang Nam Úc vào ngày 23/11/1961.
• Tasmania Blue Gum (Biểu tượng Tiểu bang Tasmania)
Tên khoa học là Eucalyptus globulus, thuộc họ Myrtaceae, do nhà thực vật học người Pháp, Jacques-Julien Houton de Labillardiere (1755-1834), là người đầu tiên tìm thấy ở bờ biển đông nam đảo Tasmania khoảng năm 1792-93. Đó là một trong số trên dưới 800 loại cây khuynh diệp tại Úc. Cây Tasmanian Blue Gum có thể cao tới 70 mét và đường kính của thân cây có thể tới 2 mét, lá xanh, bông hình cầu (globulus), trắng ngà.
Tasmanian Blue Gum được chọn làm biểu tượng của Tiểu bang Tasmania vào ngày 27/11/1962.
• Royal Bluebell (Biểu tượng thủ đô Canberra)
Tên khoa học là Wahlenbergia gloriosa, thuộc họ Campanulaceae.
Wahlenbergia là tên do nhà thực vật học người Đức, Heinrich Schrader, đặt ra để vinh danh Georg Goran Wahlenberg (1780-1851), Giáo sư Thực Vật ở Uppsala, Thụy Điển. Từ La Tinh Gloriosa có nghĩa là “glorious”, rực rỡ, lộng lẫy. Hoa hình ngôi sao 5 cánh, đường kính 2-3 cm, màu tím xanh, lợt dần về phía nhụy.
Royal Blue Bell được chọn làm biểu tượng của thủ đô Canberra (ACT, Australian Capital Territory) vào ngày 26/05/1982.
• Sturt’s Desert Rose (Biểu tượng Northern Territory)
Tên khoa học là Gossypium sturtianum, thuộc họ Malvaceaeae. Còn có tên Darling River Rose, Cotton Rosebush và Australian Cotton. Gossypium xuất phát từ tiếng La Tinh “gossypion”, cây bông vải. Sturtianum để vinh danh thuyền trưởng Charles Sturt (1795-1869) đã tìm thấy loại hoa nầy trong chuyến đi đến miền trung bộ nước Úc những năm 1844-45.
Bụi hoa Sturt’s Desert Rose cao từ 1 mét đến 2 mét.
Lá màu xanh đậm., hình bầu dục, dài độ 5 cm. Cánh hoa dài 5 cm màu hoa cà, đài hoa đỏ. Nhụy hoa (trái) dài 1 cm, gồm nhiều hột nhỏ có lông tơ.
Sturt’s Desert Rose được chọn làm biểu tượng cho Vùng Lãnh thổ Bắc Úc vào ngày 12/07/1961.
KINH ÔNG CÒ
KINH ÔNG CÒ
(Châu Đốc một phút luyến lưu thân tặng anh Lưu Nhơn Nghĩa)
Dương Văn Chung
Học sinh Thủ Khoa Nghĩa và Nguyễn Hữu Cảnh, cũng như bà-con nào sống tại chợ Châu Đốc đều biết Kinh Ông Cò. Từ bờ kinh bên chợ, muốn đến hai trường Thủ Khoa Nghĩa và Nguyễn Hữu Cảnh, phải đi qua một trong hai cây cầu bắc ngang qua Kinh Ông Cò, cầu Kinh Ông Cò ở ngoài vàm, cạnh bến đò Chợ Châu Đốc-Cồn Tiên và Cầu Sắt ở khúc trong, nơi Bảo Trợ Nhi Đồng và Khách Sạn Tân Biên.
Hai bên bờ kinh, nhà cửa san sát, lợp lá hoặc lợp tôn.
Bờ kinh bên chợ, khởi đầu có dãy cầu tiêu máy, vách gạch lợp ngói. Gọi là cầu tiêu máy, thật ra là cầu tiêu ở trên có cái bàn cầu, ở dưới có để cái thùng chứa phân, gọi là thùng bô. Vài ba ngày có một ông già đến lấy các thùng bô nầy chở trên chiếc ghe tam bản lớn, đưa ra giữa sông cái, chỗ ngả ba Cồn Tiên-Châu Giang-Bến Bắc Châu Đốc để đổ. Phụ huynh hay hù con cháu:
-Nhỏ mà không học lớn đổ thùng bô !
Dãy cầu tiêu máy nầy ở ngay trước cửa hai tiệm cầm đồ Huỳnh Hoa, Huỳnh Hương, cách một con đường tráng nhựa.
Bên này bờ kinh có dinh Ông Trường Tiền, tức là nhà của ông Trưởng Ty Công Chánh, cửa trước hướng ra bờ sông Châu Đốc, cửa hông quay ra bờ kinh. Tiếp theo cửa hông dinh Trường Tiền là nhà Ông Kinh Lý (Trắc Lượng viên), nhà Thầy Ba Khải, Thầy Tư Trinh. Trong vòng rào của nhà hai vị nầy, có con đường đi thông qua Trường Nam Tiểu Học, rồi Trường Thủ Khoa Nghĩa và Trường Nguyễn Hữu Cảnh. Tôi còn nhớ trong sân nhà Thầy Ba Khải có cây phượng vĩ, tàn rộng, hoa nở đỏ vào mùa hè.
Khoảng thời gian thập niên 1940, 1950 có chiến tranh, dân tứ xứ tản cư về chợ Châu Đốc, ghe lớn nhỏ đậu hai ba lớp dọc theo hai bên bờ kinh, chiếc nào cũng có cất nhà đùm để gia đình có thể ngủ thêm ở trên mui, ở khoang trước, khoang sau. Mặc dầu ghe đậu nhiều như vậy, bao giờ cũng có chừa trống con đường nước giữa kinh cho ghe xuồng lưu thông.
Gần đầu cầu Kinh Ông Cò có mấy cô bán mía khúc róc vỏ hoặc mía ghim, đôi khi có một người Hoa đạp một chiếc xe ba bánh bán mía hấp, có cô bán bánh nếp nhưn chuối nướng lửa than chế nước cốt dừa. Chiều chiều học sinh sống ở vùng vàm kinh để cho đầu óc thư dãn sau một ngày học căng thẳng, thường rủ nhau ra hóng mát, đứng dọc theo lan can cầu kinh, vừa chuyện trò vui vẻ vừa ăn mía, ăn bánh chuối nướng.
Tôi ở trọ dưới chiếc “ghe lón” tức là ghe chài nhỏ của dì dượng tôi đậu cặp bờ kinh đối diện với cửa hông dinh Trường Tiền để đi học.
Năm 1949 hay 1950 không nhớ rõ, trong giờ học, nghe tiếng lựu đạn nổ ở hướng chợ Châu Đốc, đến giờ ra chơi, người anh bạn dì và tôi rủ nhau chạy xuyên qua đường nhà Thầy Ba Khải để về chiếc ghe lón thăm coi chị dâu chúng tôi đi chợ về an toàn hay không, khi quay trở lại trường thì gặp quý thầy đang đứng trò chuyện ngay cổng trường. Thầy Hỷ chận chúng tôi lại hỏi:
- Hai đứa bây đi đâu về ?
- Thưa Thầy, về thăm coi bà chị đi chợ về có sao không?
Thầy tát cho mỗi đứa một cái nẩy lửa. Thầy giải thích:
- Tụi bây đi như vậy rủi bọn mật thám thấy được tưởng tụi bay đi thẩy lựu đạn thì trả lời sao?
Tới bây giờ tôi vẫn còn cảm ơn Thầy Hỷ đã dạy cho chúng tôi một bài học quý giá.
Lại một kỷ niệm học sinh. Tôi và mấy đứa con trai của ông Trường Tiền đốn một cây đu đủ, một đầu bít, một đầu hở, khoét một lổ bên hông, gần đầu bít. Bỏ khí đá vào cây đu đủ, xuống tận đáy. Chế nước vào lổ nhỏ. Khí đá gặp nước bốc hơi. Chăm ngọn lửa vào lổ nhỏ. Nhanh tay lấy vải chụp kín lổ nhỏ lại. Một tiếng nổ kinh hồn phát ra giống như tiếng đại bác thần công. Nhiều tiếng nổ liên tục như vậy. Thành lính ở kế cận cho người xuống nói rất nhỏ nhẹ:
- Các em không nên chơi như vậy, vì tiếng nổ làm cho bà-con hoảng sợ, tưởng là tiếng súng.
Chúng tôi “đình chiến”, không cho nổ nữa.
Một kỷ niệm nữa là chiếc ghe của Dì Dượng tôi và chiếc ghe của Ông Hương Văn Diệp đậu nối đuôi nhau. Tôi có thói quen khoảng bốn năm giờ sáng đã thức dậy chong đèn bánh ú học bài. Tôi nghe bên ghe kia có tiếng Ông Hương Văn nhịp roi rôm rốp:
- Đởm, Đương, Thức thức dậy học bài. Coi cái gương thằng Chung kìa, có ai nhắc nhở đâu mà vẫn thức khuya dậy sớm để học.
Không biết các bạn Đởm, Đương, Thức có ghét tôi hay không ? Nếu có thì bây giờ tôi xin lỗi. Riêng tôi, tôi thấy các bạn có lý, kinh nghiệm cho thấy tôi học gạo quá hóa ngu. Xin mọi người đừng ép trẻ con học gạo như vậy.
Nghe nói bây giờ con Kinh Ông Cò đã cạn nước, nhà cửa đã cất đầy trên chỗ mặt nước ngày xưa. Còn nhiều kỷ niệm êm đềm tuổi học trò của tôi bị vùi lấp nơi đó.
Sydney, mùa đông 2007
(Châu Đốc một phút luyến lưu thân tặng anh Lưu Nhơn Nghĩa)
Dương Văn Chung
Học sinh Thủ Khoa Nghĩa và Nguyễn Hữu Cảnh, cũng như bà-con nào sống tại chợ Châu Đốc đều biết Kinh Ông Cò. Từ bờ kinh bên chợ, muốn đến hai trường Thủ Khoa Nghĩa và Nguyễn Hữu Cảnh, phải đi qua một trong hai cây cầu bắc ngang qua Kinh Ông Cò, cầu Kinh Ông Cò ở ngoài vàm, cạnh bến đò Chợ Châu Đốc-Cồn Tiên và Cầu Sắt ở khúc trong, nơi Bảo Trợ Nhi Đồng và Khách Sạn Tân Biên.
Hai bên bờ kinh, nhà cửa san sát, lợp lá hoặc lợp tôn.
Bờ kinh bên chợ, khởi đầu có dãy cầu tiêu máy, vách gạch lợp ngói. Gọi là cầu tiêu máy, thật ra là cầu tiêu ở trên có cái bàn cầu, ở dưới có để cái thùng chứa phân, gọi là thùng bô. Vài ba ngày có một ông già đến lấy các thùng bô nầy chở trên chiếc ghe tam bản lớn, đưa ra giữa sông cái, chỗ ngả ba Cồn Tiên-Châu Giang-Bến Bắc Châu Đốc để đổ. Phụ huynh hay hù con cháu:
-Nhỏ mà không học lớn đổ thùng bô !
Dãy cầu tiêu máy nầy ở ngay trước cửa hai tiệm cầm đồ Huỳnh Hoa, Huỳnh Hương, cách một con đường tráng nhựa.
Bên này bờ kinh có dinh Ông Trường Tiền, tức là nhà của ông Trưởng Ty Công Chánh, cửa trước hướng ra bờ sông Châu Đốc, cửa hông quay ra bờ kinh. Tiếp theo cửa hông dinh Trường Tiền là nhà Ông Kinh Lý (Trắc Lượng viên), nhà Thầy Ba Khải, Thầy Tư Trinh. Trong vòng rào của nhà hai vị nầy, có con đường đi thông qua Trường Nam Tiểu Học, rồi Trường Thủ Khoa Nghĩa và Trường Nguyễn Hữu Cảnh. Tôi còn nhớ trong sân nhà Thầy Ba Khải có cây phượng vĩ, tàn rộng, hoa nở đỏ vào mùa hè.
Khoảng thời gian thập niên 1940, 1950 có chiến tranh, dân tứ xứ tản cư về chợ Châu Đốc, ghe lớn nhỏ đậu hai ba lớp dọc theo hai bên bờ kinh, chiếc nào cũng có cất nhà đùm để gia đình có thể ngủ thêm ở trên mui, ở khoang trước, khoang sau. Mặc dầu ghe đậu nhiều như vậy, bao giờ cũng có chừa trống con đường nước giữa kinh cho ghe xuồng lưu thông.
Gần đầu cầu Kinh Ông Cò có mấy cô bán mía khúc róc vỏ hoặc mía ghim, đôi khi có một người Hoa đạp một chiếc xe ba bánh bán mía hấp, có cô bán bánh nếp nhưn chuối nướng lửa than chế nước cốt dừa. Chiều chiều học sinh sống ở vùng vàm kinh để cho đầu óc thư dãn sau một ngày học căng thẳng, thường rủ nhau ra hóng mát, đứng dọc theo lan can cầu kinh, vừa chuyện trò vui vẻ vừa ăn mía, ăn bánh chuối nướng.
Tôi ở trọ dưới chiếc “ghe lón” tức là ghe chài nhỏ của dì dượng tôi đậu cặp bờ kinh đối diện với cửa hông dinh Trường Tiền để đi học.
Năm 1949 hay 1950 không nhớ rõ, trong giờ học, nghe tiếng lựu đạn nổ ở hướng chợ Châu Đốc, đến giờ ra chơi, người anh bạn dì và tôi rủ nhau chạy xuyên qua đường nhà Thầy Ba Khải để về chiếc ghe lón thăm coi chị dâu chúng tôi đi chợ về an toàn hay không, khi quay trở lại trường thì gặp quý thầy đang đứng trò chuyện ngay cổng trường. Thầy Hỷ chận chúng tôi lại hỏi:
- Hai đứa bây đi đâu về ?
- Thưa Thầy, về thăm coi bà chị đi chợ về có sao không?
Thầy tát cho mỗi đứa một cái nẩy lửa. Thầy giải thích:
- Tụi bây đi như vậy rủi bọn mật thám thấy được tưởng tụi bay đi thẩy lựu đạn thì trả lời sao?
Tới bây giờ tôi vẫn còn cảm ơn Thầy Hỷ đã dạy cho chúng tôi một bài học quý giá.
Lại một kỷ niệm học sinh. Tôi và mấy đứa con trai của ông Trường Tiền đốn một cây đu đủ, một đầu bít, một đầu hở, khoét một lổ bên hông, gần đầu bít. Bỏ khí đá vào cây đu đủ, xuống tận đáy. Chế nước vào lổ nhỏ. Khí đá gặp nước bốc hơi. Chăm ngọn lửa vào lổ nhỏ. Nhanh tay lấy vải chụp kín lổ nhỏ lại. Một tiếng nổ kinh hồn phát ra giống như tiếng đại bác thần công. Nhiều tiếng nổ liên tục như vậy. Thành lính ở kế cận cho người xuống nói rất nhỏ nhẹ:
- Các em không nên chơi như vậy, vì tiếng nổ làm cho bà-con hoảng sợ, tưởng là tiếng súng.
Chúng tôi “đình chiến”, không cho nổ nữa.
Một kỷ niệm nữa là chiếc ghe của Dì Dượng tôi và chiếc ghe của Ông Hương Văn Diệp đậu nối đuôi nhau. Tôi có thói quen khoảng bốn năm giờ sáng đã thức dậy chong đèn bánh ú học bài. Tôi nghe bên ghe kia có tiếng Ông Hương Văn nhịp roi rôm rốp:
- Đởm, Đương, Thức thức dậy học bài. Coi cái gương thằng Chung kìa, có ai nhắc nhở đâu mà vẫn thức khuya dậy sớm để học.
Không biết các bạn Đởm, Đương, Thức có ghét tôi hay không ? Nếu có thì bây giờ tôi xin lỗi. Riêng tôi, tôi thấy các bạn có lý, kinh nghiệm cho thấy tôi học gạo quá hóa ngu. Xin mọi người đừng ép trẻ con học gạo như vậy.
Nghe nói bây giờ con Kinh Ông Cò đã cạn nước, nhà cửa đã cất đầy trên chỗ mặt nước ngày xưa. Còn nhiều kỷ niệm êm đềm tuổi học trò của tôi bị vùi lấp nơi đó.
Sydney, mùa đông 2007
VÍA ĐÈ
VÍA ĐÈ
Dương Văn Chung
Lời mở đầu: Nhân chuyến đi thăm Thiền Viện Trúc Lâm - Đà Lạt về dọc đường, anh Ba Núi Sam ghé thăm một nhà kia có một cái bàn tròn có trục xoay, bốn năm người đặt tay lên bàn, bảo xoay theo chiều nào, bàn xoay theo chiều đó. Khi anh Ba đặt tay vào thì bàn ngưng xoay. Chủ nhà nói vía của anh Ba nặng làm bàn không xoay. Anh Ba đặt câu hỏi rất khó: Vía là cái gì ?
Vía là cái gì ?
Với sự hiểu biết hạn hẹp của người phàm mắt thịt, làm sao mình có thể trả lời nổi một vấn đề hết sức trừu tượng và siêu hình.
Tôi liền tham khảo Từ điển Tiếng Việt, thấy vía hay phách giống nhau, là yếu tố vô hình tạo ra sức mạnh tinh thần của con người, dựa vào thể xác mà tồn tại, khi người chết thì vía cũng mất đi, khác với hồn, độc lập đối với thể xác. Hồn khi nhập vào thể xác thì tạo nên sự sống và tâm lý của con người, khi người chết thì hồn vẫn còn tồn tại.
Qua lời giải thích trên, tôi chỉ mới có một ý niệm mơ hồ về vía hay phách và hồn.
Người ta nói “linh bất linh tại ngã”, linh không linh tại mình thôi, móc một cục đất sét nắn thành tượng ông Địa, rồi mỗi ngày thắp nhang khấn vái, lâu dần ông Địa sẽ linh thiêng (?). Những người không tin chuyện huyền bí được xem là “nặng bóng vía”. Ai nặng bóng vía thì quỹ thần cũng nể nang. Ai nhát gan, dễ tin hay dễ khiếp sợ, được xem là “yếu bóng vía”.
Trước một nỗi sợ sệt khủng khiếp, người ta chết điếng, đó là sợ mất hồn, mất vía,, và khi đã vượt qua cơn khiếp đảm rồi mà vẫn được an toàn, người ta nói:
- Hú hồn, hú vía
Có những bà mẹ giận thằng con đi rong chơi lối xóm, kêu réo hoài, không biết nó ở đâu, rủa sả nó như nó đã chết rồi:
- Ba hồn bảy vía thằng (tên thằng con) ơi! Về ăn cơm ăn cá!
Nếu đứa con là gái thì gọi:
- Ba hồn chín vía…
Theo tục lệ người mình thì “nam thất, nữ cửu”, trai bảy gái chín. Muốn dùng lá cây làm thuốc trị bệnh cho đàn ông, con trai thì hái bảy lá, trị bệnh cho đàn bà, con gái thì hái chín lá.
Tôi thấy lời giải thích của vị cao niên mà anh Ba Núi Sam nói có lý, vía là năng lực của tâm ( niềm tin, ý nghĩ giống nhau của nhiều người tạo thành một hợp lực, được điều khiển bằng vô thức, mình không nhận ra, nhưng hợp lực đó làm chuyển động mặt bàn. Bổng có một năng lực khác ( hoài nghi hoặc chỉ cần một ý nghĩ khác xen vào, hợp lực bị phá vở, mất hiệu năng), mặt bàn dừng lại.
Tôi xin kể một vài vụ cầu cơ mà tôi đã chứng kiến hoặc tham gia.
Vụ cầu cơ thứ nhứt xãy ra ở trại cải tạo Trảng Lớn Tây Ninh. Tôi và một vài người bạn đứng ngoài chứng kiến ba người bạn khác đặt ngón tay lên đồng tiền trên bàn cơ. Bàn cơ có ghi sẵn chữ và số. Trong chốc lát, đồng tiền cơ chuyển động, chạy thật nhanh. Một anh bạn trong cuộc hỏi:
- Thần thánh hay ma quỷ ?
Đồng tiền cơ chạy xẹt đến chữ “ Ma quỷ ”.
- Xin cho biết tên.
- Ngô Nghĩa.
Anh Ngô Nghĩa thuộc Tiểu đoàn 2 Cải tạo bị xử tử để làm gương về tội vượt trại.
- Anh đang ở đâu ?
- Ở dưới.
- Đang làm gì ?
- Đang học tập cải tạo.
- Ở dưới cũng có học tập nữa sao ?
- Có chớ.
- Anh biết chừng nào tụi nầy về hay không ?
- Ngày 19 tháng sau .
Đúng ngày đó có một cuộc gọi là “ biên chế ’, rầm rộ điều động hầu hết người “cải tạo” rời khỏi trại, mấy người bạn và tôi nói với nhau:
- Hôm nay đúng là ngày anh Ngô Nghĩa nói tụi mình về mà sao người ta được đi, còn tụi mình chẳng động tịnh gì ?
Về sau mới biết các bạn kia bị đưa đi Phú Quốc, Đồng Ban, Long Giao, Long Khánh để tiếp tục lao động, còn chúng tôi vẫn ở yên chỗ cũ.
Vụ thứ hai là cầu cơ anh Ba T., người đã cho hai đứa con trai của tôi quá giang vượt biển thành công đến Thái Lan. Anh là bạn học cũ của tôi 30 năm về trước ở lớp Dự Bị ( Lớp Tư ). Sau chuyến đi của các con tôi thành công, Anh Ba T. bị bệnh phổi, chết đột ngột. Thương tiếc anh quá, gia đình tôi cầu cơ. Nhà tôi và đứa con gái để tay lên đồng tiền cơ, tôi đứng ngoài, nhưng cũng tham gia đặt câu hỏi. Đồng tiền cơ bắt đầu di chuyển. Tôi hỏi:
- Thần thánh hay ma quỷ ?
- Ma quỷ.
- Xin cho biết tên.
- T.
- Nếu thật là anh Ba T., xin anh cho biết hồi lớp Tư tụi mình học trước sau với hai ông thầy, hai thầy đó tên gì ?
- Đống và Phùng.
Nhà tôi và con gái tôi đâu biết tôi học lớp Tư với thầy nào. Câu trả lời của cơ thật chính xác làm tôi nổi da gà.
Tôi hỏi tiếp:
- Chừng nào có chuyến đi nữa ?
- Tháng sau.
Nhưng tháng sau người em vợ của anh Ba T., đã giúp anh tổ chức bến bãi vượt biển, bị bắt. Mọi việc chấm dứt tại đó.
Qua hai vụ cầu cơ nói trên và qua lời giải thích của vị cao niên, tôi nghĩ:
- Có lẽ đúng là cơ chạy theo cái tâm lực của những người cầu cơ, cộng cả tâm lực của người đứng ngoài tham gia ( trường hợp thầy Đống và thầy Phùng ). Những người trong cuộc nghĩ gì thì cơ chạy theo cái đó ( cùng nghĩ đến anh Ngô Nghĩa và “học tập cải tạo”).
- Hỏi về chuyện tương lai, cơ thường trả lời không đúng, có lẽ vì chính những người cầu cơ không rõ tương lai của mình ra sao nên mới hỏi, cái tâm của mình mù mờ thì cơ cũng mù mờ theo.
Suy nghĩ của tôi như vậy có thể không đúng. Nếu ai không đồng ý, xin đừng chấp nhứt, coi như chuyện cầu cơ tôi vừa kể là chuyện góp vui, nghe qua rồi bỏ, đừng thắc mắc nhiều, tối ngủ bị vía đè. Còn muốn tìm hiểu thêm nữa về vía, xin hỏi anh Hai Trầu.
Sydney, tháng 02/2007
Dương Văn Chung
Lời mở đầu: Nhân chuyến đi thăm Thiền Viện Trúc Lâm - Đà Lạt về dọc đường, anh Ba Núi Sam ghé thăm một nhà kia có một cái bàn tròn có trục xoay, bốn năm người đặt tay lên bàn, bảo xoay theo chiều nào, bàn xoay theo chiều đó. Khi anh Ba đặt tay vào thì bàn ngưng xoay. Chủ nhà nói vía của anh Ba nặng làm bàn không xoay. Anh Ba đặt câu hỏi rất khó: Vía là cái gì ?
Vía là cái gì ?
Với sự hiểu biết hạn hẹp của người phàm mắt thịt, làm sao mình có thể trả lời nổi một vấn đề hết sức trừu tượng và siêu hình.
Tôi liền tham khảo Từ điển Tiếng Việt, thấy vía hay phách giống nhau, là yếu tố vô hình tạo ra sức mạnh tinh thần của con người, dựa vào thể xác mà tồn tại, khi người chết thì vía cũng mất đi, khác với hồn, độc lập đối với thể xác. Hồn khi nhập vào thể xác thì tạo nên sự sống và tâm lý của con người, khi người chết thì hồn vẫn còn tồn tại.
Qua lời giải thích trên, tôi chỉ mới có một ý niệm mơ hồ về vía hay phách và hồn.
Người ta nói “linh bất linh tại ngã”, linh không linh tại mình thôi, móc một cục đất sét nắn thành tượng ông Địa, rồi mỗi ngày thắp nhang khấn vái, lâu dần ông Địa sẽ linh thiêng (?). Những người không tin chuyện huyền bí được xem là “nặng bóng vía”. Ai nặng bóng vía thì quỹ thần cũng nể nang. Ai nhát gan, dễ tin hay dễ khiếp sợ, được xem là “yếu bóng vía”.
Trước một nỗi sợ sệt khủng khiếp, người ta chết điếng, đó là sợ mất hồn, mất vía,, và khi đã vượt qua cơn khiếp đảm rồi mà vẫn được an toàn, người ta nói:
- Hú hồn, hú vía
Có những bà mẹ giận thằng con đi rong chơi lối xóm, kêu réo hoài, không biết nó ở đâu, rủa sả nó như nó đã chết rồi:
- Ba hồn bảy vía thằng (tên thằng con) ơi! Về ăn cơm ăn cá!
Nếu đứa con là gái thì gọi:
- Ba hồn chín vía…
Theo tục lệ người mình thì “nam thất, nữ cửu”, trai bảy gái chín. Muốn dùng lá cây làm thuốc trị bệnh cho đàn ông, con trai thì hái bảy lá, trị bệnh cho đàn bà, con gái thì hái chín lá.
Tôi thấy lời giải thích của vị cao niên mà anh Ba Núi Sam nói có lý, vía là năng lực của tâm ( niềm tin, ý nghĩ giống nhau của nhiều người tạo thành một hợp lực, được điều khiển bằng vô thức, mình không nhận ra, nhưng hợp lực đó làm chuyển động mặt bàn. Bổng có một năng lực khác ( hoài nghi hoặc chỉ cần một ý nghĩ khác xen vào, hợp lực bị phá vở, mất hiệu năng), mặt bàn dừng lại.
Tôi xin kể một vài vụ cầu cơ mà tôi đã chứng kiến hoặc tham gia.
Vụ cầu cơ thứ nhứt xãy ra ở trại cải tạo Trảng Lớn Tây Ninh. Tôi và một vài người bạn đứng ngoài chứng kiến ba người bạn khác đặt ngón tay lên đồng tiền trên bàn cơ. Bàn cơ có ghi sẵn chữ và số. Trong chốc lát, đồng tiền cơ chuyển động, chạy thật nhanh. Một anh bạn trong cuộc hỏi:
- Thần thánh hay ma quỷ ?
Đồng tiền cơ chạy xẹt đến chữ “ Ma quỷ ”.
- Xin cho biết tên.
- Ngô Nghĩa.
Anh Ngô Nghĩa thuộc Tiểu đoàn 2 Cải tạo bị xử tử để làm gương về tội vượt trại.
- Anh đang ở đâu ?
- Ở dưới.
- Đang làm gì ?
- Đang học tập cải tạo.
- Ở dưới cũng có học tập nữa sao ?
- Có chớ.
- Anh biết chừng nào tụi nầy về hay không ?
- Ngày 19 tháng sau .
Đúng ngày đó có một cuộc gọi là “ biên chế ’, rầm rộ điều động hầu hết người “cải tạo” rời khỏi trại, mấy người bạn và tôi nói với nhau:
- Hôm nay đúng là ngày anh Ngô Nghĩa nói tụi mình về mà sao người ta được đi, còn tụi mình chẳng động tịnh gì ?
Về sau mới biết các bạn kia bị đưa đi Phú Quốc, Đồng Ban, Long Giao, Long Khánh để tiếp tục lao động, còn chúng tôi vẫn ở yên chỗ cũ.
Vụ thứ hai là cầu cơ anh Ba T., người đã cho hai đứa con trai của tôi quá giang vượt biển thành công đến Thái Lan. Anh là bạn học cũ của tôi 30 năm về trước ở lớp Dự Bị ( Lớp Tư ). Sau chuyến đi của các con tôi thành công, Anh Ba T. bị bệnh phổi, chết đột ngột. Thương tiếc anh quá, gia đình tôi cầu cơ. Nhà tôi và đứa con gái để tay lên đồng tiền cơ, tôi đứng ngoài, nhưng cũng tham gia đặt câu hỏi. Đồng tiền cơ bắt đầu di chuyển. Tôi hỏi:
- Thần thánh hay ma quỷ ?
- Ma quỷ.
- Xin cho biết tên.
- T.
- Nếu thật là anh Ba T., xin anh cho biết hồi lớp Tư tụi mình học trước sau với hai ông thầy, hai thầy đó tên gì ?
- Đống và Phùng.
Nhà tôi và con gái tôi đâu biết tôi học lớp Tư với thầy nào. Câu trả lời của cơ thật chính xác làm tôi nổi da gà.
Tôi hỏi tiếp:
- Chừng nào có chuyến đi nữa ?
- Tháng sau.
Nhưng tháng sau người em vợ của anh Ba T., đã giúp anh tổ chức bến bãi vượt biển, bị bắt. Mọi việc chấm dứt tại đó.
Qua hai vụ cầu cơ nói trên và qua lời giải thích của vị cao niên, tôi nghĩ:
- Có lẽ đúng là cơ chạy theo cái tâm lực của những người cầu cơ, cộng cả tâm lực của người đứng ngoài tham gia ( trường hợp thầy Đống và thầy Phùng ). Những người trong cuộc nghĩ gì thì cơ chạy theo cái đó ( cùng nghĩ đến anh Ngô Nghĩa và “học tập cải tạo”).
- Hỏi về chuyện tương lai, cơ thường trả lời không đúng, có lẽ vì chính những người cầu cơ không rõ tương lai của mình ra sao nên mới hỏi, cái tâm của mình mù mờ thì cơ cũng mù mờ theo.
Suy nghĩ của tôi như vậy có thể không đúng. Nếu ai không đồng ý, xin đừng chấp nhứt, coi như chuyện cầu cơ tôi vừa kể là chuyện góp vui, nghe qua rồi bỏ, đừng thắc mắc nhiều, tối ngủ bị vía đè. Còn muốn tìm hiểu thêm nữa về vía, xin hỏi anh Hai Trầu.
Sydney, tháng 02/2007
DÒNG SÔNG KỶ NIỆM
DÒNG SÔNG KỶ NIỆM
Dương Văn Chung
Lời mở đầu: Đọc bài “ Nghĩ về những mảnh vụn cuộc đời” của anh Lương Thư Trung, với cảnh đồng quê, sông nước Miền Nam, với nghề “ hạ bạc” ở xứ cá Thất Sơn Châu Đốc, lòng tôi cảm thấy lâng lâng nhớ đến một con sông nhỏ, sông Bắc Nam, đã tích chứa bao nhiêu kỷ niệm của tôi lúc thiếu thời. Lộc Tưởng đã nhanh tay hơn tôi, viết bài “Con Kinh Cũ”qua đó ta thấy rõ sự tương thân tương kính giữa hai dân tộc Việt-Chăm. Tôi xin tiếp theo với “Dòng Sông Kỷ Niệm”.
*
* *
Tôi không rõ ông bà Nội của tôi sanh tại đâu, nhưng cha và anh chị em tôi đều sanh ra tại làng Bắc Nam, bên bờ một con sông nhỏ thuộc địa phận Miên, giáp giới với Việt Nam. Nước sông Bắc Nam đã tắm gội cho cha con chúng tôi lúc mới chào đời. Đây là con sông thiên nhiên, nước rất trong. Gia đình tôi ở gần vàm sông, là khu vực người Việt và người Hoa sinh sống, đi dần vào hướng ngọn sông người Miên ở. Nói là ngọn sông, tôi chẳng biết con sông khá dài nầy phát nguồn từ đâu, hình như nó là một nhánh thật nhỏ của Biển Hồ.
Dân cư tập trung dọc hai bên bờ sông và sống bằng nghề cá mắm, tôi không rõ tại sao ngày xưa gọi là nghề “hạ bạc”. Cá tôm từ Biển Hồ đổ xuống nhiều vô số kể. Xin nói thêm là Biển Hồ ở giữa đất nước Miên, rất rộng lớn và nhiều cá, cho nên người Việt đến đó sinh sống rất đông và có những câu ca dao truyền khẩu:
Cha mẹ thương con như Biển Hồ lai láng,
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.
Biển Hồ cực lắm em ơi,
Ban đêm xẻ cá ban ngày phơi khô.
Có nhiều cách bắt cá để ăn hay để bán như câu cần, giăng câu, đặt lờ, đặt lọp, chất chà, kéo lưới, kéo vó, trải đáy, tát đìa, hớt tôm, đặt trúm bắt lươn, ngồi tum đâm cá…v.v.
Ai cũng biết những cách đánh bắt cá thông thường, chỉ có đặt trúm bắt lươn và ngồi tum đâm cá có vẻ lạ tai.
Muốn bắt lươn, người ta dùng một cái ống gọi là ống trúm làm bằng một khúc tre, đục bỏ các mắt, chỉ chừa mắt cuối cùng để làm cái đáy. Trên miệng ống tre có đặt một cái hom bằng tre đan hình nón thủng ở chóp, dài chừng một tấc, miệng hom tròn vừa khít miệng ống tre, chóp nhọn hướng vào bên trong ống. Mồi trùng sình thúi đặt trong ống trúm, lươn ngửi thấy mùi trùng thúi chui qua cái hom vào ống trúm để kiếm ăn, khi trở ra bị cái hom chận lại, mắc kẹt trong ống trúm. Phải gỡ cái hom mới trút lươn ra được.
Đến chuyện ngồi tum. Ở mấy cầu tàu nổi lót ván thường có chừa một cái lổ vuông có nắp đậy lại. Một người lại ngồi chỗ cái lổ, dỡ nắp ván ra, lấy mền trùm từ trên đầu xuống để che bớt ánh sáng, tay cầm mũi chĩa xà búp gồm có ba mũi nằm theo ba đỉnh tam giác hoặc mũi chĩa ba với ba mũi nằm thẳng hàng, để chờ đâm cá lóc hoặc cá bông trồi lên mặt nước để thở, gọi là cá lên ngớp. Cũng có thể ngồi tum trong một lùm cây mọc gie ra ngoài bờ sông.
Cá nhiều, dân địa phương không tiêu thụ hết, bán cho những người thương buôn mua gom để chở bằng ghe đục đem lên Sài Gòn bán cho các vựa cá. Ghe đục là loại ghe đặc biệt, hai bên thân ghe đóng bằng lưới sắt để nước thông thương ra vào, cá không chết, ở mũi và lái ghe có hai cái khoang lớn có nắp đậy thật kín, nước không vào được. Hai cái khoang đó có công dụng như hai cái phao để làm cho chiếc ghe không bị chìm.
Chuyện đánh bắt cá là việc làm của người lớn. Lúc bấy giờ tôi mới lên 10, đã biết chèo, bơi, lặn lội.
Tôi thích bắt cá thia thia, màu xanh đậm óng ánh, bỏ hai con vào một cái keo cho “đá lộn” hoặc mỗi keo chỉ để một con rồi để cái kiếng soi cho nó đá bóng.
Tôi cũng bắt chước người lớn, lấy nhánh cây bó lại thật chặt, treo vào một sợi dây, bỏ ngâm dưới nước ở bờ sông, mỗi ngày kéo lên một lần để bắt cá mắc kẹt trong bó chà. Thích nhứt là lúc nước đổi màu xanh xanh từ trong đồng chảy ra mà người dân địa phương gọi là “nước cỏ”, tôm cá bị khờ hay là cá dại, tôi bơi xuồng ra giữa dòng sông, lấy rổ cào tôm cá vào xuồng. Chỉ trong một buổi thôi nước cỏ loãng dần, cá tôm từ từ khỏe lại.
Lúc nước ròng, tôi hay ra bờ sông móc đất sét nắn đồ chơi như cà ràng ông táo, nồi niêu soon chảo, con chim con cò, con trâu con bò, chiếc xe hơi để kéo chơi.
Cũng nơi bến sông nầy đã có một thời tôi làm thằng bé chèo đò. Lúc đầu cô bác nhờ tôi đưa rước qua sông, tôi chỉ đưa giùm. Về sau khi đưa rước như vậy thì bà-con cho tiền. Tiền bạc làm cho tôi ham thích, nẩy ra ý nghĩ kinh doanh, dời bến ra gần vàm, nơi khu chợ nhỏ, đưa người chuyến qua cộng với chuyến về lấy năm xu. Tiền đưa đò tuy không nhiều nhưng cũng góp thêm một phần rau muối cho gia đình tôi.
Ở nhà quê thuở đó không có điện, dầu lửa cũng hiếm hoi. Trong những ngày Tết, mỗi nhà đều dựng hai ba cột tre dọc bờ sông, trên mỗi cây cột tre có một thếp đèn dầu cá, tim đèn làm bằng vải vụn se thành sợi. Đèn dầu cá sáng rực dọc hai bờ sông, từ vàm vào đến hết khu vực người Việt và người Hoa ở. Tôi nhớ có lần thấy tim đèn dầu cá bị lụn, tôi nhón chân lên để khêu cái tim, làm dầu đổ dính lên cái áo mới mặc Tết, tôi khóc quá chừng. Dưới ánh đèn dầu cá, người lớn, trẻ con đánh bài cào hoặc chơi bầu tôm cá cọp. Cái Tết kéo dài lê thê, tháng hai, tháng ba vẫn còn vui chơi, bài bạc:
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè
Tiền làm ra dễ dàng cứ tiêu xài cho thỏa thích, hết tiền rồi mới đi làm lại. Người ta đổ thừa tại làm nghề ác đức “nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” nên không giữ được tiền.
Ở quê tôi không có tục lệ nam nữ hát hò đối đáp. Nhưng có những đêm trăng thanh vắng, gió hiu hiu thổi, vài thanh niên trong làng thường rủ nhau thả thuyền trên sông trăng, đờn ca cổ nhạc những điệu như xàng xê, lưu thủy hành vân, vọng cổ…v.v. Tiếng đàn, tiếng hát nghe dịu dàng, thanh thản làm sao!
Tôi cũng không bao giờ quên một chuyến ra đi từ dòng sông nầy. Sáng sớm hôm đó, mẹ và người chị thứ ba của tôi bơi chiếc xuồng ba lá chở xoài ra chợ Châu Đốc bán, nhân tiện đưa tôi ra ở nhà bà dì ruột tại chợ để đi học. Cha và mấy chị, em của tôi ra đứng ở bờ sông tiển tôi. Lần đầu tôi xa cha mẹ, chị em, xa nơi chôn nhau cắt rún, tôi buồn vô hạn. Bán xoài xong, mẹ và chị tôi chuẩn bị ra về, tôi cũng đòi về theo, mẹ tôi nói:
-Mầy đòi đi học, ổng (ba tôi) đồng ý, bây giờ mầy đòi về, ổng đánh mầy chết!
Tôi đành phải ở lại học. Tôi học ngày học đêm, học để bớt nhớ nhà. Nhưng mà học thì học mà nhớ vẫn nhớ, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ chị, nhớ em, nhớ cả chòm cây trước cửa, bụi chuối sau hè, nhớ dòng sông hiền hòa, nhớ chiếc đò tam bản, nhớ con chim cưởng ở nhà bà hàng xóm mà mỗi lần chị Hai tôi và tôi đi ngang nhà nó nhái y giọng bà chủ nhà hỏi:
-Hai, đi đâu đó Hai ?
Tôi nhớ đủ người, đủ vật. Nỗi nhớ nhung làm tôi chết điếng trong lòng. Khi học đến lớp Sơ Đẳng, tức là lớp Ba, đọc bài “Kẻ ở người đi” trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, tôi hết sức cảm phục tác giả đã bộc bạch được tâm trạng của một đứa trẻ đi xa nhà lần đầu:
“…Từ thuở bé đến giờ, chỉ quen vui thú ở nhà, nay tôi mới biết cái cảnh biệt ly là một! Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại: từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường!... Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”
*
* *
Tôi có trở về thăm Bắc Nam mấy lần nhân dịp nghỉ hè. Sau đó chiến tranh bùng nổ, gia đình tôi cùng cả làng tản cư, phần đất nầy trở về với người Miên, dòng sông Bắc Nam đối với tôi đã trở thành Dòng Sông Kỷ Niệm khó quên.
Sydney, Tháng 01/2007
Dương Văn Chung
Lời mở đầu: Đọc bài “ Nghĩ về những mảnh vụn cuộc đời” của anh Lương Thư Trung, với cảnh đồng quê, sông nước Miền Nam, với nghề “ hạ bạc” ở xứ cá Thất Sơn Châu Đốc, lòng tôi cảm thấy lâng lâng nhớ đến một con sông nhỏ, sông Bắc Nam, đã tích chứa bao nhiêu kỷ niệm của tôi lúc thiếu thời. Lộc Tưởng đã nhanh tay hơn tôi, viết bài “Con Kinh Cũ”qua đó ta thấy rõ sự tương thân tương kính giữa hai dân tộc Việt-Chăm. Tôi xin tiếp theo với “Dòng Sông Kỷ Niệm”.
*
* *
Tôi không rõ ông bà Nội của tôi sanh tại đâu, nhưng cha và anh chị em tôi đều sanh ra tại làng Bắc Nam, bên bờ một con sông nhỏ thuộc địa phận Miên, giáp giới với Việt Nam. Nước sông Bắc Nam đã tắm gội cho cha con chúng tôi lúc mới chào đời. Đây là con sông thiên nhiên, nước rất trong. Gia đình tôi ở gần vàm sông, là khu vực người Việt và người Hoa sinh sống, đi dần vào hướng ngọn sông người Miên ở. Nói là ngọn sông, tôi chẳng biết con sông khá dài nầy phát nguồn từ đâu, hình như nó là một nhánh thật nhỏ của Biển Hồ.
Dân cư tập trung dọc hai bên bờ sông và sống bằng nghề cá mắm, tôi không rõ tại sao ngày xưa gọi là nghề “hạ bạc”. Cá tôm từ Biển Hồ đổ xuống nhiều vô số kể. Xin nói thêm là Biển Hồ ở giữa đất nước Miên, rất rộng lớn và nhiều cá, cho nên người Việt đến đó sinh sống rất đông và có những câu ca dao truyền khẩu:
Cha mẹ thương con như Biển Hồ lai láng,
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.
Biển Hồ cực lắm em ơi,
Ban đêm xẻ cá ban ngày phơi khô.
Có nhiều cách bắt cá để ăn hay để bán như câu cần, giăng câu, đặt lờ, đặt lọp, chất chà, kéo lưới, kéo vó, trải đáy, tát đìa, hớt tôm, đặt trúm bắt lươn, ngồi tum đâm cá…v.v.
Ai cũng biết những cách đánh bắt cá thông thường, chỉ có đặt trúm bắt lươn và ngồi tum đâm cá có vẻ lạ tai.
Muốn bắt lươn, người ta dùng một cái ống gọi là ống trúm làm bằng một khúc tre, đục bỏ các mắt, chỉ chừa mắt cuối cùng để làm cái đáy. Trên miệng ống tre có đặt một cái hom bằng tre đan hình nón thủng ở chóp, dài chừng một tấc, miệng hom tròn vừa khít miệng ống tre, chóp nhọn hướng vào bên trong ống. Mồi trùng sình thúi đặt trong ống trúm, lươn ngửi thấy mùi trùng thúi chui qua cái hom vào ống trúm để kiếm ăn, khi trở ra bị cái hom chận lại, mắc kẹt trong ống trúm. Phải gỡ cái hom mới trút lươn ra được.
Đến chuyện ngồi tum. Ở mấy cầu tàu nổi lót ván thường có chừa một cái lổ vuông có nắp đậy lại. Một người lại ngồi chỗ cái lổ, dỡ nắp ván ra, lấy mền trùm từ trên đầu xuống để che bớt ánh sáng, tay cầm mũi chĩa xà búp gồm có ba mũi nằm theo ba đỉnh tam giác hoặc mũi chĩa ba với ba mũi nằm thẳng hàng, để chờ đâm cá lóc hoặc cá bông trồi lên mặt nước để thở, gọi là cá lên ngớp. Cũng có thể ngồi tum trong một lùm cây mọc gie ra ngoài bờ sông.
Cá nhiều, dân địa phương không tiêu thụ hết, bán cho những người thương buôn mua gom để chở bằng ghe đục đem lên Sài Gòn bán cho các vựa cá. Ghe đục là loại ghe đặc biệt, hai bên thân ghe đóng bằng lưới sắt để nước thông thương ra vào, cá không chết, ở mũi và lái ghe có hai cái khoang lớn có nắp đậy thật kín, nước không vào được. Hai cái khoang đó có công dụng như hai cái phao để làm cho chiếc ghe không bị chìm.
Chuyện đánh bắt cá là việc làm của người lớn. Lúc bấy giờ tôi mới lên 10, đã biết chèo, bơi, lặn lội.
Tôi thích bắt cá thia thia, màu xanh đậm óng ánh, bỏ hai con vào một cái keo cho “đá lộn” hoặc mỗi keo chỉ để một con rồi để cái kiếng soi cho nó đá bóng.
Tôi cũng bắt chước người lớn, lấy nhánh cây bó lại thật chặt, treo vào một sợi dây, bỏ ngâm dưới nước ở bờ sông, mỗi ngày kéo lên một lần để bắt cá mắc kẹt trong bó chà. Thích nhứt là lúc nước đổi màu xanh xanh từ trong đồng chảy ra mà người dân địa phương gọi là “nước cỏ”, tôm cá bị khờ hay là cá dại, tôi bơi xuồng ra giữa dòng sông, lấy rổ cào tôm cá vào xuồng. Chỉ trong một buổi thôi nước cỏ loãng dần, cá tôm từ từ khỏe lại.
Lúc nước ròng, tôi hay ra bờ sông móc đất sét nắn đồ chơi như cà ràng ông táo, nồi niêu soon chảo, con chim con cò, con trâu con bò, chiếc xe hơi để kéo chơi.
Cũng nơi bến sông nầy đã có một thời tôi làm thằng bé chèo đò. Lúc đầu cô bác nhờ tôi đưa rước qua sông, tôi chỉ đưa giùm. Về sau khi đưa rước như vậy thì bà-con cho tiền. Tiền bạc làm cho tôi ham thích, nẩy ra ý nghĩ kinh doanh, dời bến ra gần vàm, nơi khu chợ nhỏ, đưa người chuyến qua cộng với chuyến về lấy năm xu. Tiền đưa đò tuy không nhiều nhưng cũng góp thêm một phần rau muối cho gia đình tôi.
Ở nhà quê thuở đó không có điện, dầu lửa cũng hiếm hoi. Trong những ngày Tết, mỗi nhà đều dựng hai ba cột tre dọc bờ sông, trên mỗi cây cột tre có một thếp đèn dầu cá, tim đèn làm bằng vải vụn se thành sợi. Đèn dầu cá sáng rực dọc hai bờ sông, từ vàm vào đến hết khu vực người Việt và người Hoa ở. Tôi nhớ có lần thấy tim đèn dầu cá bị lụn, tôi nhón chân lên để khêu cái tim, làm dầu đổ dính lên cái áo mới mặc Tết, tôi khóc quá chừng. Dưới ánh đèn dầu cá, người lớn, trẻ con đánh bài cào hoặc chơi bầu tôm cá cọp. Cái Tết kéo dài lê thê, tháng hai, tháng ba vẫn còn vui chơi, bài bạc:
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè
Tiền làm ra dễ dàng cứ tiêu xài cho thỏa thích, hết tiền rồi mới đi làm lại. Người ta đổ thừa tại làm nghề ác đức “nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” nên không giữ được tiền.
Ở quê tôi không có tục lệ nam nữ hát hò đối đáp. Nhưng có những đêm trăng thanh vắng, gió hiu hiu thổi, vài thanh niên trong làng thường rủ nhau thả thuyền trên sông trăng, đờn ca cổ nhạc những điệu như xàng xê, lưu thủy hành vân, vọng cổ…v.v. Tiếng đàn, tiếng hát nghe dịu dàng, thanh thản làm sao!
Tôi cũng không bao giờ quên một chuyến ra đi từ dòng sông nầy. Sáng sớm hôm đó, mẹ và người chị thứ ba của tôi bơi chiếc xuồng ba lá chở xoài ra chợ Châu Đốc bán, nhân tiện đưa tôi ra ở nhà bà dì ruột tại chợ để đi học. Cha và mấy chị, em của tôi ra đứng ở bờ sông tiển tôi. Lần đầu tôi xa cha mẹ, chị em, xa nơi chôn nhau cắt rún, tôi buồn vô hạn. Bán xoài xong, mẹ và chị tôi chuẩn bị ra về, tôi cũng đòi về theo, mẹ tôi nói:
-Mầy đòi đi học, ổng (ba tôi) đồng ý, bây giờ mầy đòi về, ổng đánh mầy chết!
Tôi đành phải ở lại học. Tôi học ngày học đêm, học để bớt nhớ nhà. Nhưng mà học thì học mà nhớ vẫn nhớ, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ chị, nhớ em, nhớ cả chòm cây trước cửa, bụi chuối sau hè, nhớ dòng sông hiền hòa, nhớ chiếc đò tam bản, nhớ con chim cưởng ở nhà bà hàng xóm mà mỗi lần chị Hai tôi và tôi đi ngang nhà nó nhái y giọng bà chủ nhà hỏi:
-Hai, đi đâu đó Hai ?
Tôi nhớ đủ người, đủ vật. Nỗi nhớ nhung làm tôi chết điếng trong lòng. Khi học đến lớp Sơ Đẳng, tức là lớp Ba, đọc bài “Kẻ ở người đi” trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, tôi hết sức cảm phục tác giả đã bộc bạch được tâm trạng của một đứa trẻ đi xa nhà lần đầu:
“…Từ thuở bé đến giờ, chỉ quen vui thú ở nhà, nay tôi mới biết cái cảnh biệt ly là một! Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại: từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường!... Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”
*
* *
Tôi có trở về thăm Bắc Nam mấy lần nhân dịp nghỉ hè. Sau đó chiến tranh bùng nổ, gia đình tôi cùng cả làng tản cư, phần đất nầy trở về với người Miên, dòng sông Bắc Nam đối với tôi đã trở thành Dòng Sông Kỷ Niệm khó quên.
Sydney, Tháng 01/2007
LỚP ĐỆ THẤT ĐẦU TIÊN
LỚP ĐỆ THẤT ĐẦU TIÊN
Dương Văn Chung
Năm 1950, không nhớ rõ tháng mấy.
Suốt mấy ngày học sinh tụ tập rất đông ngoài rào cũng như trong sân trường Nam Tiểu Học tỉnh lỵ Châu Đốc để trông ngóng kết quả cuộc thi tuyển vào vào lớp Đệ Thất Trường Trung Học Châu Đốc.
Tin tức từ phòng chấm thi từng lúc được loan truyền: đang rọc phách…, đang chấm bài…, đang chấm lại…, đang ráp phách…, đang họp hội đồng…, đang lên danh sách…, đang kiểm tra lần cuối.
Cuối cùng, sự mong đợi đã đến. Ngày nọ, khoảng 3 giờ chiều, kết quả được công bố. Tôi được trúng tuyển vào lớp Đệ Thất đầu tiên của Trường Trung Học Châu Đốc. Gọi là “đầu tiên”, vì trước đó nền giáo dục tại Việt Nam đều dạy theo chương trinh Pháp, xem nặng Pháp văn, bảng tên lớp cũng ghi bằng chữ Pháp, như ở bậc tiểu học có Cours Enfantin (lớp Đồng Ấu hay lớp Năm), Cours Preparatoire (lớp Dự Bị hay là lớp Tư), Cours Elémentaire (lớp Sơ Đẳng hay lớp Ba), Cours Moyen (lớp Trung Đẳng hay lớp Nhì), Cours Supérieur (lớp Cao Đẳng hay lớp Nhứt), Cours Certifié (lớp Tiếp Liên). Ở bậc trung học có lớp Première Année (Năm thứ Nhứt), Deuxième Année (Năm thứ Hai)…Về chứng chỉ và văn bằng, học hết lớp Ba tiểu học phải thi để lấy chứng chỉ Sơ Đẳng Tiểu Học. Trong kỳ thi đó, nếu ai đậu thêm bài thi Pháp văn thì trên chứng chỉ ghi có “mention” (avec mention). Cuối lớp Nhứt tiểu học thi lấy chứng chỉ Tiểu Học Bổ Túc Đông Dương (Certificat D’Etude Primaire Complémentaire Indochinois, viết tắt là C.E.P.C.I.), có viết chánh tả và trả lời câu hỏi bằng Pháp văn. Ở bậc trung học, cuối năm thứ Tư thi lấy bằng Brevet du Premier Cycle ( Trung Học Đệ Nhứt Cấp) hoặc Diplôme (Bằng Thành Chung). Cuối bậc trung học, thi lấy bằng Tú Tài I và II (Baccalauréat). Ai đậu chứng chỉ C.E.P.C.I. có thể ra làm giáo viên hoặc thư ký rồi. Rất ít người đậu bằng Brevet hoặc Diplôme, đừng nói chi đến Baccalauréat, càng hiếm hoi hơn.
Bắt đầu từ niên học 1950/51, tôi thi vào trung học, chương trinh giáo dục Việt Nam được “chuyển ngữ” thành Việt ngữ, mặc dầu trong các kỳ thi Trung Học Đệ Nhứt Cấp (Thay cho bằng Brevet và Diplôme) và Tú Tài (thay cho Baccalauréat), Pháp văn và Anh văn vẫn còn được xem trọng, thi vừa viết, vừa vấn đáp.
Một thực tế hơi phũ phàng là rất nhiều người xem nhẹ chương trình Việt. Bao nhiêu năm sống dưới sự đô hộ của người Pháp, cái gì cũng của Tây, xài xe của Tây, đi Tây học, ở nhà Tây, nói tiếng Tây…Cái gì của Tây cũng tốt hơn của ta. Đó là chuyện hết sức bình thường, không có gì đáng chê trách. Buổi giao thời lúc vừa chuyển qua chương trình Việt, nhiều người giàu có cho con đi Sài Gòn hoặc Đà Lạt tiếp tục học chương trinh Pháp. Con nhà nghèo có phương tiện đâu mà đi, thôi đành ngâm những câu an ủi “ ta về ta tắm ao ta”, “chỗ quê hương đẹp hơn cả ”.
Bậc phụ huynh cũng có lý khi chịu tốn kém cho con đi xa tiếp tục học chương trình Pháp, vì bước đầu, sách giáo khoa bằng Việt ngữ rất hiếm hoi và không hoàn chỉnh, quý thầy cô giáo phải tự dịch bài từ tiếng Pháp ra, thiếu giáo viên trầm trọng. Quý thầy cô giáo tốt nghiệp sư phạm, đang dạy tiểu học như Bà Nguyễn Thị Mót, Thầy Châu Văn Đồng, Thầy Thái Văn Thân, Thầy Phan Cao Nhựt…v.v. được mời lên dạy lớp đệ Thất, Đệ Lục. Quý vị là những ân sư khai trí cho chúng tôi trong những năm đầu học trung học.
Ông Hiệu Trưởng đầu tiên của tôi ở bậc Trung học là Ông Đốc Phạm Ngọc Đa. Lúc bấy giờ Thầy Đa là Hội Trưởng Hội Thông Thiên Học Việt Nam, Thầy đã xây Bạch Vân Tịnh xá trên triền núi Sam để tôn trí một tượng Đức Phật Thích Ca, có lẽ lúc Ngài còn tu khổ hạnh, người rất khô gầy, đang tọa thiền. Thầy Đa là một trong những vị đã sang Ấn Độ để cung thỉnh một cây bồ đề nhỏ, con của cây bồ đề mẹ mà Đức Phật đã ngồi dưới gốc nhập định bốn mươi chín ngày rồi thành đạo. Trong lúc chờ đợi xây cất Bồ Đề Đạo Tràng, cây bồ đề nhỏ đó tạm để trong rào nhà Thầy Đa (đối diện với Trường Nam Tiểu Học Châu Đốc) thì bị người ta ban đêm lẻn vào chặt ngang. Thầy Phạm Ngọc Đa, Thầy Châu Văn Đồng, Thầy Lê Quang Điện và một số vị khác đã khổ công vun dưỡng lại cây bồ đề trước khi dời đến trồng tại Bồ Đề Đạo Tràng. Mới nhập học lớp Đệ Thất tôi đã có dịp đọc một bài thơ Đường luật, thất ngôn bát cú (tám câu, mỗi câu bảy chữ) của Thầy Phạm Ngọc Đa, bút hiệu Bạch Liên, khuyên mọi người tu hành, tôi quên mất sáu câu đầu, chỉ còn nhớ hai câu kết luận :
Bao nhiêu danh lợi bao nhiêu mộng
Một kiếp tu hành một kiếp chơn.
Tôi còn nhớ trường Trung học Châu Đốc có hai lớp Đệ Thất đầu tiên. Trường “ở nhờ” một dãy lớp của Trường Nam Tiểu học Châu Đốc, ngoài cổng bước vào, về phía trái. Căn đầu tiên là văn phòng, có treo cái trống chầu trước cửa dùng để báo giờ vào học, giờ chơi và giờ về. Kế đến là các lớp học theo chương trinh Pháp, rồi đến hai lớp đệ Thất chương trinh Việt. Trước dãy lớp học là sân quần vợt tráng xi măng để quý thầy đánh trong những ngày giờ nghỉ. Bên kia sân quần vợt là cây phượng vĩ, tàn lớn, hoa nở đỏ rực vào mùa hè.
Học sinh chưa có đồng phục, có gì mặc nấy, miễn là kín đáo, gọn gàng, kẻ đi giày dép, người đi guốc. Thỉnh thoảng có nam sinh mặc đồ bà ba trắng, đội nón cối đánh phấn trắng như học trò xưa, đi guốc dong. Nữ sinh thường để tóc dài kẹp hoặc để xõa phủ lưng. Có người xài cặp da, có người xài cặp đan bằng lá bàng gọi là cặp đệm. Mực tím đựng bình với ngòi viết lá tre và ngòi viết rong vẫn còn thông dụng, thỉnh thoảng có người xài viết máy hiệu Kalo, chưa thấy có viết nguyên tử.
Thời gian qua nhanh quá, tính từ lúc nhập học lớp Đệ Thất đến nay đã năm mươi sáu năm rồi, tôi không còn nhớ rõ Trường Trung học Châu Đốc đổi thành Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa từ bao giờ. Có người nói từ năm 1954, nhưng tôi nhớ hình như sớm hơn, lúc tôi học lớp Đệ Lục (1951/52) hoặc lớp Đệ Ngũ (1952/53), Thầy Ng.Gia Thi dạy nhạc đã đặt bản nhạc “Thủ Khoa Nghĩa” rồi. Trong bản nhạc đó có câu “Thủ Khoa Nghĩa, Thủ Khoa Nghĩa muôn năm ! ”.
Cuối năm Đệ Tứ (niên khóa 1953/54), chúng tôi đi Cần Thơ thi lấy bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp tại Trường Trung Học Phan Thanh Giản.
Học hết lớp Đệ Tam Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa chưa mở được lớp Đệ Nhị, chúng tôi đành ngậm ngùi tạm biệt ngôi trường cũ, mỗi người một ngả để tìm trường khác tiếp tục việc học.
Hơn nửa thế kỷ nhìn lại, những hình ảnh thân thương hiện về, khi tỏ khi mờ, vì đầu óc của một người “thất thập cổ lai hi” khi nhớ khi quên. Ngày nay trường Thủ Khoa Nghĩa đã xây cất lại ở một địa điểm mới, to lớn đẹp đẽ hơn, nhưng tôi vẫn luyến nhớ ngôi trường cũ như Bà Huyện Thanh Quan nhớ Thăng Long Thành:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Và tình thầy trò, tình đồng môn không hề lạt phai, giống như “Thủ Khoa Nghĩa , Thủ Khoa Nghĩa muôn năm”.
Dương Văn Chung
Năm 1950, không nhớ rõ tháng mấy.
Suốt mấy ngày học sinh tụ tập rất đông ngoài rào cũng như trong sân trường Nam Tiểu Học tỉnh lỵ Châu Đốc để trông ngóng kết quả cuộc thi tuyển vào vào lớp Đệ Thất Trường Trung Học Châu Đốc.
Tin tức từ phòng chấm thi từng lúc được loan truyền: đang rọc phách…, đang chấm bài…, đang chấm lại…, đang ráp phách…, đang họp hội đồng…, đang lên danh sách…, đang kiểm tra lần cuối.
Cuối cùng, sự mong đợi đã đến. Ngày nọ, khoảng 3 giờ chiều, kết quả được công bố. Tôi được trúng tuyển vào lớp Đệ Thất đầu tiên của Trường Trung Học Châu Đốc. Gọi là “đầu tiên”, vì trước đó nền giáo dục tại Việt Nam đều dạy theo chương trinh Pháp, xem nặng Pháp văn, bảng tên lớp cũng ghi bằng chữ Pháp, như ở bậc tiểu học có Cours Enfantin (lớp Đồng Ấu hay lớp Năm), Cours Preparatoire (lớp Dự Bị hay là lớp Tư), Cours Elémentaire (lớp Sơ Đẳng hay lớp Ba), Cours Moyen (lớp Trung Đẳng hay lớp Nhì), Cours Supérieur (lớp Cao Đẳng hay lớp Nhứt), Cours Certifié (lớp Tiếp Liên). Ở bậc trung học có lớp Première Année (Năm thứ Nhứt), Deuxième Année (Năm thứ Hai)…Về chứng chỉ và văn bằng, học hết lớp Ba tiểu học phải thi để lấy chứng chỉ Sơ Đẳng Tiểu Học. Trong kỳ thi đó, nếu ai đậu thêm bài thi Pháp văn thì trên chứng chỉ ghi có “mention” (avec mention). Cuối lớp Nhứt tiểu học thi lấy chứng chỉ Tiểu Học Bổ Túc Đông Dương (Certificat D’Etude Primaire Complémentaire Indochinois, viết tắt là C.E.P.C.I.), có viết chánh tả và trả lời câu hỏi bằng Pháp văn. Ở bậc trung học, cuối năm thứ Tư thi lấy bằng Brevet du Premier Cycle ( Trung Học Đệ Nhứt Cấp) hoặc Diplôme (Bằng Thành Chung). Cuối bậc trung học, thi lấy bằng Tú Tài I và II (Baccalauréat). Ai đậu chứng chỉ C.E.P.C.I. có thể ra làm giáo viên hoặc thư ký rồi. Rất ít người đậu bằng Brevet hoặc Diplôme, đừng nói chi đến Baccalauréat, càng hiếm hoi hơn.
Bắt đầu từ niên học 1950/51, tôi thi vào trung học, chương trinh giáo dục Việt Nam được “chuyển ngữ” thành Việt ngữ, mặc dầu trong các kỳ thi Trung Học Đệ Nhứt Cấp (Thay cho bằng Brevet và Diplôme) và Tú Tài (thay cho Baccalauréat), Pháp văn và Anh văn vẫn còn được xem trọng, thi vừa viết, vừa vấn đáp.
Một thực tế hơi phũ phàng là rất nhiều người xem nhẹ chương trình Việt. Bao nhiêu năm sống dưới sự đô hộ của người Pháp, cái gì cũng của Tây, xài xe của Tây, đi Tây học, ở nhà Tây, nói tiếng Tây…Cái gì của Tây cũng tốt hơn của ta. Đó là chuyện hết sức bình thường, không có gì đáng chê trách. Buổi giao thời lúc vừa chuyển qua chương trình Việt, nhiều người giàu có cho con đi Sài Gòn hoặc Đà Lạt tiếp tục học chương trinh Pháp. Con nhà nghèo có phương tiện đâu mà đi, thôi đành ngâm những câu an ủi “ ta về ta tắm ao ta”, “chỗ quê hương đẹp hơn cả ”.
Bậc phụ huynh cũng có lý khi chịu tốn kém cho con đi xa tiếp tục học chương trình Pháp, vì bước đầu, sách giáo khoa bằng Việt ngữ rất hiếm hoi và không hoàn chỉnh, quý thầy cô giáo phải tự dịch bài từ tiếng Pháp ra, thiếu giáo viên trầm trọng. Quý thầy cô giáo tốt nghiệp sư phạm, đang dạy tiểu học như Bà Nguyễn Thị Mót, Thầy Châu Văn Đồng, Thầy Thái Văn Thân, Thầy Phan Cao Nhựt…v.v. được mời lên dạy lớp đệ Thất, Đệ Lục. Quý vị là những ân sư khai trí cho chúng tôi trong những năm đầu học trung học.
Ông Hiệu Trưởng đầu tiên của tôi ở bậc Trung học là Ông Đốc Phạm Ngọc Đa. Lúc bấy giờ Thầy Đa là Hội Trưởng Hội Thông Thiên Học Việt Nam, Thầy đã xây Bạch Vân Tịnh xá trên triền núi Sam để tôn trí một tượng Đức Phật Thích Ca, có lẽ lúc Ngài còn tu khổ hạnh, người rất khô gầy, đang tọa thiền. Thầy Đa là một trong những vị đã sang Ấn Độ để cung thỉnh một cây bồ đề nhỏ, con của cây bồ đề mẹ mà Đức Phật đã ngồi dưới gốc nhập định bốn mươi chín ngày rồi thành đạo. Trong lúc chờ đợi xây cất Bồ Đề Đạo Tràng, cây bồ đề nhỏ đó tạm để trong rào nhà Thầy Đa (đối diện với Trường Nam Tiểu Học Châu Đốc) thì bị người ta ban đêm lẻn vào chặt ngang. Thầy Phạm Ngọc Đa, Thầy Châu Văn Đồng, Thầy Lê Quang Điện và một số vị khác đã khổ công vun dưỡng lại cây bồ đề trước khi dời đến trồng tại Bồ Đề Đạo Tràng. Mới nhập học lớp Đệ Thất tôi đã có dịp đọc một bài thơ Đường luật, thất ngôn bát cú (tám câu, mỗi câu bảy chữ) của Thầy Phạm Ngọc Đa, bút hiệu Bạch Liên, khuyên mọi người tu hành, tôi quên mất sáu câu đầu, chỉ còn nhớ hai câu kết luận :
Bao nhiêu danh lợi bao nhiêu mộng
Một kiếp tu hành một kiếp chơn.
Tôi còn nhớ trường Trung học Châu Đốc có hai lớp Đệ Thất đầu tiên. Trường “ở nhờ” một dãy lớp của Trường Nam Tiểu học Châu Đốc, ngoài cổng bước vào, về phía trái. Căn đầu tiên là văn phòng, có treo cái trống chầu trước cửa dùng để báo giờ vào học, giờ chơi và giờ về. Kế đến là các lớp học theo chương trinh Pháp, rồi đến hai lớp đệ Thất chương trinh Việt. Trước dãy lớp học là sân quần vợt tráng xi măng để quý thầy đánh trong những ngày giờ nghỉ. Bên kia sân quần vợt là cây phượng vĩ, tàn lớn, hoa nở đỏ rực vào mùa hè.
Học sinh chưa có đồng phục, có gì mặc nấy, miễn là kín đáo, gọn gàng, kẻ đi giày dép, người đi guốc. Thỉnh thoảng có nam sinh mặc đồ bà ba trắng, đội nón cối đánh phấn trắng như học trò xưa, đi guốc dong. Nữ sinh thường để tóc dài kẹp hoặc để xõa phủ lưng. Có người xài cặp da, có người xài cặp đan bằng lá bàng gọi là cặp đệm. Mực tím đựng bình với ngòi viết lá tre và ngòi viết rong vẫn còn thông dụng, thỉnh thoảng có người xài viết máy hiệu Kalo, chưa thấy có viết nguyên tử.
Thời gian qua nhanh quá, tính từ lúc nhập học lớp Đệ Thất đến nay đã năm mươi sáu năm rồi, tôi không còn nhớ rõ Trường Trung học Châu Đốc đổi thành Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa từ bao giờ. Có người nói từ năm 1954, nhưng tôi nhớ hình như sớm hơn, lúc tôi học lớp Đệ Lục (1951/52) hoặc lớp Đệ Ngũ (1952/53), Thầy Ng.Gia Thi dạy nhạc đã đặt bản nhạc “Thủ Khoa Nghĩa” rồi. Trong bản nhạc đó có câu “Thủ Khoa Nghĩa, Thủ Khoa Nghĩa muôn năm ! ”.
Cuối năm Đệ Tứ (niên khóa 1953/54), chúng tôi đi Cần Thơ thi lấy bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp tại Trường Trung Học Phan Thanh Giản.
Học hết lớp Đệ Tam Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa chưa mở được lớp Đệ Nhị, chúng tôi đành ngậm ngùi tạm biệt ngôi trường cũ, mỗi người một ngả để tìm trường khác tiếp tục việc học.
Hơn nửa thế kỷ nhìn lại, những hình ảnh thân thương hiện về, khi tỏ khi mờ, vì đầu óc của một người “thất thập cổ lai hi” khi nhớ khi quên. Ngày nay trường Thủ Khoa Nghĩa đã xây cất lại ở một địa điểm mới, to lớn đẹp đẽ hơn, nhưng tôi vẫn luyến nhớ ngôi trường cũ như Bà Huyện Thanh Quan nhớ Thăng Long Thành:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Và tình thầy trò, tình đồng môn không hề lạt phai, giống như “Thủ Khoa Nghĩa , Thủ Khoa Nghĩa muôn năm”.
RỜ RÂU
RỜ RÂU
Dương Văn Chung
Các bạn có nhớ không ? Ngày xưa, khổ công lắm mới cưới được vợ. Có người phải ở rễ, nghĩa là qua ở và làm công việc cho nhà vợ, suốt ba năm. Nhiều trường hợp sau ba năm ở rễ, cha mẹ vợ kiếm chuyện từ hôn. Đó là “làm rễ cố công mà không đặng vợ”.
Chàng thanh niên đi ở rễ phải chịu nhiều nỗi đắng cay, cực nhọc về thể xác chẳng ăn thua gì, sự dằn vặt về tinh thần mới là điều đáng kể. Còn cái khổ nào bằng
“Cám treo để heo nhịn đói”
gặp người trong mộng mỗi ngày mà chỉ có đá lông nheo, chớ không được tâm tình. Lạng quạng, bị coi như “ sai phạm nội quy ở rễ ”, phải tay không về nhà với mẹ. Mọi hành động đi đứng nằm ngồi, cách nói năng, ăn uống cũng đều phải cẩn trọng. Ban đêm chàng thanh niên ở rễ phải ngủ nhà ngoài.
Chú rễ và cô dâu tương lai thường không có tình cảm với nhau trước. Nhưng trong thời gian dài sống trong một căn nhà thường hay sanh ra có tình ý với nhau, họ tìm cách gần gũi nhau, mà sợ mẹ rầy, mới hát dặn dò:
Chuột kêu chút chit trong rương
Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay.
Chàng thanh niên mới trả lời nho nhỏ:
Mẹ hay mẹ hỏi anh đi đâu?
-Con đi hốt muối cho mèo ăn cơm.
Có lẽ câu trả lời nầy mô tả sự cuống quit , sợ hải của chú rễ tương lai bị phát giác “phá rào”.
Trường hợp của tôi thì khác, lúc chưa đám cưới, tôi khỏi phải làm rễ cố công, mà thuộc loại “chuột sa hũ gạo”. Vợ tôi là con một, bà nhạc tôi thương tôi như con trai của bà. Cứ vài ngày bà làm thức ăn ngon kêu tôi qua ăn. Ông nhạc tôi cũng thương tôi lắm, nhưng ông rất nghiêm, ít nói và rất trọng lễ giáo, tôi “ớn” ông lắm. Có lần qua nhà thăm, tôi ngồi gần ông cả buổi, không ai nói lời nào, thật là khó chịu, tôi chợt nhớ một chuyện vui mà mấy người từng trải đặt ra, rồi tôi thấm thía cười thầm. Chuyện như vầy:
Có một anh chàng rễ tương lai, qua thăm nhà vợ. Ngồi cả buổi không tìm ra việc gì để gợi chuyện với ông nhạc. Chợt nhìn ra ngoài sân, anh mừng quá, thấy bầy vịt đang ngủ, con nào cũng rút một chưn lên, anh tính báo cho ông nhạc một chuyện lạ “con vịt có một chưn”:
- Thưa cha !
Vì tiếng “Thưa cha” lớn quá, bầy vịt đang ngủ giựt mình tỉnh dậy, để chưn kia xuống, anh chàng lỡ trớn, nói luôn:
- Thưa cha! Con vịt hai chưn.
Đã làm lễ hỏi rồi thì coi như con rễ trong nhà. Ngày mồng một Tết, ông nhạc tôi dạy phải mặc áo dài khăn đống giống như ông, cha con đi ngang qua cái chợ để đến mừng tuổi bà nội vợ. Mặc dầu y phục cổ truyền thật đáng quý, nhưng thời đại mới, ít người mặc, bao nhiêu cặp mắt trong chợ đổ dồn về mình, tôi nổi da gà quá.
Chưa hết, đến ngày đám cưới, mấy chú bác trong xóm nói với tôi:
- Để rồi coi, trong ngày cưới thế nào mầy cũng rờ râu.
Tôi không tin. Nhưng trong khi đến nhà đàng gái, người lớn đang chuẩn bị sắp xếp nghi lễ, tôi theo tục lệ, phải đứng khoanh tay trước bàn thờ gia tiên. Hồi lâu hai bàn tay dư thừa quá không biết làm gì, vô tình đưa bàn tay lên mép xoa xoa, tôi chợt hiểu:
- Thì ra rờ râu là như vậy đó !
Sydney, mùa Xuân 2006
Dương Văn Chung
Các bạn có nhớ không ? Ngày xưa, khổ công lắm mới cưới được vợ. Có người phải ở rễ, nghĩa là qua ở và làm công việc cho nhà vợ, suốt ba năm. Nhiều trường hợp sau ba năm ở rễ, cha mẹ vợ kiếm chuyện từ hôn. Đó là “làm rễ cố công mà không đặng vợ”.
Chàng thanh niên đi ở rễ phải chịu nhiều nỗi đắng cay, cực nhọc về thể xác chẳng ăn thua gì, sự dằn vặt về tinh thần mới là điều đáng kể. Còn cái khổ nào bằng
“Cám treo để heo nhịn đói”
gặp người trong mộng mỗi ngày mà chỉ có đá lông nheo, chớ không được tâm tình. Lạng quạng, bị coi như “ sai phạm nội quy ở rễ ”, phải tay không về nhà với mẹ. Mọi hành động đi đứng nằm ngồi, cách nói năng, ăn uống cũng đều phải cẩn trọng. Ban đêm chàng thanh niên ở rễ phải ngủ nhà ngoài.
Chú rễ và cô dâu tương lai thường không có tình cảm với nhau trước. Nhưng trong thời gian dài sống trong một căn nhà thường hay sanh ra có tình ý với nhau, họ tìm cách gần gũi nhau, mà sợ mẹ rầy, mới hát dặn dò:
Chuột kêu chút chit trong rương
Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay.
Chàng thanh niên mới trả lời nho nhỏ:
Mẹ hay mẹ hỏi anh đi đâu?
-Con đi hốt muối cho mèo ăn cơm.
Có lẽ câu trả lời nầy mô tả sự cuống quit , sợ hải của chú rễ tương lai bị phát giác “phá rào”.
Trường hợp của tôi thì khác, lúc chưa đám cưới, tôi khỏi phải làm rễ cố công, mà thuộc loại “chuột sa hũ gạo”. Vợ tôi là con một, bà nhạc tôi thương tôi như con trai của bà. Cứ vài ngày bà làm thức ăn ngon kêu tôi qua ăn. Ông nhạc tôi cũng thương tôi lắm, nhưng ông rất nghiêm, ít nói và rất trọng lễ giáo, tôi “ớn” ông lắm. Có lần qua nhà thăm, tôi ngồi gần ông cả buổi, không ai nói lời nào, thật là khó chịu, tôi chợt nhớ một chuyện vui mà mấy người từng trải đặt ra, rồi tôi thấm thía cười thầm. Chuyện như vầy:
Có một anh chàng rễ tương lai, qua thăm nhà vợ. Ngồi cả buổi không tìm ra việc gì để gợi chuyện với ông nhạc. Chợt nhìn ra ngoài sân, anh mừng quá, thấy bầy vịt đang ngủ, con nào cũng rút một chưn lên, anh tính báo cho ông nhạc một chuyện lạ “con vịt có một chưn”:
- Thưa cha !
Vì tiếng “Thưa cha” lớn quá, bầy vịt đang ngủ giựt mình tỉnh dậy, để chưn kia xuống, anh chàng lỡ trớn, nói luôn:
- Thưa cha! Con vịt hai chưn.
Đã làm lễ hỏi rồi thì coi như con rễ trong nhà. Ngày mồng một Tết, ông nhạc tôi dạy phải mặc áo dài khăn đống giống như ông, cha con đi ngang qua cái chợ để đến mừng tuổi bà nội vợ. Mặc dầu y phục cổ truyền thật đáng quý, nhưng thời đại mới, ít người mặc, bao nhiêu cặp mắt trong chợ đổ dồn về mình, tôi nổi da gà quá.
Chưa hết, đến ngày đám cưới, mấy chú bác trong xóm nói với tôi:
- Để rồi coi, trong ngày cưới thế nào mầy cũng rờ râu.
Tôi không tin. Nhưng trong khi đến nhà đàng gái, người lớn đang chuẩn bị sắp xếp nghi lễ, tôi theo tục lệ, phải đứng khoanh tay trước bàn thờ gia tiên. Hồi lâu hai bàn tay dư thừa quá không biết làm gì, vô tình đưa bàn tay lên mép xoa xoa, tôi chợt hiểu:
- Thì ra rờ râu là như vậy đó !
Sydney, mùa Xuân 2006
HIẾU HẠNH
HIẾU HẠNH
TRONG NHO GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
Dương Văn Chung
Trẻ con Việt Nam mới biết nói đã học thuộc lòng:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Tâm hiếu hạnh có lẽ phát sinh từ sự giáo dục ngay buổi ban đầu, “dạy con từ thuở còn thơ ” và do tình cảm gia đình gắn bó với nhau, cha mẹ yêu thương đùm bọc, giúp đỡ con cái, nên con cái cũng thương yêu giúp đỡ cha mẹ. Trong một xã hội mà ai cũng tôn trọng đạo hiếu, đặt chữ hiếu lên hàng đầu thì đạo hiếu trở thành truyền thống. Ai hiếu hạnh thì được nễ trọng, còn ai ngỗ nghịch với cha mẹ thì bị người đời chê bai, nguyền rủa.
Lòng hiếu hạnh của người Việt Nam còn được Nho giáo và Phật giáo vun bồi.
I-HIẾU HẠNH TRONG NHO GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
A-HIẾU HẠNH TRONG NHO GIÁO
Nho giáo dạy rằng cha mẹ sanh và nuôi dưỡng ta thật khó nhọc, công ơn đó như trời rộng mênh mông, báo đáp chẳng bao giờ hết được.
Đức Khổng Tử nói:
Thân thể phác phu thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương hiếu chi thỉ dã, lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu hiếu chi chung dã.
Thân thể tóc da thọ nhận của cha mẹ, mình không dám làm cho tổn hại, lập mình giữ đạo để tiếng tốt về sau, làm rạng danh cha mẹ, là hiếu hạnh đó.
Tự hủy thân mình hoặc để cho kẻ khác hành hạ mình hay làm điều điếm nhục gia phong, sẽ làm cho cha mẹ đau đớn khổ sở vô cùng là bất hiếu.
Làm con phải biết vâng lời cha mẹ, đi thưa về trình để cha mẹ biết mình đi nơi nào, lúc nào, về lúc nào để cha mẹ an tâm.
Cha mẹ còn sống, không được đi xa
Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du
Luôn luôn gần gũi phụng dưỡng, quạt nồng ấp lạnh, sớm thăm tối viếng cha mẹ.
Lúc cha mẹ đã qua đời, con cái phải để tang và thành kính phụng thờ.
Nho giáo còn răn người đời phải hiếu hạnh để con cháu noi theo:
…Hiếu thuận hoàn sanh hiếu thuận tử, ngỗ nghịch hoàn sanh ngỗ nghịch nhi, bất tín đãn khán thiềm đầu thủy, điểm điểm trích trích bất sai di.
Ăn ở hiếu thuận thì sanh con hiếu thuận, ngỗ nghịch thì sanh con ngỗ nghịch, chẳng tin thì xem nước đầu thềm, nhỏ giọt nhỏ giọt đúng một chỗ (không sai dời).
Nhị Thập Tứ Hiếu do Ông Lý Văn Phức diễn âm đã nêu lên gương sáng hiếu hạnh của 24 hiền nhân, trong đó có Ngu Thuấn, Tăng Tử, Mẫn Tử Khiêm, Tử Lộ…v.v. mà ta đã từng nghe danh.
Ngày nay hoàn cảnh đã đổi thay, nên tôn chỉ của Nho Giáo có nhiều điều không còn thích hợp để ứng dụng trong thực tế. Nhưng chủ trương về hiếu hạnh của Nho giáo đã vun bồi rất nhiều cho lòng hiếu hạnh của người Việt Nam.
B-HIẾU HẠNH TRONG PHẬT GIÁO
Theo Kinh “Nhẫn Nhục”: Điều thiện tối cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu. Cho nên người Phật tử giữ hạnh hiếu đối với cha mẹ là điều căn bản. Thực hành hiếu đạo là con đường giải thoát của chánh pháp.
Phật giáo cũng dạy chúng ta vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ lúc còn sống, ăn hiền ở lành để cha mẹ được an tâm, nhưng sâu sắc hơn Nho giáo ở chỗ:
•Lúc cha mẹ còn sống, khuyên cha mẹ tu tĩnh, làm việc phước thiện, đi theo chánh pháp.
•Khi cha mẹ mất rồi, con phải tiếp tục làm điều lành để hồi hướng công đức cho cha mẹ và cầu siêu cho cha mẹ. Cha mẹ nói đây gồm cha mẹ đời nầy và cha mẹ nhiều kiếp trong quá khứ. Người xuất gia, tu hành đắc đạo, ra giáo hóa khuyến tấn người đời phát tâm tu hành theo chánh pháp, chuyển tâm ác thành thiện. Người đời nói đây có thể là cha mẹ mình từ nhiều kiếp (Xin xem Phần duyên khởi Kinh Báo Ân Cha Mẹ). Như vậy, một người xuất gia đắc đạo là một người đại hiếu, giúp cho cha mẹ nhiều đời thấm nhuần giáo lý của Đức Phật mà được siêu sanh.
•Phật giáo giải thích rõ và cụ thể cha mẹ đã cực khổ với ta như thế nào.
Rất nhiều quyển kinh nói đến hiếu hạnh, nhưng gần gũi với Phật tử nhứt là Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ thường tụng trong mùa Vu lan Báo hiếu.
A-Kinh Vu Lan Bồn
1. Nội dung kinh:
•Nói về Tôn giả Mục Kiền Liên, một đệ tử xuất sắc của Phật, sau khi đắc đạo, dùng năng lực thần thông soi thấy mẹ mình là Bà Thanh Đề sinh trong ngạ quỷ, đói khát. Tôn giả lấy bát đựng cơm, đem đến dâng hiến cho mẹ. Mẹ Ngài thấy cơm, lòng tham khởi lên, một tay che bát, một tay bốc ăn, nhưng cơm chưa tới miệng đã hóa ra lửa, nên bà không ăn được.
•Tôn giả xin Phật chỉ dạy làm cách nào để cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ ngạ quỷ. Đức Phật dạy vào ngày rằm tháng bảy là ngày chư tăng tập trung tự tứ sau ba tháng an cư kiết hạ thanh tịnh, hãy sắm sửa lễ vật cúng dường chư tăng, nhờ chư tăng chú nguyện để mẹ của tôn giả thoát được khổ. Tôn giả y theo lời Phật dạy và đã cứu được mẹ.
•Tôn giả xin Phật cho phép Phật tử từ đó về sau được cúng dường Vu Lan để báo đền ơn cha mẹ. Ngày rằm tháng bảy vì vậy đã trở thành ngày truyền thống báo hiếu của Phật giáo.
2. Ý nghĩa của phương pháp báo hiếu trong kinh
•Ý nghĩa bát cơm hóa lửa:
Lửa tượng trưng cho những thế lực tối tăm như lòng tham, sân, si. Do nghiệp tham lam, bỏn xẻn, bà Thanh Đề chống đối việc cúng dường chư tăng, phải nhận cái quả là đọa vào đường ngạ quỷ đói khát. Khi thấy cơm, bà phát lòng tham lam mãnh liệt, như một ngọn lửa bùng cháy, một tay che lại vì sợ người khác cướp lấy bát cơm, một tay bốc cơm ăn vội vàng. Ngọn lửa đó là lửa tâm thức, lửa tham, không phải là lửa thật bên ngoài. Tôn giả có thần thông, nhưng thần thông không xóa được luật nhân quả, nghiệp báo của mẹ.
•Ý nghĩa chư tăng chú nguyện:
Mỗi cá nhân gieo một cái nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) thì tự mình phải trả cái quả. Một khi đã thấy lỗi lầm của mình gây ra thì tự mình phải thành tâm sám hối sửa chữa thì nghiệp mới tiêu tan. Thần lực của chư tăng không có khả năng xóa bỏ tội lỗi của bà Thanh Đề tạo ra, mà chỉ trợ duyên cho bà thấy lỗi lầm, phát khởi thiện tâm và tự sửa mình để cải nghiệp.
•Ý nghĩa chọn ngày tự tứ nhờ chư tăng chú nguyện:
Lễ Tự tứ diễn ra khi mãn khóa tu ba tháng An cư kiết hạ. Lúc đó tinh thần của chư tăng rất thanh tịnh, sáng suốt, lời chú nguyện hiệu nghiệm hơn ngày thường.
B-Kinh Báo Ân Cha Mẹ
1. Nội dung kinh: Gồm có 6 phần:
•Phần duyên khởi: Đức Phật trong lúc đi đường gặp một đống xương khô, liền đảnh lễ sát đất. Ngài A Nan, một đệ tử của Phật, ngạc nhiên hỏi lý do gì mà Phật lễ đống xương khô. Phật dạy đống xương khô nầy có thể là xương của ông bà cha me Ngài kiếp trước, nên Phật mới chí tâm đảnh lễ.
Căn cứ theo vòng luân hồi, Đức Phật dạy: “ Ta thấy tất cả chúng sanh không ai không phải là cha mẹ của nhau, hoặc là ở trong quá khứ, hoặc ở hiện tại, hoặc ở tương lai”.
•Đức Phật dạy ân đức của cha mẹ có 10 điều:
a. ân giữ gìn mang thai trong 9 tháng
b. ân sinh sản khổ sở
c. ân sinh rồi quên lo
d. ân nuốt đắng nhổ ngọt
e. ân nhường khô nằm ướt
f. ân bú mớm nuôi nấng
g. ân tắm rửa chăm sóc
h. ân xa cách thương nhớ
i. ân vì con làm ác
j. ân thương mến trọn đời
•Đức Phật dạy về sự bất hiếu của con cái:
a. ai nói hỗn hào với cha mẹ, xấc xược với anh em, chú bác, bà-con…v.v.
b. Không tuân theo lời dạy của cha mẹ, thầy bạn và các bậc trưởng thượng trong gia tộc.
c. Theo bạn bè xấu ác, từ bỏ gia đình đi hoang, gây tạo tội lỗi làm cho cha mẹ, bà-con buồn khổ.
d. Không lo học tập, xao lãng nghề nghiệp, không tạo dựng được một đời sống vững chắc, làm cha mẹ lo lắng.
e. Không phụng sự cha mẹ về vật chất, không an ủi về mặt tinh thần, coi thường cha mẹ, coi trọng vợ con.
•Đức Phật dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp dù con cái báo hiếu bằng các cách như:
a. Vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, cắt da đến xương, nghiền xương thấu tủy, máu đổ thịt rơi cũng không đáp được công ơn cha mẹ.
b. Giả như có ai gặp lúc đói khát, phá hoại thân thể, cung phụng cha mẹ cũng không đáp được công ơn cha mẹ.
c. Vì cha mẹ mà trăm kiếp nghìn đời, đâm tròng con mắt, cắt hết tâm can, trăm nghìn dao sắc xuất nhập toàn thân cũng không trả nổi công ơn cha mẹ.
d. Dù vì cha mẹ, đốt thân làm đèn cúng dường chư Phật cũng không đáp được công ơn cha mẹ.
•Đức Phật dạy về phương pháp báo hiếu:
a. Ngoài việc cung phụng cha mẹ về mặt vật chất và an ủi tinh thần mà ai cũng biết, chúng ta phải :
b. Khuyến hóa cha mẹ thực hành thiện pháp.
c. Phải vì cha mẹ mà thực hành tịnh giới, bố thí, làm các việc lợi ích cho mọi người.
d. Phải truyền bá tư tưởng hiếu đạo nầy cho nhiều người được lợi ích.
•Phần kết thúc:
a. Đức Phật khích lệ tinh thần báo hiếu.
b. Đại chúng phát nguyện vâng lời Phật dạy.
c. Đặt tên kinh là Kinh Báo Ân Cha Mẹ.
2. Ý nghĩa báo hiếu và phương pháp báo hiếu trong kinh Báo Ân Cha Mẹ
•Ý nghĩa báo hiếu của kinh
a. Ý nghĩa về duyên khởi:
Đối với đạo Phật, tất cả chúng sanh đều nằm trong vòng sanh tử luân hồi, có thể người ở kiếp nầy là người thân, là ông bà, cha mẹ hay thân nhân của ta trong những kiếp trước. Cho nên nhìn đống xương tàn mà liên tưởng đến xương của người thân của mình là một điều bình thường trong giáo lý Phật giáo. Do đó, Phật giáo không những đề cao công ơn cha mẹ mà còn mở rộng phạm vi nhớ ơn quốc gia, xã hội và tất cả chúng sanh.
b. Ý nghĩa về công ơn cha mẹ:
Công ơn cha mẹ rất lớn lao, không sao đền đáp được. Đạo Phật rất coi trọng hiếu đạo. Kinh Đại Tập dạy:
“Ở thời không có Phật, thờ kính cha mẹ tức là thờ kính Phật”
•Phương pháp báo hiếu trong kinh:
Kinh dạy phương pháp báo hiếu:
a. Ngoài việc cung phụng vật chất, cần khuyên cha mẹ thực hành chánh pháp, có lòng tin Tam bảo.
b. Vì cha mẹ thực hành tịnh giới, bố thí và các công tác lợi ích cho con người và xã hội.
c. Truyền bá tư tưởng hiếu đạo cho mọi người.
II-MỘT SỐ TẤM GƯƠNG SÁNG VÈ HIẾU HẠNH
1. Đức Phật Thích Ca
Sau khi thành đạo, hay tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng trở về hoàng cung thăm viếng. Mỗi ngày Đức Phật vào cung vấn an phụ hoàng ba lần, mỗi lần như vậy Ngài đều có thuyết pháp, giảng đạo cho vua cha. Nhờ đó vua được đắc quả A La Hán. Đích thân Đức Phật tắm rửa cho vua cha, thay đổi xiêm y , làm lễ nhập kim quan và lễ trà tỳ, nhặt xá lợi đem về làm lễ nhập tháp.
Ngài cũng đã dùng thần lực lên cõi trời Đao Lợi để tiếp độ mẫu thân và tại đó Ngài an cư kiết hạ trong suốt ba tháng. Đức Phật đã thuyết giảng tạng A Tỳ Đàm cho mẫu thân nghe và người đã chứng quả Tu Đà Huờn.
2. Tôn giả Mục Kiền Liên
Như đã trình bày trên.
3. Vua Lý Nhân Tông (1072-1127)
Đã bãi dịp Trung Nguyên yến ẩm chúc tụng của bá quan đối với mình để làm lễ Vu Lan Bồn, cầu siêu cho mẹ theo đúng ý nghĩa Phật giáo.
4. Vua Lý Thần Tông (1128-1138)
Cũng bỏ yến ẩm chúc tụng của bá quan dâng biểu ở điện Thiên Ân vào dịp lễ Trung Nguyên để thiết lễ đại trai đàn, cầu siêu cho phụ hoàng theo nghi thức Phật giáo.
5. Vua Tự Đức (1829-1882)
Một hôm đi săn bắn chim rừng ở Thuận Trực, An Nong, gặp nước lũ, thuyền vua về chậm, Thái hậu sai quân đem thuyền đi đón. Về đến Thương Bạc, vua vội vã về cung, chỉnh trang y phục, sang chầu mẫu hậu. Thái hậu giận, xoay mặt vào vách.Vua Tự Đức tự gác cây roi mây trên lưng mình chịu tội. Thái hậu quay mặt ra lấy tay hất cây roi và quở trách nặng lời. Đêm đó, vâng lời mẹ, vua thức suốt đêm để phê tấu chương. Từ đó về sau, vua không còn bỏ bê việc triều chính nữa.
6. Hòa Thượng Nhất Định (1784-1847)
Đã 60 tuổi vẫn ngày ngày tự mình ra chợ Bến Ngự mua cá lên An Dưỡng am (nay là chùa Từ Hiếu) để nuôi mẹ già 80 tuổi.Vua Tự Đức biết được chuyện đó, vô cùng cảm phục và sửa tên An Dưỡng am thành chùa Từ Hiếu, mang ý nghĩa mẹ ăn ở hiền lành, con hiếu thảo, “mẫu từ tử hiếu”.
x
x x
Tóm lại, đứng trên quan điểm Phật giáo, sự hiếu thuận với cha mẹ lan rộng thành hiếu thuận với tất cả chúng sanh. Nếu ai cũng giữ được truyền thống đó thì thế gian nầy không còn mâu thuẫn, xung đột, mà chỉ có tình thương, sự tương thân, tương kính. Thật là an lạc, hạnh phúc biết bao !
Tài liệu tham khảo:
1.Minh Tâm Bửu Giám-Trương Vĩnh Ký dịch
2.Nhị Thập Tứ Hiếu-Lý Văn Phức diễn âm
3.Chữ Hiếu trong Đạo Phật qua Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ-Thích Viên Giác (Đạo Phật Ngày Nay)
4.Truyền thống Đạo hiếu của người Việt Nam-Hà Xuân Liêm
5.Chữ Hiếu theo quan niệm của Phật giáo Nam tông-Tỳ Kheo Thiện Minh
6.Truyền thống Vu lan Báo hiếu-Thích Thông Huệ
TRONG NHO GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
Dương Văn Chung
Trẻ con Việt Nam mới biết nói đã học thuộc lòng:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Tâm hiếu hạnh có lẽ phát sinh từ sự giáo dục ngay buổi ban đầu, “dạy con từ thuở còn thơ ” và do tình cảm gia đình gắn bó với nhau, cha mẹ yêu thương đùm bọc, giúp đỡ con cái, nên con cái cũng thương yêu giúp đỡ cha mẹ. Trong một xã hội mà ai cũng tôn trọng đạo hiếu, đặt chữ hiếu lên hàng đầu thì đạo hiếu trở thành truyền thống. Ai hiếu hạnh thì được nễ trọng, còn ai ngỗ nghịch với cha mẹ thì bị người đời chê bai, nguyền rủa.
Lòng hiếu hạnh của người Việt Nam còn được Nho giáo và Phật giáo vun bồi.
I-HIẾU HẠNH TRONG NHO GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
A-HIẾU HẠNH TRONG NHO GIÁO
Nho giáo dạy rằng cha mẹ sanh và nuôi dưỡng ta thật khó nhọc, công ơn đó như trời rộng mênh mông, báo đáp chẳng bao giờ hết được.
Đức Khổng Tử nói:
Thân thể phác phu thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương hiếu chi thỉ dã, lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu hiếu chi chung dã.
Thân thể tóc da thọ nhận của cha mẹ, mình không dám làm cho tổn hại, lập mình giữ đạo để tiếng tốt về sau, làm rạng danh cha mẹ, là hiếu hạnh đó.
Tự hủy thân mình hoặc để cho kẻ khác hành hạ mình hay làm điều điếm nhục gia phong, sẽ làm cho cha mẹ đau đớn khổ sở vô cùng là bất hiếu.
Làm con phải biết vâng lời cha mẹ, đi thưa về trình để cha mẹ biết mình đi nơi nào, lúc nào, về lúc nào để cha mẹ an tâm.
Cha mẹ còn sống, không được đi xa
Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du
Luôn luôn gần gũi phụng dưỡng, quạt nồng ấp lạnh, sớm thăm tối viếng cha mẹ.
Lúc cha mẹ đã qua đời, con cái phải để tang và thành kính phụng thờ.
Nho giáo còn răn người đời phải hiếu hạnh để con cháu noi theo:
…Hiếu thuận hoàn sanh hiếu thuận tử, ngỗ nghịch hoàn sanh ngỗ nghịch nhi, bất tín đãn khán thiềm đầu thủy, điểm điểm trích trích bất sai di.
Ăn ở hiếu thuận thì sanh con hiếu thuận, ngỗ nghịch thì sanh con ngỗ nghịch, chẳng tin thì xem nước đầu thềm, nhỏ giọt nhỏ giọt đúng một chỗ (không sai dời).
Nhị Thập Tứ Hiếu do Ông Lý Văn Phức diễn âm đã nêu lên gương sáng hiếu hạnh của 24 hiền nhân, trong đó có Ngu Thuấn, Tăng Tử, Mẫn Tử Khiêm, Tử Lộ…v.v. mà ta đã từng nghe danh.
Ngày nay hoàn cảnh đã đổi thay, nên tôn chỉ của Nho Giáo có nhiều điều không còn thích hợp để ứng dụng trong thực tế. Nhưng chủ trương về hiếu hạnh của Nho giáo đã vun bồi rất nhiều cho lòng hiếu hạnh của người Việt Nam.
B-HIẾU HẠNH TRONG PHẬT GIÁO
Theo Kinh “Nhẫn Nhục”: Điều thiện tối cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu. Cho nên người Phật tử giữ hạnh hiếu đối với cha mẹ là điều căn bản. Thực hành hiếu đạo là con đường giải thoát của chánh pháp.
Phật giáo cũng dạy chúng ta vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ lúc còn sống, ăn hiền ở lành để cha mẹ được an tâm, nhưng sâu sắc hơn Nho giáo ở chỗ:
•Lúc cha mẹ còn sống, khuyên cha mẹ tu tĩnh, làm việc phước thiện, đi theo chánh pháp.
•Khi cha mẹ mất rồi, con phải tiếp tục làm điều lành để hồi hướng công đức cho cha mẹ và cầu siêu cho cha mẹ. Cha mẹ nói đây gồm cha mẹ đời nầy và cha mẹ nhiều kiếp trong quá khứ. Người xuất gia, tu hành đắc đạo, ra giáo hóa khuyến tấn người đời phát tâm tu hành theo chánh pháp, chuyển tâm ác thành thiện. Người đời nói đây có thể là cha mẹ mình từ nhiều kiếp (Xin xem Phần duyên khởi Kinh Báo Ân Cha Mẹ). Như vậy, một người xuất gia đắc đạo là một người đại hiếu, giúp cho cha mẹ nhiều đời thấm nhuần giáo lý của Đức Phật mà được siêu sanh.
•Phật giáo giải thích rõ và cụ thể cha mẹ đã cực khổ với ta như thế nào.
Rất nhiều quyển kinh nói đến hiếu hạnh, nhưng gần gũi với Phật tử nhứt là Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ thường tụng trong mùa Vu lan Báo hiếu.
A-Kinh Vu Lan Bồn
1. Nội dung kinh:
•Nói về Tôn giả Mục Kiền Liên, một đệ tử xuất sắc của Phật, sau khi đắc đạo, dùng năng lực thần thông soi thấy mẹ mình là Bà Thanh Đề sinh trong ngạ quỷ, đói khát. Tôn giả lấy bát đựng cơm, đem đến dâng hiến cho mẹ. Mẹ Ngài thấy cơm, lòng tham khởi lên, một tay che bát, một tay bốc ăn, nhưng cơm chưa tới miệng đã hóa ra lửa, nên bà không ăn được.
•Tôn giả xin Phật chỉ dạy làm cách nào để cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ ngạ quỷ. Đức Phật dạy vào ngày rằm tháng bảy là ngày chư tăng tập trung tự tứ sau ba tháng an cư kiết hạ thanh tịnh, hãy sắm sửa lễ vật cúng dường chư tăng, nhờ chư tăng chú nguyện để mẹ của tôn giả thoát được khổ. Tôn giả y theo lời Phật dạy và đã cứu được mẹ.
•Tôn giả xin Phật cho phép Phật tử từ đó về sau được cúng dường Vu Lan để báo đền ơn cha mẹ. Ngày rằm tháng bảy vì vậy đã trở thành ngày truyền thống báo hiếu của Phật giáo.
2. Ý nghĩa của phương pháp báo hiếu trong kinh
•Ý nghĩa bát cơm hóa lửa:
Lửa tượng trưng cho những thế lực tối tăm như lòng tham, sân, si. Do nghiệp tham lam, bỏn xẻn, bà Thanh Đề chống đối việc cúng dường chư tăng, phải nhận cái quả là đọa vào đường ngạ quỷ đói khát. Khi thấy cơm, bà phát lòng tham lam mãnh liệt, như một ngọn lửa bùng cháy, một tay che lại vì sợ người khác cướp lấy bát cơm, một tay bốc cơm ăn vội vàng. Ngọn lửa đó là lửa tâm thức, lửa tham, không phải là lửa thật bên ngoài. Tôn giả có thần thông, nhưng thần thông không xóa được luật nhân quả, nghiệp báo của mẹ.
•Ý nghĩa chư tăng chú nguyện:
Mỗi cá nhân gieo một cái nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) thì tự mình phải trả cái quả. Một khi đã thấy lỗi lầm của mình gây ra thì tự mình phải thành tâm sám hối sửa chữa thì nghiệp mới tiêu tan. Thần lực của chư tăng không có khả năng xóa bỏ tội lỗi của bà Thanh Đề tạo ra, mà chỉ trợ duyên cho bà thấy lỗi lầm, phát khởi thiện tâm và tự sửa mình để cải nghiệp.
•Ý nghĩa chọn ngày tự tứ nhờ chư tăng chú nguyện:
Lễ Tự tứ diễn ra khi mãn khóa tu ba tháng An cư kiết hạ. Lúc đó tinh thần của chư tăng rất thanh tịnh, sáng suốt, lời chú nguyện hiệu nghiệm hơn ngày thường.
B-Kinh Báo Ân Cha Mẹ
1. Nội dung kinh: Gồm có 6 phần:
•Phần duyên khởi: Đức Phật trong lúc đi đường gặp một đống xương khô, liền đảnh lễ sát đất. Ngài A Nan, một đệ tử của Phật, ngạc nhiên hỏi lý do gì mà Phật lễ đống xương khô. Phật dạy đống xương khô nầy có thể là xương của ông bà cha me Ngài kiếp trước, nên Phật mới chí tâm đảnh lễ.
Căn cứ theo vòng luân hồi, Đức Phật dạy: “ Ta thấy tất cả chúng sanh không ai không phải là cha mẹ của nhau, hoặc là ở trong quá khứ, hoặc ở hiện tại, hoặc ở tương lai”.
•Đức Phật dạy ân đức của cha mẹ có 10 điều:
a. ân giữ gìn mang thai trong 9 tháng
b. ân sinh sản khổ sở
c. ân sinh rồi quên lo
d. ân nuốt đắng nhổ ngọt
e. ân nhường khô nằm ướt
f. ân bú mớm nuôi nấng
g. ân tắm rửa chăm sóc
h. ân xa cách thương nhớ
i. ân vì con làm ác
j. ân thương mến trọn đời
•Đức Phật dạy về sự bất hiếu của con cái:
a. ai nói hỗn hào với cha mẹ, xấc xược với anh em, chú bác, bà-con…v.v.
b. Không tuân theo lời dạy của cha mẹ, thầy bạn và các bậc trưởng thượng trong gia tộc.
c. Theo bạn bè xấu ác, từ bỏ gia đình đi hoang, gây tạo tội lỗi làm cho cha mẹ, bà-con buồn khổ.
d. Không lo học tập, xao lãng nghề nghiệp, không tạo dựng được một đời sống vững chắc, làm cha mẹ lo lắng.
e. Không phụng sự cha mẹ về vật chất, không an ủi về mặt tinh thần, coi thường cha mẹ, coi trọng vợ con.
•Đức Phật dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp dù con cái báo hiếu bằng các cách như:
a. Vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, cắt da đến xương, nghiền xương thấu tủy, máu đổ thịt rơi cũng không đáp được công ơn cha mẹ.
b. Giả như có ai gặp lúc đói khát, phá hoại thân thể, cung phụng cha mẹ cũng không đáp được công ơn cha mẹ.
c. Vì cha mẹ mà trăm kiếp nghìn đời, đâm tròng con mắt, cắt hết tâm can, trăm nghìn dao sắc xuất nhập toàn thân cũng không trả nổi công ơn cha mẹ.
d. Dù vì cha mẹ, đốt thân làm đèn cúng dường chư Phật cũng không đáp được công ơn cha mẹ.
•Đức Phật dạy về phương pháp báo hiếu:
a. Ngoài việc cung phụng cha mẹ về mặt vật chất và an ủi tinh thần mà ai cũng biết, chúng ta phải :
b. Khuyến hóa cha mẹ thực hành thiện pháp.
c. Phải vì cha mẹ mà thực hành tịnh giới, bố thí, làm các việc lợi ích cho mọi người.
d. Phải truyền bá tư tưởng hiếu đạo nầy cho nhiều người được lợi ích.
•Phần kết thúc:
a. Đức Phật khích lệ tinh thần báo hiếu.
b. Đại chúng phát nguyện vâng lời Phật dạy.
c. Đặt tên kinh là Kinh Báo Ân Cha Mẹ.
2. Ý nghĩa báo hiếu và phương pháp báo hiếu trong kinh Báo Ân Cha Mẹ
•Ý nghĩa báo hiếu của kinh
a. Ý nghĩa về duyên khởi:
Đối với đạo Phật, tất cả chúng sanh đều nằm trong vòng sanh tử luân hồi, có thể người ở kiếp nầy là người thân, là ông bà, cha mẹ hay thân nhân của ta trong những kiếp trước. Cho nên nhìn đống xương tàn mà liên tưởng đến xương của người thân của mình là một điều bình thường trong giáo lý Phật giáo. Do đó, Phật giáo không những đề cao công ơn cha mẹ mà còn mở rộng phạm vi nhớ ơn quốc gia, xã hội và tất cả chúng sanh.
b. Ý nghĩa về công ơn cha mẹ:
Công ơn cha mẹ rất lớn lao, không sao đền đáp được. Đạo Phật rất coi trọng hiếu đạo. Kinh Đại Tập dạy:
“Ở thời không có Phật, thờ kính cha mẹ tức là thờ kính Phật”
•Phương pháp báo hiếu trong kinh:
Kinh dạy phương pháp báo hiếu:
a. Ngoài việc cung phụng vật chất, cần khuyên cha mẹ thực hành chánh pháp, có lòng tin Tam bảo.
b. Vì cha mẹ thực hành tịnh giới, bố thí và các công tác lợi ích cho con người và xã hội.
c. Truyền bá tư tưởng hiếu đạo cho mọi người.
II-MỘT SỐ TẤM GƯƠNG SÁNG VÈ HIẾU HẠNH
1. Đức Phật Thích Ca
Sau khi thành đạo, hay tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng trở về hoàng cung thăm viếng. Mỗi ngày Đức Phật vào cung vấn an phụ hoàng ba lần, mỗi lần như vậy Ngài đều có thuyết pháp, giảng đạo cho vua cha. Nhờ đó vua được đắc quả A La Hán. Đích thân Đức Phật tắm rửa cho vua cha, thay đổi xiêm y , làm lễ nhập kim quan và lễ trà tỳ, nhặt xá lợi đem về làm lễ nhập tháp.
Ngài cũng đã dùng thần lực lên cõi trời Đao Lợi để tiếp độ mẫu thân và tại đó Ngài an cư kiết hạ trong suốt ba tháng. Đức Phật đã thuyết giảng tạng A Tỳ Đàm cho mẫu thân nghe và người đã chứng quả Tu Đà Huờn.
2. Tôn giả Mục Kiền Liên
Như đã trình bày trên.
3. Vua Lý Nhân Tông (1072-1127)
Đã bãi dịp Trung Nguyên yến ẩm chúc tụng của bá quan đối với mình để làm lễ Vu Lan Bồn, cầu siêu cho mẹ theo đúng ý nghĩa Phật giáo.
4. Vua Lý Thần Tông (1128-1138)
Cũng bỏ yến ẩm chúc tụng của bá quan dâng biểu ở điện Thiên Ân vào dịp lễ Trung Nguyên để thiết lễ đại trai đàn, cầu siêu cho phụ hoàng theo nghi thức Phật giáo.
5. Vua Tự Đức (1829-1882)
Một hôm đi săn bắn chim rừng ở Thuận Trực, An Nong, gặp nước lũ, thuyền vua về chậm, Thái hậu sai quân đem thuyền đi đón. Về đến Thương Bạc, vua vội vã về cung, chỉnh trang y phục, sang chầu mẫu hậu. Thái hậu giận, xoay mặt vào vách.Vua Tự Đức tự gác cây roi mây trên lưng mình chịu tội. Thái hậu quay mặt ra lấy tay hất cây roi và quở trách nặng lời. Đêm đó, vâng lời mẹ, vua thức suốt đêm để phê tấu chương. Từ đó về sau, vua không còn bỏ bê việc triều chính nữa.
6. Hòa Thượng Nhất Định (1784-1847)
Đã 60 tuổi vẫn ngày ngày tự mình ra chợ Bến Ngự mua cá lên An Dưỡng am (nay là chùa Từ Hiếu) để nuôi mẹ già 80 tuổi.Vua Tự Đức biết được chuyện đó, vô cùng cảm phục và sửa tên An Dưỡng am thành chùa Từ Hiếu, mang ý nghĩa mẹ ăn ở hiền lành, con hiếu thảo, “mẫu từ tử hiếu”.
x
x x
Tóm lại, đứng trên quan điểm Phật giáo, sự hiếu thuận với cha mẹ lan rộng thành hiếu thuận với tất cả chúng sanh. Nếu ai cũng giữ được truyền thống đó thì thế gian nầy không còn mâu thuẫn, xung đột, mà chỉ có tình thương, sự tương thân, tương kính. Thật là an lạc, hạnh phúc biết bao !
Tài liệu tham khảo:
1.Minh Tâm Bửu Giám-Trương Vĩnh Ký dịch
2.Nhị Thập Tứ Hiếu-Lý Văn Phức diễn âm
3.Chữ Hiếu trong Đạo Phật qua Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ-Thích Viên Giác (Đạo Phật Ngày Nay)
4.Truyền thống Đạo hiếu của người Việt Nam-Hà Xuân Liêm
5.Chữ Hiếu theo quan niệm của Phật giáo Nam tông-Tỳ Kheo Thiện Minh
6.Truyền thống Vu lan Báo hiếu-Thích Thông Huệ
QUÊ NGOẠI THUỞ THANH BÌNH
QUÊ NGOẠI THUỞ THANH BÌNH
Dương Văn Chung
Người ta thường chia thời gian ra thành nhiều thời kỳ, trong đó có thời kỳ đồ đá, đồ đồng…v.v. Tôi muốn phác một số nét về quê ngoại tôi ở vào thời kỳ mà tôi tự đặt là thời kỳ đất sét, vì lý do hết sức đơn giản là thời đó tôi còn nhỏ, thấy cái gì cũng làm bằng đất sét, cái lu cái khạp, cà ràng ông táo, nồi ơ, soong chảo đều làm bằng đất sét nắn rồi đem nung. Thậm chí đồ chơi trẻ em như những viên đạn tròn mà người miền Bắc gọi là hòn bi để bắn “cu-li”, con chim, con gà, con heo, con bò, con trâu, chiếc xe hơi …v.v. cũng làm bằng đất sét.
Thuở ấy tôi chưa từng thấy chiến tranh là gì, mà chỉ nghe đánh nhau trong truyện Tàu, Tam Quốc Chí, Xuân Thu Chiến Quốc, Phong Thần…v.v. với vũ khí thô sơ, gươm dáo, kiếm cung hoặc xem những trận chiến đó trên sân khấu hát bội ở rạp hát đình làng. Đào kép dùng cái cây có kết chỉ tua tủa, phất qua phất lại phía sau lưng làm như đuôi con tuấn mã đang tung hoành nơi trận mạc, chiếc đèn măng xông trên sân khấu vụt tắt, hình tượng một bên là cái hồ lô như trái bầu, một bên là cây kiếm, tất cả đều màu đỏ. Bên cây kiếm la hô giáng, bên hồ lô la hô thâu, cây kiếm bị thu tóm vào cái hồ lô.
Quê ngoại tôi, làng Vĩnh Lộc – Châu Đốc, sông sâu nước chảy, giao thông đường thủy, đường bộ đều thuận tiện, đời sống dễ dàng, an cư lạc nghiệp.
Đôi lúc gia đình tôi về thăm Ngoại bằng xuồng ba lá mũi nhọn hoặc xuồng tam bản mũi bằng. Nhánh sông Hậu chảy qua Vĩnh Lộc tính từ bờ bên nầy sang tới bờ bên kia, rất rộng, nước chảy siết, gặp lúc gió lớn có những đợt sóng to và có nhiều con cá nược đen ngòm ẩn hiện dưới nước hai bên be xuồng. Hai chị tôi, người bơi mũi, người bơi lái, thường hay đùa giởn với cá nược:
-Ông nược ơi, lên đua.
Hình như cá nược thông minh, hiểu được tiếng người, mỗi lần mấy chị tôi kêu như vậy, cá nược nổi lên cách mũi xuồng vài ba thước, xịt nước văng lên tung toé làm ướt quần áo những người ngồi trên xuồng. Vui thật là vui ! Cá nược có lẽ là loại cá ông nhỏ, sống trong sông, gặp tàu thuyền lâm nạn, chúng nó lặn ở dưới lườn để nâng cho tàu thuyền khỏi chìm và một số thì lội cặp hai bên hông như để hộ tống. Người ta gọi cá nược là “Ông Nược” để tỏ lòng kính trọng và biết ơn loài cá đã từng cứu giúp tàu thuyền khi lâm nạn. Bây giờ hình như không còn bóng dáng của ông nược trên con sông nầy.
Rải rác có những cụm lục bình trôi lững lờ theo dòng nước. Lá lục bình màu xanh, hình dáng từa tựa như lá trầu bà, bầu tròn về phía cuống, rồi nhỏ dần thành chót nhọn ở cuối lá. Bông lục bình phơn phớt màu hoa cà, vượt lên trên nền lá màu xanh thành những tràng hoa thiên nhiên tươi thắm.
Nhớ lúc gần Tết về thăm Ngọai, tiết trời lành lạnh, sương mù dày đặc, tôi lắng nghe tiếng sóng nhỏ vỗ tí tách vào be xuồng, hòa lẫn với âm thanh trên bờ, tiếng chim cu gáy thảnh thót, tiếng chày ình inh giã gạo, giã bánh phồng, một loại bánh phồng khi nướng nổi dầy hai ba phân, thật thơm và dòn.
Những chiếc ghe đám cưới chở bà-con đi họ, mặc áo dài đủ màu sắc, giữa ghe có những quả bánh, mâm trầu đậy bằng một cái búp sen giả phết bằng giấy bồi, bề tròn bằng mâm trầu, bề cao độ một mét. Từ dàn hát máy hiệu Columbia quay tay với dĩa hát cỡ lớn hiệu ASIA phát ra những bài cổ nhạc, lời mẹ dạy con gái khi xuất giá vu qui phải biết đạo làm dâu, làm vợ, làm mẹ như thế nào và những câu hát giọng hò về tình vợ chồng
Quạ kêu nam đáo nữ phòng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Và nỗi lòng lưu luyến nhớ thương của cô dâu:
Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu
Chiều chiều ra đứng ngỏ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Trên con đường làng, dọc bờ sông, có người đi bộ hoặc chiều chiều vài chiếc xe hoặc cộ do trâu bò kéo, chứa đầy rơm rạ, lúa thóc, mấy chú bé mục đồng ngất ngưởng cỡi trâu về chuồng.
Lâu lắm mới thấy có một chiếc xe đạp hiệu Alcyon, sườn sắt, có đòn dông ở giữa và cái vĩ chở hành lý phía sau. Phía trước xe có đèn bóng nhỏ chạy bằng điện bình “đi-na-mô” mà đầu của nó cọ vào bánh xe trước, làm quay một cái trục bên trong bình phát ra điện. Cái thắng gồm có hai cái càng nằm phía dưới tay cầm phía trước. Một cái chuông gắn phía trước bên tay mặt bóp kêu nghe leng keng, leng keng, báo động cho người đi bộ nép vào bờ, nhường đường cho xe đạp.
Dọc đường, đi một đổi thì có một cái chòi lá đơn sơ với một cái chõng tre. Phía trước chòi có một cái lu nhỏ đựng nước sông lóng phèn trong trẻo. Bên cạnh lu nước có máng một cái gáo dừa cán dài. Khách qua đường cứ tự nhiên vào ngồi trên cái chõng tre để nghỉ mệt và giải khát. Nước sông đựng trong lu, múc bằng cái gáo dừa vừa thơm mùi dừa, vừa ngọt lại vừa mát.
Người trong làng phần lớn sống bằng nghề nông, tiền bạc không dư dả, nhưng lúa thóc đủ dùng, dưới sông có cá, trên bờ có rau. Cũi thì đầy dẫy ngoài hè, cành cây, nhánh tre, rơm, trấu, thậm chí phân bò phơi khô cũng có thể chụm được. Có nhiều cách bắt cá như giăng câu, đặt lờ, đặt lọp, đặt trúm, nhắp cá, câu rê, tát đìa, kéo vó, kéo bò, trải đáy, kéo lưới, dỡ chà…v.v .thuộc kỹ thuật chuyên môn không tiện mô tả dài dòng.
Nhờ đời sống dễ dàng nên lòng người cũng quảng đại. Người đi lỡ đường xin ngủ qua đêm dễ dàng, tiếp đãi niềm nỡ, chu đáo, không mảy may nghi ngờ.
Ngày kỵ giỗ, bà-con, hàng xóm, mỗi người tự động đến tiếp tay nấu nướng và mang đến một chai rượu hoặc một gói trà, gói mứt, một dĩa trái cây, một dĩa xôi…đến cúng. Cúng xong, chủ nhà mời mọi người dùng bữa. Lúc nhỏ tôi thích nhứt là món kiểm, ăn như chè, nấu bằng bí rợ, khoai lang, bún bột khoai trong vắt, chuối chín, bao quản, tức là đậu phộng hột, áo một lớp bột năng bên ngoài và nước cốt dừa. Khi khách ra về, bao giờ chủ nhà cũng trả lễ bằng một ít quà bánh để đem về cho gia đình.
Bây giờ tôi rất thèm được uống nước sông trong lu bằng cái gáo dừa ở căn chòi lá bên đường làng quê ngoại, tôi thèm có được một cuộc sống bình dị, vừa đủ, một cung cách đối xử đầy tình cảm chân thành của bà-con quê ngoại. Biết đến bao giờ nếp sống quê ngoại trở lại như xưa ?
Sydney, mùa đông 2006
Dương Văn Chung
Người ta thường chia thời gian ra thành nhiều thời kỳ, trong đó có thời kỳ đồ đá, đồ đồng…v.v. Tôi muốn phác một số nét về quê ngoại tôi ở vào thời kỳ mà tôi tự đặt là thời kỳ đất sét, vì lý do hết sức đơn giản là thời đó tôi còn nhỏ, thấy cái gì cũng làm bằng đất sét, cái lu cái khạp, cà ràng ông táo, nồi ơ, soong chảo đều làm bằng đất sét nắn rồi đem nung. Thậm chí đồ chơi trẻ em như những viên đạn tròn mà người miền Bắc gọi là hòn bi để bắn “cu-li”, con chim, con gà, con heo, con bò, con trâu, chiếc xe hơi …v.v. cũng làm bằng đất sét.
Thuở ấy tôi chưa từng thấy chiến tranh là gì, mà chỉ nghe đánh nhau trong truyện Tàu, Tam Quốc Chí, Xuân Thu Chiến Quốc, Phong Thần…v.v. với vũ khí thô sơ, gươm dáo, kiếm cung hoặc xem những trận chiến đó trên sân khấu hát bội ở rạp hát đình làng. Đào kép dùng cái cây có kết chỉ tua tủa, phất qua phất lại phía sau lưng làm như đuôi con tuấn mã đang tung hoành nơi trận mạc, chiếc đèn măng xông trên sân khấu vụt tắt, hình tượng một bên là cái hồ lô như trái bầu, một bên là cây kiếm, tất cả đều màu đỏ. Bên cây kiếm la hô giáng, bên hồ lô la hô thâu, cây kiếm bị thu tóm vào cái hồ lô.
Quê ngoại tôi, làng Vĩnh Lộc – Châu Đốc, sông sâu nước chảy, giao thông đường thủy, đường bộ đều thuận tiện, đời sống dễ dàng, an cư lạc nghiệp.
Đôi lúc gia đình tôi về thăm Ngoại bằng xuồng ba lá mũi nhọn hoặc xuồng tam bản mũi bằng. Nhánh sông Hậu chảy qua Vĩnh Lộc tính từ bờ bên nầy sang tới bờ bên kia, rất rộng, nước chảy siết, gặp lúc gió lớn có những đợt sóng to và có nhiều con cá nược đen ngòm ẩn hiện dưới nước hai bên be xuồng. Hai chị tôi, người bơi mũi, người bơi lái, thường hay đùa giởn với cá nược:
-Ông nược ơi, lên đua.
Hình như cá nược thông minh, hiểu được tiếng người, mỗi lần mấy chị tôi kêu như vậy, cá nược nổi lên cách mũi xuồng vài ba thước, xịt nước văng lên tung toé làm ướt quần áo những người ngồi trên xuồng. Vui thật là vui ! Cá nược có lẽ là loại cá ông nhỏ, sống trong sông, gặp tàu thuyền lâm nạn, chúng nó lặn ở dưới lườn để nâng cho tàu thuyền khỏi chìm và một số thì lội cặp hai bên hông như để hộ tống. Người ta gọi cá nược là “Ông Nược” để tỏ lòng kính trọng và biết ơn loài cá đã từng cứu giúp tàu thuyền khi lâm nạn. Bây giờ hình như không còn bóng dáng của ông nược trên con sông nầy.
Rải rác có những cụm lục bình trôi lững lờ theo dòng nước. Lá lục bình màu xanh, hình dáng từa tựa như lá trầu bà, bầu tròn về phía cuống, rồi nhỏ dần thành chót nhọn ở cuối lá. Bông lục bình phơn phớt màu hoa cà, vượt lên trên nền lá màu xanh thành những tràng hoa thiên nhiên tươi thắm.
Nhớ lúc gần Tết về thăm Ngọai, tiết trời lành lạnh, sương mù dày đặc, tôi lắng nghe tiếng sóng nhỏ vỗ tí tách vào be xuồng, hòa lẫn với âm thanh trên bờ, tiếng chim cu gáy thảnh thót, tiếng chày ình inh giã gạo, giã bánh phồng, một loại bánh phồng khi nướng nổi dầy hai ba phân, thật thơm và dòn.
Những chiếc ghe đám cưới chở bà-con đi họ, mặc áo dài đủ màu sắc, giữa ghe có những quả bánh, mâm trầu đậy bằng một cái búp sen giả phết bằng giấy bồi, bề tròn bằng mâm trầu, bề cao độ một mét. Từ dàn hát máy hiệu Columbia quay tay với dĩa hát cỡ lớn hiệu ASIA phát ra những bài cổ nhạc, lời mẹ dạy con gái khi xuất giá vu qui phải biết đạo làm dâu, làm vợ, làm mẹ như thế nào và những câu hát giọng hò về tình vợ chồng
Quạ kêu nam đáo nữ phòng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Và nỗi lòng lưu luyến nhớ thương của cô dâu:
Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu
Chiều chiều ra đứng ngỏ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Trên con đường làng, dọc bờ sông, có người đi bộ hoặc chiều chiều vài chiếc xe hoặc cộ do trâu bò kéo, chứa đầy rơm rạ, lúa thóc, mấy chú bé mục đồng ngất ngưởng cỡi trâu về chuồng.
Lâu lắm mới thấy có một chiếc xe đạp hiệu Alcyon, sườn sắt, có đòn dông ở giữa và cái vĩ chở hành lý phía sau. Phía trước xe có đèn bóng nhỏ chạy bằng điện bình “đi-na-mô” mà đầu của nó cọ vào bánh xe trước, làm quay một cái trục bên trong bình phát ra điện. Cái thắng gồm có hai cái càng nằm phía dưới tay cầm phía trước. Một cái chuông gắn phía trước bên tay mặt bóp kêu nghe leng keng, leng keng, báo động cho người đi bộ nép vào bờ, nhường đường cho xe đạp.
Dọc đường, đi một đổi thì có một cái chòi lá đơn sơ với một cái chõng tre. Phía trước chòi có một cái lu nhỏ đựng nước sông lóng phèn trong trẻo. Bên cạnh lu nước có máng một cái gáo dừa cán dài. Khách qua đường cứ tự nhiên vào ngồi trên cái chõng tre để nghỉ mệt và giải khát. Nước sông đựng trong lu, múc bằng cái gáo dừa vừa thơm mùi dừa, vừa ngọt lại vừa mát.
Người trong làng phần lớn sống bằng nghề nông, tiền bạc không dư dả, nhưng lúa thóc đủ dùng, dưới sông có cá, trên bờ có rau. Cũi thì đầy dẫy ngoài hè, cành cây, nhánh tre, rơm, trấu, thậm chí phân bò phơi khô cũng có thể chụm được. Có nhiều cách bắt cá như giăng câu, đặt lờ, đặt lọp, đặt trúm, nhắp cá, câu rê, tát đìa, kéo vó, kéo bò, trải đáy, kéo lưới, dỡ chà…v.v .thuộc kỹ thuật chuyên môn không tiện mô tả dài dòng.
Nhờ đời sống dễ dàng nên lòng người cũng quảng đại. Người đi lỡ đường xin ngủ qua đêm dễ dàng, tiếp đãi niềm nỡ, chu đáo, không mảy may nghi ngờ.
Ngày kỵ giỗ, bà-con, hàng xóm, mỗi người tự động đến tiếp tay nấu nướng và mang đến một chai rượu hoặc một gói trà, gói mứt, một dĩa trái cây, một dĩa xôi…đến cúng. Cúng xong, chủ nhà mời mọi người dùng bữa. Lúc nhỏ tôi thích nhứt là món kiểm, ăn như chè, nấu bằng bí rợ, khoai lang, bún bột khoai trong vắt, chuối chín, bao quản, tức là đậu phộng hột, áo một lớp bột năng bên ngoài và nước cốt dừa. Khi khách ra về, bao giờ chủ nhà cũng trả lễ bằng một ít quà bánh để đem về cho gia đình.
Bây giờ tôi rất thèm được uống nước sông trong lu bằng cái gáo dừa ở căn chòi lá bên đường làng quê ngoại, tôi thèm có được một cuộc sống bình dị, vừa đủ, một cung cách đối xử đầy tình cảm chân thành của bà-con quê ngoại. Biết đến bao giờ nếp sống quê ngoại trở lại như xưa ?
Sydney, mùa đông 2006
NGÔN NGỮ BẤT ĐỒNG
NGÔN NGỮ BẤT ĐỒNG
Dương Văn Chung
Qua định cư ở Úc được một tháng, tôi đến một tiệm hớt tóc bình dân có hai ghế hớt, kế bên một nhà thờ. Giá hớt tóc bình thường là mười đô la Úc, tiệm nầy chỉ tính năm đô, giá “từ thiện”.
Thời gian ngồi chờ và thời gian hớt tính chung hơn nữa tiếng đồng hồ, lắng nghe hai cha con người thợ hớt tóc nói chuyện với nhau, tôi chẳng hiểu chút nào hết. Họ thuộc diện Úc nhà quê, nói giọng nghe đặc sệt:
- Ờ reo thờ heo (around the house)
- Noi ti noi (ninety nine)
Tới phiên tôi nói “ hớt như cũ” thì người thợ già cũng không nghe được, rồi ông ta cứ hỏi tới hỏi lui tôi gì đó, tôi chẳng hiểu, cứ hỉ hỉ hả hả. Sợ những người ngồi chờ hớt tóc nói mình dở tiếng Anh, tôi trả lời đại “yes”. Lần đó tóc tôi bị hớt gọn ghẽ như tóc tân binh quân dịch. Đó là kết quả của ngôn ngữ bất đồng.
Sau đó tôi được đi học Anh văn miễn phí. Đôi khi ngồi nghe cô giáo dạy tiếng Anh kể chuyện vui, có vẻ rất dí dỏm, cả lớp cười rộ lên từng chập, các bạn cười, mình không cười, thật là vô duyên, nên cũng cười theo, cười lấy lệ, cười ngượng ngập. Cười mà không hiểu mình cười cái gì mới thật là khổ sở !
Ở nước ngoài lâu ngày, nói và nghe tiếng Anh có tiến bộ hơn đôi chút, cộng thêm chia động từ “ tu quơ”, quơ tay ra dấu người ta mới hiểu. Nói tiếng Anh sao mà mỏi tay quá vậy ?
Chẳng nói đâu xa , ngay giữa người Việt Nam mình với nhau, ngôn ngữ cũng đã bất đồng, bất đồng do từ ngữ hoặc do phát âm, dễ gây hiểu lầm nghiêm trọng.
Người miền Nam nói “địt”, người miền Bắc gọi là “đánh rắm”, “địt” theo người Bắc, có nghĩa là giao hợp. Người miền Bắc gọi cái mùng là cái màn, đối với người miền Nam, cái màn là tấm vải để che. Người miền Bắc gọi cái muỗng lớn để múc cơm canh là cái môi, đồng âm với cái môi ở cửa miệng.
Người Huế nói “mần răng” có nghĩa là “cái gì”, làm cho người miền Nam hiểu lầm là đi làm răng giả hay chữa răng. Khi nghe một người miền Trung nói “đi đồng” thì đừng có đi theo, vì y đi “đại tiện” ngoài đồng.
Một số cư dân miền cực Bắc phát âm chữ “ L “thành chữ “ N ” như “no nắng” (lo lắng), “nạnh nùng” (lạnh lùng)…
Tôi còn nhớ trong giờ học môn Thuế Công quản tại Trường Quốc Gia Thương Mại Sài Gòn, một giáo sư tên Trọng, quê quán Quảng Nam, Quảng Ngãi gì đó, ngay giờ đầu, lặp đi lặp lại mãi một câu làm cả lớp tôi nín cười đỏ mặt:
- Một gói thuốc lé gié tém đồng phể chịu thuế công quẻn be đồng be két bể xu hê. ( Một gói thuốc lá giá tám đồng phải chịu thuế công quản ba đồng ba cắc bảy xu hai ).
Sau khi tốt nghiệp, bốn sinh viên trường Quốc Gia Thương Mại trong đó có tôi, được nhận vào tập sự tại Nha Thuế Công Quản, nơi thầy Trọng làm việc. Nha Thuế có tổ chức một chuyến du ngoạn đi thăm Vị Thanh Hỏa Lựu tỉnh Chương Thiện, chúng tôi cũng ghi tên đi. Thầy Trọng dẫn theo một ái nữ, tuổi độ hai mươi, thật đẹp đẽ, duyên dáng, giọng nói cũng y như thầy.
Trong suốt cuộc du ngoạn chúng tôi “ thả dê ”, tìm cách gần gũi để trò chuyện với con gái của thầy. Giọng nói của cô ấy nghe càng lâu càng thấy dịu dàng, dễ thương.
Thế rồi những giây phút bồng bột của tuổi trẻ qua đi, sau chuyến du ngoạn, thầy Trọng và ái nữ cùng chúng tôi từ giả nhau trong một thân tình lành mạnh, không vướng mắc, nhưng giọng nói của địa phương thầy Trọng là một thành tố quan trọng của “Tiếng nước tôi ” kính yêu, gieo vào đầu tôi nhiều ấn tượng thật sâu sắc. Thời gian đã xóa nhòa những bài vỡ tôi học được ở trường Quốc Gia Thương Mại Sài Gòn, chỉ riêng bài học đầu tiên về thuế Công Quản của thầy Trọng, tôi vẫn còn thuộc nằm lòng:
-Một gói thuốc lé gié tém đồng phể chịu thuế công quẻn be đồng be két bể xu hê.
Và bây giờ lại thuộc làu một bài mới:
-Ờ reo thờ heo.
-Noi ti noi.
Sydney, mùa Đông 2006
Dương Văn Chung
Qua định cư ở Úc được một tháng, tôi đến một tiệm hớt tóc bình dân có hai ghế hớt, kế bên một nhà thờ. Giá hớt tóc bình thường là mười đô la Úc, tiệm nầy chỉ tính năm đô, giá “từ thiện”.
Thời gian ngồi chờ và thời gian hớt tính chung hơn nữa tiếng đồng hồ, lắng nghe hai cha con người thợ hớt tóc nói chuyện với nhau, tôi chẳng hiểu chút nào hết. Họ thuộc diện Úc nhà quê, nói giọng nghe đặc sệt:
- Ờ reo thờ heo (around the house)
- Noi ti noi (ninety nine)
Tới phiên tôi nói “ hớt như cũ” thì người thợ già cũng không nghe được, rồi ông ta cứ hỏi tới hỏi lui tôi gì đó, tôi chẳng hiểu, cứ hỉ hỉ hả hả. Sợ những người ngồi chờ hớt tóc nói mình dở tiếng Anh, tôi trả lời đại “yes”. Lần đó tóc tôi bị hớt gọn ghẽ như tóc tân binh quân dịch. Đó là kết quả của ngôn ngữ bất đồng.
Sau đó tôi được đi học Anh văn miễn phí. Đôi khi ngồi nghe cô giáo dạy tiếng Anh kể chuyện vui, có vẻ rất dí dỏm, cả lớp cười rộ lên từng chập, các bạn cười, mình không cười, thật là vô duyên, nên cũng cười theo, cười lấy lệ, cười ngượng ngập. Cười mà không hiểu mình cười cái gì mới thật là khổ sở !
Ở nước ngoài lâu ngày, nói và nghe tiếng Anh có tiến bộ hơn đôi chút, cộng thêm chia động từ “ tu quơ”, quơ tay ra dấu người ta mới hiểu. Nói tiếng Anh sao mà mỏi tay quá vậy ?
Chẳng nói đâu xa , ngay giữa người Việt Nam mình với nhau, ngôn ngữ cũng đã bất đồng, bất đồng do từ ngữ hoặc do phát âm, dễ gây hiểu lầm nghiêm trọng.
Người miền Nam nói “địt”, người miền Bắc gọi là “đánh rắm”, “địt” theo người Bắc, có nghĩa là giao hợp. Người miền Bắc gọi cái mùng là cái màn, đối với người miền Nam, cái màn là tấm vải để che. Người miền Bắc gọi cái muỗng lớn để múc cơm canh là cái môi, đồng âm với cái môi ở cửa miệng.
Người Huế nói “mần răng” có nghĩa là “cái gì”, làm cho người miền Nam hiểu lầm là đi làm răng giả hay chữa răng. Khi nghe một người miền Trung nói “đi đồng” thì đừng có đi theo, vì y đi “đại tiện” ngoài đồng.
Một số cư dân miền cực Bắc phát âm chữ “ L “thành chữ “ N ” như “no nắng” (lo lắng), “nạnh nùng” (lạnh lùng)…
Tôi còn nhớ trong giờ học môn Thuế Công quản tại Trường Quốc Gia Thương Mại Sài Gòn, một giáo sư tên Trọng, quê quán Quảng Nam, Quảng Ngãi gì đó, ngay giờ đầu, lặp đi lặp lại mãi một câu làm cả lớp tôi nín cười đỏ mặt:
- Một gói thuốc lé gié tém đồng phể chịu thuế công quẻn be đồng be két bể xu hê. ( Một gói thuốc lá giá tám đồng phải chịu thuế công quản ba đồng ba cắc bảy xu hai ).
Sau khi tốt nghiệp, bốn sinh viên trường Quốc Gia Thương Mại trong đó có tôi, được nhận vào tập sự tại Nha Thuế Công Quản, nơi thầy Trọng làm việc. Nha Thuế có tổ chức một chuyến du ngoạn đi thăm Vị Thanh Hỏa Lựu tỉnh Chương Thiện, chúng tôi cũng ghi tên đi. Thầy Trọng dẫn theo một ái nữ, tuổi độ hai mươi, thật đẹp đẽ, duyên dáng, giọng nói cũng y như thầy.
Trong suốt cuộc du ngoạn chúng tôi “ thả dê ”, tìm cách gần gũi để trò chuyện với con gái của thầy. Giọng nói của cô ấy nghe càng lâu càng thấy dịu dàng, dễ thương.
Thế rồi những giây phút bồng bột của tuổi trẻ qua đi, sau chuyến du ngoạn, thầy Trọng và ái nữ cùng chúng tôi từ giả nhau trong một thân tình lành mạnh, không vướng mắc, nhưng giọng nói của địa phương thầy Trọng là một thành tố quan trọng của “Tiếng nước tôi ” kính yêu, gieo vào đầu tôi nhiều ấn tượng thật sâu sắc. Thời gian đã xóa nhòa những bài vỡ tôi học được ở trường Quốc Gia Thương Mại Sài Gòn, chỉ riêng bài học đầu tiên về thuế Công Quản của thầy Trọng, tôi vẫn còn thuộc nằm lòng:
-Một gói thuốc lé gié tém đồng phể chịu thuế công quẻn be đồng be két bể xu hê.
Và bây giờ lại thuộc làu một bài mới:
-Ờ reo thờ heo.
-Noi ti noi.
Sydney, mùa Đông 2006
VỀ THĂM NGOẠI
VỀ THĂM NGOẠI
Dương Văn Chung
Tôi được bên nội cưng lắm. Ba tôi là con trai trưởng. Anh trai của tôi mất từ lúc lên ba, nên tôi là cháu đích tôn của Ông Bà Nội. Ông Nội và Cô Sáu tôi có dịp đi Nam Vang bằng tàu chạy đường sông, thường dẫn tôi theo. Chiếc tàu thủy Sa-Ta-Na có ống khói lớn chạy từ chợ Châu Đốc lên Nam Vang qua ngã Bình Di, có hai tầng, tầng dưới chở hàng, tầng trên chở khách. Ở tầng dưới có một cái nồi hơi nước rất lớn, gọi là nồi “sốt-de”, sản xuất ra hơi nước để chạy máy tàu. Có lần một chiếc tàu thủy khi tới ngang Cù Lao Ba ở Vĩnh Trường, bị nổ nồi “sốt-de” do áp suất hơi nước quá mạnh, tiếng nổ kinh hồn, gây ra nhiều hành khách bị thương vong, thịt da văng tung toé dính trên cành cây hai bên bờ sông.
Mùa đông, ông cháu tôi hay mướn ghế bố gần ống khói tàu để nằm cho ấm, vừa ăn một tràn bánh hỏi với thịt ba rọi luộc, vừa ngắm cảnh vật hai bên bờ với những chòm cây thốt lốt, những ngôi chùa tháp phết vàng… Có lần tàu cặp bến Nam Vang, Cô Sáu tôi phải tải hàng bằng xe ngựa ra chợ Cây Táo bán, thả tôi xuống đầu “cầu Sài Gòn” (ở Nam Vang), tìm nhà người chú thứ tư, nhưng không tìm được, khóc bù lu, bù loa, may nhờ gặp một người bà-con nhận ra và đưa tôi đến nhà ông chú. Chú Út tôi đi làm “bạn” chèo ghe chở cá đi Sài Gòn bán, khi về bao giờ cũng có quà cho tôi, khi thì một cây viết máy hiệu Kalo bơm mực, khi thì một cái nón nĩ màu xanh đậm có vành.
Bao nhiêu tình thương của bên nội dành cho tôi. Nhưng tôi thật có lỗi là tình cảm hơi nghiên về bên ngoại một chút. Tôi không hiểu tại sao như vậy. Có lẽ vì bên nội ở gần, gặp gỡ hàng ngày, còn bên ngoại ở xa nên thương nhớ nhiều hơn. Vả lại, mỗi lần về thăm Ngoại, tôi có dịp nô đùa với con của Cậu, vui thật là vui.
Gia đình tôi ở Bắc Nam ngay biên giới Miên và tỉnh Châu Đốc, còn Bà Ngoại tôi ở làng Vĩnh Lộc, cách nhau khoảng bốn năm mươi cây số.
Mỗi năm có mấy lần, vào dịp giỗ quảy hay Tết nguyên đán, mẹ tôi dắt hai ba đứa con về thăm Bà Ngoại. Trời tờ mờ sáng, mẹ đánh thức các con còn đang ngáy ngủ:
-Thức dậy ! Về Ngoại.
Chị em tôi tỉnh ngủ ngay, hăm hở ngồi dậy để sẵn sàng về thăm Ngoại.
Cha tiễn mẹ con chúng tôi đi bộ trên con đường làng bằng phẳng dọc theo bờ sông nhỏ ra đến vàm sông cái gần đó đợi tàu đò. Khu vàm sông có chợ nhỏ bán tạp hóa và những thứ hàng thiết dụng hàng ngày và có lò nấu rượu, tất cả đều do người Hoa làm chủ. Ngày xưa, tàu đò là một chiếc tàu nhỏ, có mui, gọi theo phiên âm tiếng Pháp là chiếc “ca-nô”.
Tiếng “ca-nô” nghe phình phịch từ xa làm cho chị em tôi náo nức, mong cho mau bước xuống tàu. Nếu gặp được chiếc “ca-nô” của Cậu Tư, anh ruột của mẹ tôi thì càng vui.
Chúng tôi ngồi trên băng ghế dài, dọc theo bên trong be tàu. Tôi nhìn chú thợ máy làm việc không nghỉ tay, lúc chỉnh bộ phận này, lúc chỉnh bộ phận khác, khi thì bơm nước từ khoang tàu ra ngoài. Tôi thầm cảm phục chú đã điều khiển được máy tàu và mơ ước khi lớn lên sẽ học nghề thợ máy như chú. Chú là người cùng làng với Bà Ngoại, chú cũng rất vui tánh, hay nhướng hay nháy, chọc ghẹo chị em tôi.
Qua khỏi Cồn Bắc Nam đến Cồn Cát, nhìn bên phải là làng Đồng Cô Ki, Phưóc Hưng, bên trái là làng Phú Hữu, Vĩnh Lộc. Thỉnh thoảng tàu ghé vào bờ để đón khách dọc đường.
Gặp mùa nước đổ, nước cuốn theo đất phù sa đục ngầu, chảy rất xiết. Thuận theo chiều nước, tàu chạy rất nhanh, chưa đầy hai tiếng đồng hồ đã thấy đình làng Vĩnh Lộc, rồi đến nhà Bà Ngoại.
Ở mé sông ngay nhà Bà Ngoại có một cái cầu tàu, dưới độn thùng phuy cho cầu nổi trên mặt nước, trên mặt cầu tàu có lót ván. Cầu tàu dùng để tàu của Cậu Tư tôi đậu khi trở về bến sau một chuyến đưa đò dọc hai ngày.
Chiếc “ca-nô” đưa mẹ con chúng tôi vừa cặp cầu tàu thì nghe trên bờ, con của Cậu Tư tôi reo hò:
-Bà Nội ơi ! Cô Năm với mấy đứa nó về !
Bà Ngoại tôi mừng lắm, rờ đầu, nựng nịu từng đứa cháu ngoại.
Nhà Bà Ngoại có sàn cao, lót ván, rộng rãi. Phía trước để hai bộ ván ngựa chân quỳ đánh vẹc-ni vàng bóng ở hai bên. Chính giữa là một bộ ghế trường kỹ, vào bên trong một chút là tủ cẩn ốc sa cừ để thờ ông bà, có lư hương, chân đèn bằng đồng. Phía sau tủ thờ là vách ngăn nhà trước với nhà sau. Bên trái và bên phải vách ngăn là hai cái cửa buồng, có màn bằng vải phủ xuống.
Tối lại Cậu Tư tôi kể cho chúng tôi nghe chuyện vui, chuyện cổ tích và đưa ra nhiều câu đố vui để chúng tôi trả lời. Còn các con của Cậu thì rủ chúng tôi chơi cút bắt. Đặc biệt là sau khi chiếc đèn măng-xông đã tắt, cái đèn dầu có ống khói thắp lên, tỏa ánh sáng lờ mờ, một chị con Cậu tôi kêu tôi nhìn về hướng cửa buồng. Tôi kinh hoàng nhìn thấy trong bóng tối một cái miệng đầy lửa đỏ đang thở ra khè khè. Tôi nhắm mắt lại, rồi lại mở hí hí mắt ra xem, lại thấy vẫn còn cái miệng lửa đó. Đêm đó tôi chiêm bao và mớ vì thấy toàn là lửa, mẹ tôi phải vỗ về tôi mấy lần. Sáng hôm sau, Cậu tôi căn dặn không cho mấy chị chơi cái trò ngậm nhang vào miệng để khè trong bóng tối. Tuy vậy, đêm đêm tôi vẫn len lén liếc nhìn hai cánh cửa buồng nhà Cậu và tôi phát rùng mình.
Thăm Ngoại được ba ngày, Bà và gia đình Cậu mợ ra tận cầu tàu tiển mẹ con chúng tôi về. Không có hàng đi, mà hàng về nhiều quá, mẹ con chúng tôi tay xách, nách mang những giỏ quà của Bà. Hình như Bà sớt chia phần lớn tình thương của Bà cho mẹ tôi, đứa con gái út, mỗi giỏ quà là mấy mươi giỏ tình thương.
Sydney, cuối thu 2006
Dương Văn Chung
Tôi được bên nội cưng lắm. Ba tôi là con trai trưởng. Anh trai của tôi mất từ lúc lên ba, nên tôi là cháu đích tôn của Ông Bà Nội. Ông Nội và Cô Sáu tôi có dịp đi Nam Vang bằng tàu chạy đường sông, thường dẫn tôi theo. Chiếc tàu thủy Sa-Ta-Na có ống khói lớn chạy từ chợ Châu Đốc lên Nam Vang qua ngã Bình Di, có hai tầng, tầng dưới chở hàng, tầng trên chở khách. Ở tầng dưới có một cái nồi hơi nước rất lớn, gọi là nồi “sốt-de”, sản xuất ra hơi nước để chạy máy tàu. Có lần một chiếc tàu thủy khi tới ngang Cù Lao Ba ở Vĩnh Trường, bị nổ nồi “sốt-de” do áp suất hơi nước quá mạnh, tiếng nổ kinh hồn, gây ra nhiều hành khách bị thương vong, thịt da văng tung toé dính trên cành cây hai bên bờ sông.
Mùa đông, ông cháu tôi hay mướn ghế bố gần ống khói tàu để nằm cho ấm, vừa ăn một tràn bánh hỏi với thịt ba rọi luộc, vừa ngắm cảnh vật hai bên bờ với những chòm cây thốt lốt, những ngôi chùa tháp phết vàng… Có lần tàu cặp bến Nam Vang, Cô Sáu tôi phải tải hàng bằng xe ngựa ra chợ Cây Táo bán, thả tôi xuống đầu “cầu Sài Gòn” (ở Nam Vang), tìm nhà người chú thứ tư, nhưng không tìm được, khóc bù lu, bù loa, may nhờ gặp một người bà-con nhận ra và đưa tôi đến nhà ông chú. Chú Út tôi đi làm “bạn” chèo ghe chở cá đi Sài Gòn bán, khi về bao giờ cũng có quà cho tôi, khi thì một cây viết máy hiệu Kalo bơm mực, khi thì một cái nón nĩ màu xanh đậm có vành.
Bao nhiêu tình thương của bên nội dành cho tôi. Nhưng tôi thật có lỗi là tình cảm hơi nghiên về bên ngoại một chút. Tôi không hiểu tại sao như vậy. Có lẽ vì bên nội ở gần, gặp gỡ hàng ngày, còn bên ngoại ở xa nên thương nhớ nhiều hơn. Vả lại, mỗi lần về thăm Ngoại, tôi có dịp nô đùa với con của Cậu, vui thật là vui.
Gia đình tôi ở Bắc Nam ngay biên giới Miên và tỉnh Châu Đốc, còn Bà Ngoại tôi ở làng Vĩnh Lộc, cách nhau khoảng bốn năm mươi cây số.
Mỗi năm có mấy lần, vào dịp giỗ quảy hay Tết nguyên đán, mẹ tôi dắt hai ba đứa con về thăm Bà Ngoại. Trời tờ mờ sáng, mẹ đánh thức các con còn đang ngáy ngủ:
-Thức dậy ! Về Ngoại.
Chị em tôi tỉnh ngủ ngay, hăm hở ngồi dậy để sẵn sàng về thăm Ngoại.
Cha tiễn mẹ con chúng tôi đi bộ trên con đường làng bằng phẳng dọc theo bờ sông nhỏ ra đến vàm sông cái gần đó đợi tàu đò. Khu vàm sông có chợ nhỏ bán tạp hóa và những thứ hàng thiết dụng hàng ngày và có lò nấu rượu, tất cả đều do người Hoa làm chủ. Ngày xưa, tàu đò là một chiếc tàu nhỏ, có mui, gọi theo phiên âm tiếng Pháp là chiếc “ca-nô”.
Tiếng “ca-nô” nghe phình phịch từ xa làm cho chị em tôi náo nức, mong cho mau bước xuống tàu. Nếu gặp được chiếc “ca-nô” của Cậu Tư, anh ruột của mẹ tôi thì càng vui.
Chúng tôi ngồi trên băng ghế dài, dọc theo bên trong be tàu. Tôi nhìn chú thợ máy làm việc không nghỉ tay, lúc chỉnh bộ phận này, lúc chỉnh bộ phận khác, khi thì bơm nước từ khoang tàu ra ngoài. Tôi thầm cảm phục chú đã điều khiển được máy tàu và mơ ước khi lớn lên sẽ học nghề thợ máy như chú. Chú là người cùng làng với Bà Ngoại, chú cũng rất vui tánh, hay nhướng hay nháy, chọc ghẹo chị em tôi.
Qua khỏi Cồn Bắc Nam đến Cồn Cát, nhìn bên phải là làng Đồng Cô Ki, Phưóc Hưng, bên trái là làng Phú Hữu, Vĩnh Lộc. Thỉnh thoảng tàu ghé vào bờ để đón khách dọc đường.
Gặp mùa nước đổ, nước cuốn theo đất phù sa đục ngầu, chảy rất xiết. Thuận theo chiều nước, tàu chạy rất nhanh, chưa đầy hai tiếng đồng hồ đã thấy đình làng Vĩnh Lộc, rồi đến nhà Bà Ngoại.
Ở mé sông ngay nhà Bà Ngoại có một cái cầu tàu, dưới độn thùng phuy cho cầu nổi trên mặt nước, trên mặt cầu tàu có lót ván. Cầu tàu dùng để tàu của Cậu Tư tôi đậu khi trở về bến sau một chuyến đưa đò dọc hai ngày.
Chiếc “ca-nô” đưa mẹ con chúng tôi vừa cặp cầu tàu thì nghe trên bờ, con của Cậu Tư tôi reo hò:
-Bà Nội ơi ! Cô Năm với mấy đứa nó về !
Bà Ngoại tôi mừng lắm, rờ đầu, nựng nịu từng đứa cháu ngoại.
Nhà Bà Ngoại có sàn cao, lót ván, rộng rãi. Phía trước để hai bộ ván ngựa chân quỳ đánh vẹc-ni vàng bóng ở hai bên. Chính giữa là một bộ ghế trường kỹ, vào bên trong một chút là tủ cẩn ốc sa cừ để thờ ông bà, có lư hương, chân đèn bằng đồng. Phía sau tủ thờ là vách ngăn nhà trước với nhà sau. Bên trái và bên phải vách ngăn là hai cái cửa buồng, có màn bằng vải phủ xuống.
Tối lại Cậu Tư tôi kể cho chúng tôi nghe chuyện vui, chuyện cổ tích và đưa ra nhiều câu đố vui để chúng tôi trả lời. Còn các con của Cậu thì rủ chúng tôi chơi cút bắt. Đặc biệt là sau khi chiếc đèn măng-xông đã tắt, cái đèn dầu có ống khói thắp lên, tỏa ánh sáng lờ mờ, một chị con Cậu tôi kêu tôi nhìn về hướng cửa buồng. Tôi kinh hoàng nhìn thấy trong bóng tối một cái miệng đầy lửa đỏ đang thở ra khè khè. Tôi nhắm mắt lại, rồi lại mở hí hí mắt ra xem, lại thấy vẫn còn cái miệng lửa đó. Đêm đó tôi chiêm bao và mớ vì thấy toàn là lửa, mẹ tôi phải vỗ về tôi mấy lần. Sáng hôm sau, Cậu tôi căn dặn không cho mấy chị chơi cái trò ngậm nhang vào miệng để khè trong bóng tối. Tuy vậy, đêm đêm tôi vẫn len lén liếc nhìn hai cánh cửa buồng nhà Cậu và tôi phát rùng mình.
Thăm Ngoại được ba ngày, Bà và gia đình Cậu mợ ra tận cầu tàu tiển mẹ con chúng tôi về. Không có hàng đi, mà hàng về nhiều quá, mẹ con chúng tôi tay xách, nách mang những giỏ quà của Bà. Hình như Bà sớt chia phần lớn tình thương của Bà cho mẹ tôi, đứa con gái út, mỗi giỏ quà là mấy mươi giỏ tình thương.
Sydney, cuối thu 2006
THÙNG NƯỚC GIẾNG VÀ DĨA BÁNH BÈO
THÙNG NƯỚC GIẾNG VÀ DĨA BÁNH BÈO
Dương Văn Chung
Viên tài công chánh bị trở ngại giữa đường, không đến được điểm hẹn, chủ tàu cho người tài công phụ lái thay chiếc thuyền đánh cá chở người vượt biên, trong đó có mấy đứa trẻ, con cháu tôi.
Tàu ra khỏi hải phận suôn sẻ. Thay vì lái xuống phía Nam để đến Mã Lai hoặc Nam Dương, viên tài công phụ lái theo chiều gió chướng, đi về hướng Hồng Kông.
Khi đến ngang quần đảo Phi Luật Tân, một trận bão dữ dội nổi lên, thuyền bắt buộc phải quay mũi trở về Việt Nam, cặp bến ngay ổ kiến lửa, Quảng Ngãi.
Bị giam ở xã mấy ngày để điều tra và hành tội, đoàn người vượt biên bị giải đi bộ lên huyện, cách đó hơn hai mươi cây số, mà không chuẩn bị cho mang theo nước uống. Một cụ bà ở kế bên trụ sở xã thấy vậy mới chửi hai tên du kích xã:
-Tụi bây đừng có ác nhơn, thất đức quá vậy. Giải người ta đi bộ xa mấy mươi cây số mà không chuẩn bị nước uống, để người ta chết khát, phải không ?
Nói rồi bà đưa thùng và đòn gánh cho mấy thanh niên vượt biên múc nước giếng đem theo uống.
Từ huyện đoàn người vượt biên bị giải giao về khám Chí Hòa Sài Gòn bằng xe đò. Mỗi người họ bị buộc vào băng ghế xe bằng dây thừng, đói và khát nước.
Khi xe tù đến chợ Phan Rang thì dừng lại cho bọn cán bộ nghỉ giải lao, thằng con tôi lúc bấy giờ mười chín tuổi, tuổi ăn, ngồi ghế cạnh cửa sổ xe, nhìn xuống chợ thấy có bán bánh bèo. Bụng đang đói cồn cào, thấy bánh bèo thèm quá mà không có tiền mua. Có lẽ thấy thằng con tôi thèm thuồng, chị bán bánh bèo hỏi nó:
-Bị bắt vì tội gì vậy ?
-Vượt biên.
Chị hỏi tiếp:
-Ăn bánh bèo không, chị cho một dĩa?
Con tôi mừng quá, trả lời:
-Dạ ăn, cảm ơn chị lắm !
Nước múc dưới giếng không tốn kém, nhưng đã làm mát lòng những con người đang bị đầy đọa, khốn khổ. Dĩa bánh bèo tính thành tiền không nhiều lắm, nhưng bằng mấy chén cơm của người tốt bụng chia sớt cho con tôi trong thời kỳ ăn bo bo thay gạo. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Những thứ đó là ân tình thâm trọng mà gia đình tôi không bao giờ quên, mặc dầu người cho không nghĩ đến việc báo đền, thi ân bất cầu báo.
Đã gần ba mươi năm rồi, không biết cụ bà cho nước giếng và chị cho bánh bèo còn khỏe mạnh hay không ? Dù quý vị hảo tâm đó ở vào hoàn cảnh nào, tôi cũng xin thành tâm cầu nguyện cho quý vị được mọi điều tốt đẹp nhứt.
Dương Văn Chung
Viên tài công chánh bị trở ngại giữa đường, không đến được điểm hẹn, chủ tàu cho người tài công phụ lái thay chiếc thuyền đánh cá chở người vượt biên, trong đó có mấy đứa trẻ, con cháu tôi.
Tàu ra khỏi hải phận suôn sẻ. Thay vì lái xuống phía Nam để đến Mã Lai hoặc Nam Dương, viên tài công phụ lái theo chiều gió chướng, đi về hướng Hồng Kông.
Khi đến ngang quần đảo Phi Luật Tân, một trận bão dữ dội nổi lên, thuyền bắt buộc phải quay mũi trở về Việt Nam, cặp bến ngay ổ kiến lửa, Quảng Ngãi.
Bị giam ở xã mấy ngày để điều tra và hành tội, đoàn người vượt biên bị giải đi bộ lên huyện, cách đó hơn hai mươi cây số, mà không chuẩn bị cho mang theo nước uống. Một cụ bà ở kế bên trụ sở xã thấy vậy mới chửi hai tên du kích xã:
-Tụi bây đừng có ác nhơn, thất đức quá vậy. Giải người ta đi bộ xa mấy mươi cây số mà không chuẩn bị nước uống, để người ta chết khát, phải không ?
Nói rồi bà đưa thùng và đòn gánh cho mấy thanh niên vượt biên múc nước giếng đem theo uống.
Từ huyện đoàn người vượt biên bị giải giao về khám Chí Hòa Sài Gòn bằng xe đò. Mỗi người họ bị buộc vào băng ghế xe bằng dây thừng, đói và khát nước.
Khi xe tù đến chợ Phan Rang thì dừng lại cho bọn cán bộ nghỉ giải lao, thằng con tôi lúc bấy giờ mười chín tuổi, tuổi ăn, ngồi ghế cạnh cửa sổ xe, nhìn xuống chợ thấy có bán bánh bèo. Bụng đang đói cồn cào, thấy bánh bèo thèm quá mà không có tiền mua. Có lẽ thấy thằng con tôi thèm thuồng, chị bán bánh bèo hỏi nó:
-Bị bắt vì tội gì vậy ?
-Vượt biên.
Chị hỏi tiếp:
-Ăn bánh bèo không, chị cho một dĩa?
Con tôi mừng quá, trả lời:
-Dạ ăn, cảm ơn chị lắm !
Nước múc dưới giếng không tốn kém, nhưng đã làm mát lòng những con người đang bị đầy đọa, khốn khổ. Dĩa bánh bèo tính thành tiền không nhiều lắm, nhưng bằng mấy chén cơm của người tốt bụng chia sớt cho con tôi trong thời kỳ ăn bo bo thay gạo. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Những thứ đó là ân tình thâm trọng mà gia đình tôi không bao giờ quên, mặc dầu người cho không nghĩ đến việc báo đền, thi ân bất cầu báo.
Đã gần ba mươi năm rồi, không biết cụ bà cho nước giếng và chị cho bánh bèo còn khỏe mạnh hay không ? Dù quý vị hảo tâm đó ở vào hoàn cảnh nào, tôi cũng xin thành tâm cầu nguyện cho quý vị được mọi điều tốt đẹp nhứt.
MỘT CHÚT HƯƠNG VỊ QUÊ MÌNH
MỘT CHÚT HƯƠNG VỊ QUÊ MÌNH
(Thân tặng quý đồng hương Châu Đốc,
đặc biệt tặng anh Phạm Trung Tuệ,
bạn đồng học Tiểu học)
Dương Văn Chung
Hôm nay tôi muốn làm người quân tử, dĩ thực vi tiên, gợi nhớ một chút hương vị quê mình ở tuổi học trò.
Có thể nói Cabramatta là thủ đô của người Việt ở Sydney-Úc Đại Lợi. Nơi đó có bán bún nước lèo, giống bún nước lèo Châu Đốc, rất đơn giản, không có thịt heo quay như bún nước lèo Sóc Trăng, mà chỉ có cá, nấu với ngải bún, ăn với rau ghém, bắp chuối, dưa leo xắt nhuyễn. Tô bún dọn ra luôn luôn có kèm theo một cái khay với chén muối bọt, dĩa ớt tươi xanh xanh, đỏ đỏ, chén ớt bột khô, keo ớt giấm và mấy miếng chanh.
Hương vị tô bún nước lèo làm tôi nhớ đến tiếng rao trong trẻo của mấy bà người Miên, bơi xuồng dọc ven sông chợ Châu Đốc, bán cho các ghe gạo hàng xáo neo ở giữa sông:
-B…ú…n hôn (không) ?
Tiếng “bún” không rõ, chỉ nghe tiếng gì đó có dấu sắc, nhưng quen rồi nên biết đó là tiếng “bún”.
Có thể trong nước lèo có nêm một chút mắm của người Miên làm, gọi là “bò hóc”. Nghe nói “bò hóc”, chắc nhiều người gớm lắm, nhưng có loại rất trắng, sạch sẽ, vệ sinh.
Còn bún làm bằng bột gạo, ép thành từng dề nhỏ, mềm mại. Nếu không có nước lèo, có thể mua bún nầy về ăn với nước mắm chanh tỏi ớt cũng ngon miệng lắm rồi.
Lại còn món hủ tiếu hấp, bán trước nhà lồng chợ Châu Đốc, chỗ bãi đất trống chạy dài từ đầu ngoài nhà lồng chợ ra tới con đường dọc bờ sông. Một bà trung niên để cái xửng hấp hủ tiếu dai. Khách đến mua, người bán dỡ nắp xửng ra, hơi nước sôi bốc lên nghi ngút, để rau giá và hủ tiếu vào dĩa, cho bì vào, rồi chan nước cốt dừa và nước mắm chanh tỏi ớt lên, thật là ngon! Khách có thể ngồi ghế một chung quanh cái bàn nhỏ để ăn tại chỗ, cũng có thể đem theo tô dĩa để mua đem về.
Món bánh hỏi để trên cái tràn, đan bằng tre, miệng tròn, cạn lòng, giống như cái nia, nhưng nhỏ hơn, ăn với xà lách, rau sống, thịt ba rọi luộc, chấm nước mắm chanh tỏi ớt. Bánh hỏi để tràn cuốn gói bằng tay ngon hơn trộn trong tô, trong dĩa. Ai có đi tàu thủy hai tầng, có ống khói lớn, từ Châu Đốc lên Nam Vang vào mùa đông, mua một tràn bánh hỏi ngồi cạnh ống khói ở tầng trên, vừa ăn vừa ngắm cảnh hai bên bờ, thú vị làm sao, đã ấm áp lại ngon miệng.
Cái bánh gói ở quê mình, chắc lâu lắm rồi, các bạn đã quên. Bánh làm bằng bột dè, màu vàng sậm, với đường thốt nốt hay đường thẻ, hấp chín trong vắt, nhưn đậu xanh, gói lá chuối, ép dẹp, vuông vức, mỗi cạnh độ hơn một tấc. Bánh rất thơm mùi lá chuối hấp. Bóc lá chuối ra, chế nước cốt dừa, ngon tuyệt vời! Cây dè thường chỉ trồng ở Miên, có cây to, đường kính khoảng 4-5 tấc, người ta đẽo bỏ vỏ ngoài, rồi bào ruột cây, bột rất nhiều, đem tẻ với nước trong để lấy bột dè. Bột dè khuấy với đường, ăn như chè.
Bánh bò thốt nốt làm bằng bột gạo trộn với cơm trái thốt nốt chín, màu vàng tươi. Bánh hấp chín rất thơm, ăn với dừa nạo.
Ngày xưa, sáng sớm, có người Miên gánh ra chợ Châu Đốc bán nước thốt nốt, đựng trong những ống bằng tre màu đen, ống dài chừng năm sáu tấc, ống ngắn độ hai tấc. Nước thốt nốt có một hương vị đặc biệt, người mua bưng ống mà uống, vừa nghe phảng phất mùi thơm của khói lúc nấu thốt nốt, vừa thưởng thức vị ngọt dịu của nước thốt nốt.
Đêm đêm có ông già người Hoa ốm yếu, xách một cái thùng tròn màu xanh dương rao bán chè đậu xanh có để bột vỏ quít:
-Lục tào xá, lục tào xá.
Có đêm ông rao bán chè mè đen:
-Chí mè phủ, chí mè phủ.
Một người Hoa khác bán mía hấp.
Các bạn còn nhớ không? Nơi cổng trường, trước giờ học hoặc trong giờ ra chơi, học trò chen nhau mua những dĩa gỏi đu đủ xanh xanh, trên đó có vài cọng khô bò, chan nước mắm, xịt chút tương ớt đỏ, vừa ăn vừa hít hà, chảy mồ hôi râu.
Kế bên là chiếc xe đạp bán kẹo kéo. Kẹo trắng tinh, đựng trong cái khay bằng gỗ thông, phía dưới có lót vải trắng. Học trò đến mua, người bán lấy một góc vải trắng trùm lên khối kẹo, kéo ra thành một cây kẹo tròn bằng ngón tay trỏ, dài độ bảy tám phân, rồi lấy ngón tay búng một cái để bẻ gẫy cây kẹo đưa cho học trò. Trong kẹo có đậu phọng rang, thơm và béo.
Mùa nóng đứa nào cũng thích nước đá vắt. Một cái thùng cây có bánh xe, có mui. Trên xe có một bàn bào nước đá quay tay, mấy chai xi-rô, màu xanh là bạc hà, màu đỏ là hột lựu, màu vàng là cam. Nước đá bào, ém trong ly, rồi trút ra, chế xi-rô. Học trò đưa cục nước đá vắt lên miệng, hút từng chút, từng chút, nước xi-rô lạnh, ngọt và mát vô cùng !
Thưa các bạn, người quân tử ăn chẳng cầu no, tôi chỉ kể bao nhiêu thôi, xin các bạn kể tiếp các món ăn khác, đặc thù cho quê mình.
Dương Văn Chung
(Thân tặng quý đồng hương Châu Đốc,
đặc biệt tặng anh Phạm Trung Tuệ,
bạn đồng học Tiểu học)
Dương Văn Chung
Hôm nay tôi muốn làm người quân tử, dĩ thực vi tiên, gợi nhớ một chút hương vị quê mình ở tuổi học trò.
Có thể nói Cabramatta là thủ đô của người Việt ở Sydney-Úc Đại Lợi. Nơi đó có bán bún nước lèo, giống bún nước lèo Châu Đốc, rất đơn giản, không có thịt heo quay như bún nước lèo Sóc Trăng, mà chỉ có cá, nấu với ngải bún, ăn với rau ghém, bắp chuối, dưa leo xắt nhuyễn. Tô bún dọn ra luôn luôn có kèm theo một cái khay với chén muối bọt, dĩa ớt tươi xanh xanh, đỏ đỏ, chén ớt bột khô, keo ớt giấm và mấy miếng chanh.
Hương vị tô bún nước lèo làm tôi nhớ đến tiếng rao trong trẻo của mấy bà người Miên, bơi xuồng dọc ven sông chợ Châu Đốc, bán cho các ghe gạo hàng xáo neo ở giữa sông:
-B…ú…n hôn (không) ?
Tiếng “bún” không rõ, chỉ nghe tiếng gì đó có dấu sắc, nhưng quen rồi nên biết đó là tiếng “bún”.
Có thể trong nước lèo có nêm một chút mắm của người Miên làm, gọi là “bò hóc”. Nghe nói “bò hóc”, chắc nhiều người gớm lắm, nhưng có loại rất trắng, sạch sẽ, vệ sinh.
Còn bún làm bằng bột gạo, ép thành từng dề nhỏ, mềm mại. Nếu không có nước lèo, có thể mua bún nầy về ăn với nước mắm chanh tỏi ớt cũng ngon miệng lắm rồi.
Lại còn món hủ tiếu hấp, bán trước nhà lồng chợ Châu Đốc, chỗ bãi đất trống chạy dài từ đầu ngoài nhà lồng chợ ra tới con đường dọc bờ sông. Một bà trung niên để cái xửng hấp hủ tiếu dai. Khách đến mua, người bán dỡ nắp xửng ra, hơi nước sôi bốc lên nghi ngút, để rau giá và hủ tiếu vào dĩa, cho bì vào, rồi chan nước cốt dừa và nước mắm chanh tỏi ớt lên, thật là ngon! Khách có thể ngồi ghế một chung quanh cái bàn nhỏ để ăn tại chỗ, cũng có thể đem theo tô dĩa để mua đem về.
Món bánh hỏi để trên cái tràn, đan bằng tre, miệng tròn, cạn lòng, giống như cái nia, nhưng nhỏ hơn, ăn với xà lách, rau sống, thịt ba rọi luộc, chấm nước mắm chanh tỏi ớt. Bánh hỏi để tràn cuốn gói bằng tay ngon hơn trộn trong tô, trong dĩa. Ai có đi tàu thủy hai tầng, có ống khói lớn, từ Châu Đốc lên Nam Vang vào mùa đông, mua một tràn bánh hỏi ngồi cạnh ống khói ở tầng trên, vừa ăn vừa ngắm cảnh hai bên bờ, thú vị làm sao, đã ấm áp lại ngon miệng.
Cái bánh gói ở quê mình, chắc lâu lắm rồi, các bạn đã quên. Bánh làm bằng bột dè, màu vàng sậm, với đường thốt nốt hay đường thẻ, hấp chín trong vắt, nhưn đậu xanh, gói lá chuối, ép dẹp, vuông vức, mỗi cạnh độ hơn một tấc. Bánh rất thơm mùi lá chuối hấp. Bóc lá chuối ra, chế nước cốt dừa, ngon tuyệt vời! Cây dè thường chỉ trồng ở Miên, có cây to, đường kính khoảng 4-5 tấc, người ta đẽo bỏ vỏ ngoài, rồi bào ruột cây, bột rất nhiều, đem tẻ với nước trong để lấy bột dè. Bột dè khuấy với đường, ăn như chè.
Bánh bò thốt nốt làm bằng bột gạo trộn với cơm trái thốt nốt chín, màu vàng tươi. Bánh hấp chín rất thơm, ăn với dừa nạo.
Ngày xưa, sáng sớm, có người Miên gánh ra chợ Châu Đốc bán nước thốt nốt, đựng trong những ống bằng tre màu đen, ống dài chừng năm sáu tấc, ống ngắn độ hai tấc. Nước thốt nốt có một hương vị đặc biệt, người mua bưng ống mà uống, vừa nghe phảng phất mùi thơm của khói lúc nấu thốt nốt, vừa thưởng thức vị ngọt dịu của nước thốt nốt.
Đêm đêm có ông già người Hoa ốm yếu, xách một cái thùng tròn màu xanh dương rao bán chè đậu xanh có để bột vỏ quít:
-Lục tào xá, lục tào xá.
Có đêm ông rao bán chè mè đen:
-Chí mè phủ, chí mè phủ.
Một người Hoa khác bán mía hấp.
Các bạn còn nhớ không? Nơi cổng trường, trước giờ học hoặc trong giờ ra chơi, học trò chen nhau mua những dĩa gỏi đu đủ xanh xanh, trên đó có vài cọng khô bò, chan nước mắm, xịt chút tương ớt đỏ, vừa ăn vừa hít hà, chảy mồ hôi râu.
Kế bên là chiếc xe đạp bán kẹo kéo. Kẹo trắng tinh, đựng trong cái khay bằng gỗ thông, phía dưới có lót vải trắng. Học trò đến mua, người bán lấy một góc vải trắng trùm lên khối kẹo, kéo ra thành một cây kẹo tròn bằng ngón tay trỏ, dài độ bảy tám phân, rồi lấy ngón tay búng một cái để bẻ gẫy cây kẹo đưa cho học trò. Trong kẹo có đậu phọng rang, thơm và béo.
Mùa nóng đứa nào cũng thích nước đá vắt. Một cái thùng cây có bánh xe, có mui. Trên xe có một bàn bào nước đá quay tay, mấy chai xi-rô, màu xanh là bạc hà, màu đỏ là hột lựu, màu vàng là cam. Nước đá bào, ém trong ly, rồi trút ra, chế xi-rô. Học trò đưa cục nước đá vắt lên miệng, hút từng chút, từng chút, nước xi-rô lạnh, ngọt và mát vô cùng !
Thưa các bạn, người quân tử ăn chẳng cầu no, tôi chỉ kể bao nhiêu thôi, xin các bạn kể tiếp các món ăn khác, đặc thù cho quê mình.
Dương Văn Chung
THƯ GỞI EM LÊ VĂN PHÀN
THƯ GỞI EM LÊ VĂN PHÀN
(Con của Thầy Lê Văn Vững)
Dương Văn Chung
Mến gởi em Phàn,
Anh là một trong những đứa học trò tiểu học của ba em, ba thường dạy học trò gọi má em bằng thím. Năm nào cũng vậy, vào dịp nghỉ hè, ba mở lớp dạy thêm toán và pháp văn miễn phí cho trên ba mươi đứa học trò của ba và con cái của bạn ba. Ba rất nghiêm, sống thanh đạm, nhưng rất giàu lòng từ ái với học trò, coi học trò như con ruột.
Ba má lại chiếu cố chăm sóc đặc biệt cho anh. Hằng năm, cứ vào mùa hoa phượng nở, ba má xuất tiền riêng để làm bánh quai vạc nhưn đậu xanh và nhưn dừa để anh đem vào lớp làm liên hoan tất niên, có mời quý thầy cô lớp khác đến tham dự. Ba dạy cho anh đọc diễn văn chào mừng và chúc sức khoẻ quý thầy cô, cảm ơn thầy khó nhọc dạy dỗ và nói lời tạm biệt lúc nghỉ hè.
Mới ngày nào đây, giờ nghỉ giải lao trong những buổi học riêng ở nhà ba, em thường quấn quit bên anh, anh dắt em đi dạo chơi quanh quẩn. Má thường cho em mặc chiếc sơ mi ngắn tay màu trắng, bỏ vào bên trong chiếc quần sọt màu xanh dương, có hai quai tréo phía sau lưng, rồi choàng ra phía trước thành hai sợi song song cài vào lưng quần, chân mang giày săn đan. Mặt em sáng láng, ngây thơ. Má hỏi em ba má chết, em ở với ai? Em thật thà trả lời không cần suy nghĩ rằng em ở với anh. Anh vui và cảm động vô cùng.
Sau đó, anh phải đi học xa. Rồi lập gia đình và bén gót chạy theo sự nghiệp, mặt phong trần nắng rám mùi dâu, gió bão cuộc đời đẩy anh lên, quật anh xuống, anh đi làm tư sở, công sở, nhập ngũ, “tập trung cải tạo”, đi làm rẫy, làm ruộng…Cuộc sống bảy nổi ba chìm làm anh quên bẵng những gì không thể quên được, anh đã quên em rồi. Thật là đáng trách!
Nhân dịp một người bạn về thăm quê nhà, anh nhờ tìm địa chỉ của em, được biết em không còn ở cõi ta bà nầy nữa! Em “chuyển hộ khẩu” về đâu, em Phàn nhỉ?
Qua hình ảnh và tánh tình của em ngày xưa, thêm vào đó là đức trọng của ba má, anh tin rằng em đang ở một nơi rất an lành, trên chín tầng mây, nơi đó không có tranh chấp, hận thù, không quá vất vả như cõi trần thế ô trược nầy.
Anh cầu nguyện cho em được thanh nhàn, tịnh lạc.
Dương Văn Chung
(Con của Thầy Lê Văn Vững)
Dương Văn Chung
Mến gởi em Phàn,
Anh là một trong những đứa học trò tiểu học của ba em, ba thường dạy học trò gọi má em bằng thím. Năm nào cũng vậy, vào dịp nghỉ hè, ba mở lớp dạy thêm toán và pháp văn miễn phí cho trên ba mươi đứa học trò của ba và con cái của bạn ba. Ba rất nghiêm, sống thanh đạm, nhưng rất giàu lòng từ ái với học trò, coi học trò như con ruột.
Ba má lại chiếu cố chăm sóc đặc biệt cho anh. Hằng năm, cứ vào mùa hoa phượng nở, ba má xuất tiền riêng để làm bánh quai vạc nhưn đậu xanh và nhưn dừa để anh đem vào lớp làm liên hoan tất niên, có mời quý thầy cô lớp khác đến tham dự. Ba dạy cho anh đọc diễn văn chào mừng và chúc sức khoẻ quý thầy cô, cảm ơn thầy khó nhọc dạy dỗ và nói lời tạm biệt lúc nghỉ hè.
Mới ngày nào đây, giờ nghỉ giải lao trong những buổi học riêng ở nhà ba, em thường quấn quit bên anh, anh dắt em đi dạo chơi quanh quẩn. Má thường cho em mặc chiếc sơ mi ngắn tay màu trắng, bỏ vào bên trong chiếc quần sọt màu xanh dương, có hai quai tréo phía sau lưng, rồi choàng ra phía trước thành hai sợi song song cài vào lưng quần, chân mang giày săn đan. Mặt em sáng láng, ngây thơ. Má hỏi em ba má chết, em ở với ai? Em thật thà trả lời không cần suy nghĩ rằng em ở với anh. Anh vui và cảm động vô cùng.
Sau đó, anh phải đi học xa. Rồi lập gia đình và bén gót chạy theo sự nghiệp, mặt phong trần nắng rám mùi dâu, gió bão cuộc đời đẩy anh lên, quật anh xuống, anh đi làm tư sở, công sở, nhập ngũ, “tập trung cải tạo”, đi làm rẫy, làm ruộng…Cuộc sống bảy nổi ba chìm làm anh quên bẵng những gì không thể quên được, anh đã quên em rồi. Thật là đáng trách!
Nhân dịp một người bạn về thăm quê nhà, anh nhờ tìm địa chỉ của em, được biết em không còn ở cõi ta bà nầy nữa! Em “chuyển hộ khẩu” về đâu, em Phàn nhỉ?
Qua hình ảnh và tánh tình của em ngày xưa, thêm vào đó là đức trọng của ba má, anh tin rằng em đang ở một nơi rất an lành, trên chín tầng mây, nơi đó không có tranh chấp, hận thù, không quá vất vả như cõi trần thế ô trược nầy.
Anh cầu nguyện cho em được thanh nhàn, tịnh lạc.
Dương Văn Chung
MỰC TÍM
MỰC TÍM
Dương Văn Chung
Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa về thăm quê hương, có ý đi tìm cảnh cũ, người xưa để gợi lại những kỷ niệm tuổi học trò, nhưng anh rất thất vọng, người xưa đã tản mạn, kẻ mất, người dời, nhà cửa phá đi xây mới. Đến ngôi trường cũ, anh muốn thu hình, nhưng bị cấm đoán với lý do người nước ngoài thấy trường quá cũ sẽ cười cho. Nghe nói bây giờ trường mới xây lại, rộng lớn, có lầu đẹp lắm. Tôi mừng cho em cháu ở quê nhà có trường lớp khang trang để học, nhưng lòng hoài cổ gợn buồn:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
(Bà Huyện Thanh Quan-Thăng Long Thành Hoài Cổ)
Đối với người đi tìm kỷ niệm thì “càng cũ càng quý”, phải không?
Làm sao tôi quên được mảnh đất tôi đã lui tới chín năm liền, ngày hai buổi cắp sách đến trường, trường Nam Tiểu Học Châu Đốc và trường Trung Học Châu Đốc-sau đổi thành Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa.
Cảnh cũ đã đổi thay, bạn đồng môn kẻ còn, người mất, dẫu còn sống cũng rất khó nhận ra, quý thầy, cô hầu hết đã từ giả cõi đời. Nhưng mỗi khi nhắc đến cái khuôn viên trong đó có hai ngôi trường cũ, lòng tôi cảm thấy nao nao, nhớ cảnh, nhớ người.
Tại khuôn viên nầy, vào cuối thập niên bốn mươi, đầu thập niên năm mươi, lính Tây hay nói đúng hơn là cai ngục khám lớn, thường dẫn một số tù nhân người Việt Nam, không rõ phạm tội gì, đến làm “cọt vê”, tức là làm lao động, quét dọn sân trường, chân họ bị xiềng bằng dây xích. Bọn cai ngục dùng roi da đánh họ để đôn đốc họ làm việc. Phải chăng đấy là một trong những cảnh khơi dậy lòng yêu nước của quý thầy cô giáo, ngấm ngầm có hành động ủng hộ kháng chiến chống Pháp, rồi mấy mươi vị bị bắt giam để điều tra ?
Cũng nơi sân trường nầy giờ ra chơi, các trò nhỏ tiểu học đã ồn náo, tốp chơi u, tốp đẽo bao thuốc, tốp chơi bỏ khăn, tốp nhảy dây, tốp thẩy đáo lạc, tốp thẩy lon…v.v. Các anh chị trung học thì tụm năm, tụm ba trao đổi việc học, việc nhà. Lúc bấy giờ, tôi nhìn mấy anh chị lớp trên tôi với tấm lòng ngưỡng mộ, khát khao được học tới đó.
Một hồi trống vang lên, các trò vui cũng như những cuộc hàn huyên chấm dứt, tất cả trở về lớp học, im phăng phắc nghe lời thầy cô giảng bài. Thời bấy giờ học trò tiểu học không được xài viết bơm mực, mà phải xài mực tím đựng trong bình, dùng ngòi viết lá tre để viết chữ thường và ngòi viết “ rong”, đọc trại âm của chữ Pháp “rond” là tròn, dùng để viết chữ lớn. Ngòi viết lá tre mũi nhọn, nét kéo lên rất mảnh, nét kéo xuống, do ngòi viết bị ấn mạnh, to ra. Cho nên chữ viết bằng ngòi viết lá tre đẹp, rất có nét. Vì mũi nhọn nên ngòi viết lá tre cũng được dùng để trồng trái, mấy cô y tá lấy ngòi viết lá tre chấm vào thuốc chủng ngừa bịnh đậu mùa hay bịnh trái giống, rồi dùng mũi nhọn ngòi viết cào lên da cánh tay của trẻ con để cho thuốc chủng ngấm vào. Cũng một ngòi viết lá tre duy nhứt đó cào da đứa nầy xong, lại cào da đứa khác, có ai biết gì những bịnh viêm gan hay liệt kháng đâu mà sợ lây nhiễm. Trồng trái xong phải cử ăn nếp vì sợ cương. Còn ngòi viết “rong” thì đầu bằng, nét chữ lớn, thường dùng viết chữ “ gô-tíc”, có nét, có cạnh, kiểu cọ, “hoa lá cành”. Chương trình tiểu học có môn Tập viết, học trò cũng khá vất vả với môn tập viết nầy, viết không chuẩn bị thước bản gõ vào đầu mấy ngón tay chúm lại. Học sinh mang cặp da hoặc cặp đệm, đan bằng lá bàng, tay xách bình mực tím. Mực tím đựng bình dễ đổ, dính tay, quần áo hoặc dính đầy bàn học.
Học sinh tiểu học nam không có đồng phục, đứa mặc bà-ba, đứa mặc sơ-mi, đủ màu sắc, đứa mặc quần sọt, đứa mặc quần dài, đứa đi guốc, đứa đi dép, đứa đi chân không. Học sinh trung học dần dần có đồng phục, nam quần dài xanh dương, áo sơ-mi trắng, nữ áo dài trắng.
Tới bây giờ, đôi lúc bất chợt nhớ lại ngôi trường cũ, tai tôi như còn nghe văng vẳng tiếng ê a của các trò học lớp đồng ấu, đọc bài nhịp nhàng theo tiếng nhịp thước của thầy Thế, một thầy giáo già với cặp kính viễn để nhìn xa. Khi nhìn gần hoặc đọc chữ, thầy kéo nhích cặp mắt kính xuống.
Trong một đời dạy học, mỗi thầy cô đã đào tạo bao nhiêu môn sinh từ các nơi quy tụ về học và rồi những môn sinh này đi muôn phương để làm việc lợi ích cho xã hội:
Góp nhặt tự bốn phương,
Tung ra khắp bốn phương.
Đó là việc làm cao quý của quý thầy cô.
Quý thầy cô đã lớp lớp ra đi, học trò cũng lần lượt ra đi. Cái gì cũng đổi thay theo luật vô thường, chỉ còn lại trong tâm tưởng của mình, những người còn lại, bao nhiêu kỷ niệm, những hình bóng đẹp đẽ, những âm hưởng tuyệt vời của thời xa xưa ấy, ân sâu nghĩa nặng của quý thầy cô và tình đồng môn thắm thiết khó phai mờ.
Dương Văn Chung
Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa về thăm quê hương, có ý đi tìm cảnh cũ, người xưa để gợi lại những kỷ niệm tuổi học trò, nhưng anh rất thất vọng, người xưa đã tản mạn, kẻ mất, người dời, nhà cửa phá đi xây mới. Đến ngôi trường cũ, anh muốn thu hình, nhưng bị cấm đoán với lý do người nước ngoài thấy trường quá cũ sẽ cười cho. Nghe nói bây giờ trường mới xây lại, rộng lớn, có lầu đẹp lắm. Tôi mừng cho em cháu ở quê nhà có trường lớp khang trang để học, nhưng lòng hoài cổ gợn buồn:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
(Bà Huyện Thanh Quan-Thăng Long Thành Hoài Cổ)
Đối với người đi tìm kỷ niệm thì “càng cũ càng quý”, phải không?
Làm sao tôi quên được mảnh đất tôi đã lui tới chín năm liền, ngày hai buổi cắp sách đến trường, trường Nam Tiểu Học Châu Đốc và trường Trung Học Châu Đốc-sau đổi thành Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa.
Cảnh cũ đã đổi thay, bạn đồng môn kẻ còn, người mất, dẫu còn sống cũng rất khó nhận ra, quý thầy, cô hầu hết đã từ giả cõi đời. Nhưng mỗi khi nhắc đến cái khuôn viên trong đó có hai ngôi trường cũ, lòng tôi cảm thấy nao nao, nhớ cảnh, nhớ người.
Tại khuôn viên nầy, vào cuối thập niên bốn mươi, đầu thập niên năm mươi, lính Tây hay nói đúng hơn là cai ngục khám lớn, thường dẫn một số tù nhân người Việt Nam, không rõ phạm tội gì, đến làm “cọt vê”, tức là làm lao động, quét dọn sân trường, chân họ bị xiềng bằng dây xích. Bọn cai ngục dùng roi da đánh họ để đôn đốc họ làm việc. Phải chăng đấy là một trong những cảnh khơi dậy lòng yêu nước của quý thầy cô giáo, ngấm ngầm có hành động ủng hộ kháng chiến chống Pháp, rồi mấy mươi vị bị bắt giam để điều tra ?
Cũng nơi sân trường nầy giờ ra chơi, các trò nhỏ tiểu học đã ồn náo, tốp chơi u, tốp đẽo bao thuốc, tốp chơi bỏ khăn, tốp nhảy dây, tốp thẩy đáo lạc, tốp thẩy lon…v.v. Các anh chị trung học thì tụm năm, tụm ba trao đổi việc học, việc nhà. Lúc bấy giờ, tôi nhìn mấy anh chị lớp trên tôi với tấm lòng ngưỡng mộ, khát khao được học tới đó.
Một hồi trống vang lên, các trò vui cũng như những cuộc hàn huyên chấm dứt, tất cả trở về lớp học, im phăng phắc nghe lời thầy cô giảng bài. Thời bấy giờ học trò tiểu học không được xài viết bơm mực, mà phải xài mực tím đựng trong bình, dùng ngòi viết lá tre để viết chữ thường và ngòi viết “ rong”, đọc trại âm của chữ Pháp “rond” là tròn, dùng để viết chữ lớn. Ngòi viết lá tre mũi nhọn, nét kéo lên rất mảnh, nét kéo xuống, do ngòi viết bị ấn mạnh, to ra. Cho nên chữ viết bằng ngòi viết lá tre đẹp, rất có nét. Vì mũi nhọn nên ngòi viết lá tre cũng được dùng để trồng trái, mấy cô y tá lấy ngòi viết lá tre chấm vào thuốc chủng ngừa bịnh đậu mùa hay bịnh trái giống, rồi dùng mũi nhọn ngòi viết cào lên da cánh tay của trẻ con để cho thuốc chủng ngấm vào. Cũng một ngòi viết lá tre duy nhứt đó cào da đứa nầy xong, lại cào da đứa khác, có ai biết gì những bịnh viêm gan hay liệt kháng đâu mà sợ lây nhiễm. Trồng trái xong phải cử ăn nếp vì sợ cương. Còn ngòi viết “rong” thì đầu bằng, nét chữ lớn, thường dùng viết chữ “ gô-tíc”, có nét, có cạnh, kiểu cọ, “hoa lá cành”. Chương trình tiểu học có môn Tập viết, học trò cũng khá vất vả với môn tập viết nầy, viết không chuẩn bị thước bản gõ vào đầu mấy ngón tay chúm lại. Học sinh mang cặp da hoặc cặp đệm, đan bằng lá bàng, tay xách bình mực tím. Mực tím đựng bình dễ đổ, dính tay, quần áo hoặc dính đầy bàn học.
Học sinh tiểu học nam không có đồng phục, đứa mặc bà-ba, đứa mặc sơ-mi, đủ màu sắc, đứa mặc quần sọt, đứa mặc quần dài, đứa đi guốc, đứa đi dép, đứa đi chân không. Học sinh trung học dần dần có đồng phục, nam quần dài xanh dương, áo sơ-mi trắng, nữ áo dài trắng.
Tới bây giờ, đôi lúc bất chợt nhớ lại ngôi trường cũ, tai tôi như còn nghe văng vẳng tiếng ê a của các trò học lớp đồng ấu, đọc bài nhịp nhàng theo tiếng nhịp thước của thầy Thế, một thầy giáo già với cặp kính viễn để nhìn xa. Khi nhìn gần hoặc đọc chữ, thầy kéo nhích cặp mắt kính xuống.
Trong một đời dạy học, mỗi thầy cô đã đào tạo bao nhiêu môn sinh từ các nơi quy tụ về học và rồi những môn sinh này đi muôn phương để làm việc lợi ích cho xã hội:
Góp nhặt tự bốn phương,
Tung ra khắp bốn phương.
Đó là việc làm cao quý của quý thầy cô.
Quý thầy cô đã lớp lớp ra đi, học trò cũng lần lượt ra đi. Cái gì cũng đổi thay theo luật vô thường, chỉ còn lại trong tâm tưởng của mình, những người còn lại, bao nhiêu kỷ niệm, những hình bóng đẹp đẽ, những âm hưởng tuyệt vời của thời xa xưa ấy, ân sâu nghĩa nặng của quý thầy cô và tình đồng môn thắm thiết khó phai mờ.
HOA PHƯỢNG VĨ
HOA PHƯỢNG VĨ
Dương Văn Chung
Tôi rất thích cây điệp tây, tức là cây phượng, hoa màu đỏ thắm, rực rỡ trên nền lá xanh tươi, tàng cây cao rộng, che phủ một phần sân trường Tiểu học Nam Châu đốc. Người Hoa gọi cây phượng là phượng vĩ tùng, phượng là con chim phượng, vĩ là cái đuôi, vì lá của nó nhỏ như lá me, mọc đối xứng nhau trên một cọng nhỏ, rồi những cọng này lại mọc đối xứng trên một nhánh lớn, tạo thành một mảng lá xoè ra, thu nhỏ dần ở cuối nhánh, giống như đuôi con chim phượng. Hoa phượng nở vào mùa hè, báo hiệu cho học trò hai cuộc vui: lễ phát phần thưởng và bãi trường.
Lễ phát phần thưởng hàng năm được tổ chức thật long trọng. Quà để thưởng gồm có đồng hồ, viết máy, ra-đi-ô, sách đủ loại, trong đó xôm nhứt là những quyển từ điển. Tỉnh trưởng hoặc Phó Tỉnh trưởng đến khai mạc buổi lễ. Quan khách, phụ huynh học sinh, quý thầy cô giáo và học sinh tham dự chật rạp hát Lạc Thanh. Học sinh được lần lượt xướng danh lên lãnh thưởng. Phần thưởng thấp nhứt phát trước, phần thưởng cao nhứt là phần thưởng danh dự toàn trường phát sau cùng. Để cho buổi lễ được long trọng và tăng thêm danh dự cho học sinh lãnh thưởng, thầy điều hợp viên buổi lễ tuyên bố phần thưởng nầy do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại hoặc Đức Từ Dụ (thân mẫu của vua Bảo Đại) ân tứ, phần thưởng kia do Thủ Tướng Chánh Phủ khen tặng. Những màn văn nghệ rất hay và rất ý nghĩa như Trọng Thủy Mỵ Châu, Lê Lai Liều Mình Cứu Chúa…v.v. được quý thầy cô biên soạn cho học trò trình diễn, giúp cho buổi lễ Phát phần thưởng hết sức sinh động.
Lễ phát phần thưởng chấm dứt, học sinh nghĩ hè ba tháng.
Sau chín tháng “xôi kinh nấu sử”, học sinh ai cũng cảm thấy thấm mệt. Bãi trường là một dịp nghỉ ngơi để giải tỏa bớt những dồn nén, căng thẳng trong đầu, như Xuân Tâm đã mô tả niềm vui lúc Nghỉ hè trong Lời Tim Non (1941):
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ !
Thật vậy, trong lòng của mỗi học sinh lúc đó đều thoải mái, tươi mát như cảnh vật mùa xuân.
Ai cũng vui vẻ, cởi mở:
Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.
Niềm vui ấy tràn đầy, không dấu diếm được nữa:
Kiểm soát kỹ, có khi còn thiếu sót,
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.
Tâm lý chung là không còn muốn ngó ngàng gì đến bài vở nữa, mà chỉ nghĩ đến lúc sum họp gia đình và cảnh đẹp đẽ của mùa hè:
Trong khoảnh khắc sách bài là giấy cũ,
Nhớ làm chi, thầy mẹ đợi em trông.
Trên đường làng huyết phượng nở thành bông,
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.
Nôn nóng ngày về quê, không ăn ngủ được:
Chờ đêm nay, sáng sớm bước lên tàu,
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.
Bây giờ khi nào có dịp nhìn thấy hoa phượng đỏ, tôi nhớ lại thuở còn đi học, cuối năm rộn rịp với ngày lễ Phát phần thường, nhớ bài thơ Nghỉ hè của Xuân Tâm tôi đã học thuộc lòng hồi năm Lớp Nhì, đã diễn tả đúng tâm trạng chung của học trò, thật sung sướng và thư giãn nghỉ hè ba tháng.
THẦY TÔI
Dương Văn Chung
Quý thầy, cô giáo của tôi ngày xưa ai cũng tốt. Nhưng vì khuôn khổ của bài hồi ký có hạn, tôi xin chỉ ghi lại kỷ niệm với một số quý thầy cô để làm ví dụ điển hình.
Thầy giáo đầu tiên của tôi là ba tôi. Chữ viết của ông rất đẹp và chân phương, có nghĩa là không “hoa lá cành”, mà ngang bằng, sổ thẳng. Ba tôi không biết chữ Pháp, nhưng không rõ ông học với ai mà đọc cửu chương làu làu bằng tiếng Pháp, rất đúng giọng và làm bốn phép tính rất giỏi. Thời đó, trong làng tôi, Ba tôi được xem là người văn hay chữ đẹp. Mỗi lần tôi tập viết không chuẩn hoặc làm toán sai, Ba tôi hự một tiếng, tôi sợ quá, vụt chạy ra sau hè, ba tôi rượt theo, tôi lượn vòng mấy gốc xoài, đến sau nhà ông nội tôi ở kế cận. Ông nội tôi hỏi:
- Chuyện gì vậy ?
- Học hành chẳng nên thân. Ba tôi đáp.
Lần nào ông nội tôi cũng can gián:
- Thôi đi mầy, từ từ dạy nó.
Ba tôi không rầy la tôi nữa, nhưng vẻ mặt còn giận lắm.
Nhờ học với Ba tôi, lúc lên sáu tuổi, tôi đọc rành chữ Việt. Ông cố thường kêu tôi đọc truyện tàu như Tiết Nhơn Quí Chinh Đông, Tiết Nhơn Quí Chinh Tây, Phản Đường…v.v., đọc xong được Ông cố thưởng một trái chuối già thật lớn. Và khi vào trường Tiểu Học Châu Đốc thì vào thẳng lớp Dự Bị (Cours Preparatoire) sau nầy gọi là lớp Tư, toán không kém ai, nhưng Pháp văn thì khóc ròng với cách chia động từ Có (Verbe Avoir) và động từ Thì, Là (Verbe Être). Học khá lâu tôi mới theo kịp các bạn về Pháp văn.
Ông thầy thứ hai trong đời là ông Hai Phát, thầy dạy chữ Nho tại nhà. Ông Hai không dữ, nhưng hay dùng roi cá đuối cọ trên mép bộ ván ngựa nghe rột rột để hăm he, đe dọa môn sinh. Đến lệ cúng Tiên Sư, ông bảo mỗi môn sinh về thưa với cha mẹ tùy hỉ cho mỗi đứa đội nếp, đậu xanh, đường thẻ…đến để ông nấu chè cúng. Cúng xong, ông dọn ra cho học trò ăn để được sáng dạ. Học được mấy tháng, tôi thấy không nhớ nổi mặt chữ nên xin nghỉ học. Thằng em kế tôi mới đáng thương, nó học chữ nho chung với tôi. Nó xin thầy cho phép đi cầu. Cầu bắc bằng một tấm ván ở bờ sông, ngay trước nhà thầy, tôi ngồi trong lớp có thể nhìn thấy và trông chừng em tôi. Nó đem tập vở theo làm như siêng học lắm. Đến cầu, nó kéo quần xuống làm ra vẻ đi cầu, chỉ trong giây lát thì kéo quần lên, cầm tập vở chạy u về nhà gần đó. Tôi thưa với thầy chuyện thằng em trốn học. Thầy bảo học trò, trong đó có tôi, đến nhà khiêng em tôi trở lại lớp. Đó là cách phạt vạ học trò trốn học ngày xưa. Ba tôi bảo tôi:
- Con thưa với thầy em nó sợ quá, xin cho em nghỉ học luôn đi. Ba sẽ thưa với Thầy sau.
Bọn học trò chúng tôi đành đi tay không trở về lớp.
Học với ông Hai tôi chẳng nhớ được gì ngoài câu nghiêm huấn:
“Nhứt tự vi sư, bán tự vi sư”, một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy. Ơn thầy tôi nhớ mãi.
Ở lớp Dự Bị, tôi học với thầy Phùng. Thầy ốm yếu, rất hiền, trên tay luôn cầm một chai dầu gió hiệu Nhị Thiên Đường, thỉnh thoảng đưa lên mũi hít.
Tôi học với thầy Lê Văn Vững hai năm, lớp Sơ Đẳng tức là lớp Ba ( Cours Élementaire) và lớp Trung Đẳng, lớp Nhì ( Cours Moyen), nhưng tới giữa năm lớp Nhì thì thầy cùng với hơn ba mươi thầy cô giáo khác bị công an Pháp bắt giam tại Ty Công An Tỉnh Châu Đốc vì bị tình nghi tham gia kháng chiến chống Pháp. Tôi nghỉ học để đem cơm cho thầy suốt mấy tháng thầy bị giam. Một phần vì nghỉ học lâu quá sanh ra lười biếng, một phần vì muốn có dịp trả ơn cho dì dượng tôi đã nuôi tôi đi học, sau khi thầy được phóng thích, tôi xin thầy cho nghỉ học để đi góp tiền đò cho dì dượng tôi. Dượng tôi trúng thầu bến đò Châu Giang và bến đò Cồn Tiên. Thầy viết thư cho ba tôi, nói nếu gia đình gặp khó khăn về tài chánh, xin để thầy lo cho tôi tiếp tục đi học, cho đến khi thành tài, thầy trả tôi lại cho ba má tôi. Thầy giác đác cây còn non mà đốn làm củi chụm không có lợi bằng dưỡng cho cây lớn đem xẻ thành ván bán. Nhưng vì dì dượng tôi cần, nên ba tôi vẫn cho tôi nghỉ học.
Tôi còn nhớ, tuy với đồng lương giáo viên khiêm tốn, thầy đã bỏ tiền túi để đóng lệ phí lên án thế vì khai sanh cho ba đứa học trò, trong đó có tôi.
Thầy dạy chúng tôi gọi vợ thầy là thím. Cuối năm học, thầy bảo thím làm bánh quai vạc để học trò đem vào lớp ăn tất niên. Bữa liên hoan có quý thầy cô lớp khác đến dự. Thầy dạy cho tôi đọc diễn văn chào mừng quý thầy cô, cảm ơn thầy đã cực khổ dạy dỗ.
Chưa hết. Trong thời gian bãi trường, thầy mở lớp dạy miễn phí tại nhà, chẳng những cho học trò của thầy mà còn học trò lớp khác hoặc con của bạn bè.
Thầy rất nghiêm. Học trò kính mến và rất sợ thầy. Đối với học trò trai, thầy hay véo tóc mai hay bắp vế non, vừa véo thầy vừa nói:
- Con ơi là con!
Có lần một anh bạn trong lớp là anh Thời bị thầy gọi lên trả bài. Phần không thuộc bài, phần sợ bị đòn, anh cuống lên, hỏi thầy trả bài gì, thầy nói:
- Bài luân lý chớ bài gì?
Anh Thời sợ quá, cứ lặp đi lặp lại:
- A luân lý a…luân lý a…
Thầy nhịp roi, anh Thời chạy, thầy rượt theo, anh Thời chạy vòng vòng các dãy bàn, hong anh đụng vào cạnh bàn sưng một cục.
Khi thầy, thím mất tôi đi làm xa, không hay biết. Sau đó tôi về viếng mộ, thấy mộ của thầy, thím rất đẹp đẽ, nghe nói do anh Triều, lúc bấy giờ là Thiếu Tá và các anh chị khác, học trò cũ của thầy, cùng đứng ra lo chôn cất và xây mộ.
Nhớ lại sau khi tôi nghỉ học một năm để đi góp đò, thầy Vững khuyên tôi vào học lại. Trường tựu giữa tháng Chín năm trước, lúc tôi vào học lại là tháng Một năm sau, đã trễ bốn tháng rồi, thầy lại gởi tôi vào học lớp Nhứt (Cours Supérieur ) của thầy Đặng Văn Thuận. Thầy Thuận muốn từ chối vì lẽ lớp thầy học trò dỡ chiếm số đông, bây giờ nhận thêm một đứa học dở dang lớp Nhì mà lại nhập học trễ nữa thì thầy kéo không nổi, thầy Vững bảo đảm nếu tôi không học nổi thì thầy nhận lại, cho tôi học lại lớp Nhì của thầy. Thầy Thuận nhận. Tháng đầu tôi được xếp hạng tư, tháng kế lên hạng nhứt. Thầy Thuận vừa lòng thấy tôi chuyên cần. Để khuyến khích cả lớp cố gắng lên, thầy Thuận nói:
- Tháng tới đứa nào dành được hạng nhứt của thằng Chung thầy cho hạng nhứt trọn năm.
Hết sức cố gắng, tôi vẫn giữ luôn hạng nhứt đến cuối năm.
Thầy Thuận rất hiền, cao ráo, đẹp trai, nhưng rất đàng hoàng về tình cảm, thích đánh quần vợt. Năm đó là năm cuối cùng chúng tôi thi lấy Bằng Tiểu Học Bổ Túc Đông Dương C.E.P.C.I. (Certificat d’Étude Primaire Complémentaire Indochinois), có môn thi Pháp văn. Thầy Thuận dạy lớp tôi trúng tủ bài chánh tả Pháp Chez nous.
Tôi cũng không quên Bà Đốc Mót dạy Pháp văn, đã thông cảm với đứa học trò nghèo, cho tôi năm mươi đồng bạc để làm lộ phí đi Cần Thơ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Sau 30-04-1975 Bà được định cư tại Pháp, xuất gia lên đến phẩm vị Sư Cô và viên tịch tại đó.
Suốt đời tôi vẫn nhớ cái tát tay nẩy lửa của thầy Hỷ giáng cho tôi và anh Thành, bạn dì ruột của tôi. Đang ngồi học trong lớp Nhứt của thầy Thuận, nghe có tiếng lựu đạn nổ ngoài chợ, do Việt Minh gài. Giờ ra chơi, anh Thành và tôi chạy về nhà, cách trường chỉ độ ba mươi mét, để thăm người chị dâu đi chợ về chưa, có an toàn hay không. Thấy chị đã về nhà bình yên, chúng tôi quay trở lại trường thì gặp thầy Hỷ đang đứng nói chuyện với một vài thầy khác, thầy Hỷ kêu chúng tôi hỏi:
- Mấy đứa bây đi đâu về ?
Chúng tôi giải trình xong thì thầy Hỷ cho ăn đòn như trên. Thầy nói:
- Mấy đứa bây đi như vậy, tụi mật thám thấy sẽ nói vừa đi thẩy lựu đạn xong rồi chạy về thì làm sao giải thích ?
Chúng tôi không giận thầy Hỷ. Cái tát tai của thầy làm chúng tôi sáng mắt ra, học được một bài học khôn.
Xin mọi người thông cảm, bài hồi ký nầy không nhằm mục đích khoe chuyện học hành ngày xưa, mà chỉ muốn ghi lại một vài kỷ niệm khó phai về những ân tình mà quý thầy cô giáo đã dành cho học trò, không khác nào cha mẹ đùm bọc, chở che cho con cái.
Con xin thắp nén tâm hương với lòng biết ơn chân thành kính dâng lên tất cả quý Thầy, Cô mà con đã học và nguyện cầu cho quý Thầy, Cô được siêu thoát.
Dương Văn Chung
Tôi rất thích cây điệp tây, tức là cây phượng, hoa màu đỏ thắm, rực rỡ trên nền lá xanh tươi, tàng cây cao rộng, che phủ một phần sân trường Tiểu học Nam Châu đốc. Người Hoa gọi cây phượng là phượng vĩ tùng, phượng là con chim phượng, vĩ là cái đuôi, vì lá của nó nhỏ như lá me, mọc đối xứng nhau trên một cọng nhỏ, rồi những cọng này lại mọc đối xứng trên một nhánh lớn, tạo thành một mảng lá xoè ra, thu nhỏ dần ở cuối nhánh, giống như đuôi con chim phượng. Hoa phượng nở vào mùa hè, báo hiệu cho học trò hai cuộc vui: lễ phát phần thưởng và bãi trường.
Lễ phát phần thưởng hàng năm được tổ chức thật long trọng. Quà để thưởng gồm có đồng hồ, viết máy, ra-đi-ô, sách đủ loại, trong đó xôm nhứt là những quyển từ điển. Tỉnh trưởng hoặc Phó Tỉnh trưởng đến khai mạc buổi lễ. Quan khách, phụ huynh học sinh, quý thầy cô giáo và học sinh tham dự chật rạp hát Lạc Thanh. Học sinh được lần lượt xướng danh lên lãnh thưởng. Phần thưởng thấp nhứt phát trước, phần thưởng cao nhứt là phần thưởng danh dự toàn trường phát sau cùng. Để cho buổi lễ được long trọng và tăng thêm danh dự cho học sinh lãnh thưởng, thầy điều hợp viên buổi lễ tuyên bố phần thưởng nầy do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại hoặc Đức Từ Dụ (thân mẫu của vua Bảo Đại) ân tứ, phần thưởng kia do Thủ Tướng Chánh Phủ khen tặng. Những màn văn nghệ rất hay và rất ý nghĩa như Trọng Thủy Mỵ Châu, Lê Lai Liều Mình Cứu Chúa…v.v. được quý thầy cô biên soạn cho học trò trình diễn, giúp cho buổi lễ Phát phần thưởng hết sức sinh động.
Lễ phát phần thưởng chấm dứt, học sinh nghĩ hè ba tháng.
Sau chín tháng “xôi kinh nấu sử”, học sinh ai cũng cảm thấy thấm mệt. Bãi trường là một dịp nghỉ ngơi để giải tỏa bớt những dồn nén, căng thẳng trong đầu, như Xuân Tâm đã mô tả niềm vui lúc Nghỉ hè trong Lời Tim Non (1941):
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ !
Thật vậy, trong lòng của mỗi học sinh lúc đó đều thoải mái, tươi mát như cảnh vật mùa xuân.
Ai cũng vui vẻ, cởi mở:
Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.
Niềm vui ấy tràn đầy, không dấu diếm được nữa:
Kiểm soát kỹ, có khi còn thiếu sót,
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.
Tâm lý chung là không còn muốn ngó ngàng gì đến bài vở nữa, mà chỉ nghĩ đến lúc sum họp gia đình và cảnh đẹp đẽ của mùa hè:
Trong khoảnh khắc sách bài là giấy cũ,
Nhớ làm chi, thầy mẹ đợi em trông.
Trên đường làng huyết phượng nở thành bông,
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.
Nôn nóng ngày về quê, không ăn ngủ được:
Chờ đêm nay, sáng sớm bước lên tàu,
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.
Bây giờ khi nào có dịp nhìn thấy hoa phượng đỏ, tôi nhớ lại thuở còn đi học, cuối năm rộn rịp với ngày lễ Phát phần thường, nhớ bài thơ Nghỉ hè của Xuân Tâm tôi đã học thuộc lòng hồi năm Lớp Nhì, đã diễn tả đúng tâm trạng chung của học trò, thật sung sướng và thư giãn nghỉ hè ba tháng.
THẦY TÔI
Dương Văn Chung
Quý thầy, cô giáo của tôi ngày xưa ai cũng tốt. Nhưng vì khuôn khổ của bài hồi ký có hạn, tôi xin chỉ ghi lại kỷ niệm với một số quý thầy cô để làm ví dụ điển hình.
Thầy giáo đầu tiên của tôi là ba tôi. Chữ viết của ông rất đẹp và chân phương, có nghĩa là không “hoa lá cành”, mà ngang bằng, sổ thẳng. Ba tôi không biết chữ Pháp, nhưng không rõ ông học với ai mà đọc cửu chương làu làu bằng tiếng Pháp, rất đúng giọng và làm bốn phép tính rất giỏi. Thời đó, trong làng tôi, Ba tôi được xem là người văn hay chữ đẹp. Mỗi lần tôi tập viết không chuẩn hoặc làm toán sai, Ba tôi hự một tiếng, tôi sợ quá, vụt chạy ra sau hè, ba tôi rượt theo, tôi lượn vòng mấy gốc xoài, đến sau nhà ông nội tôi ở kế cận. Ông nội tôi hỏi:
- Chuyện gì vậy ?
- Học hành chẳng nên thân. Ba tôi đáp.
Lần nào ông nội tôi cũng can gián:
- Thôi đi mầy, từ từ dạy nó.
Ba tôi không rầy la tôi nữa, nhưng vẻ mặt còn giận lắm.
Nhờ học với Ba tôi, lúc lên sáu tuổi, tôi đọc rành chữ Việt. Ông cố thường kêu tôi đọc truyện tàu như Tiết Nhơn Quí Chinh Đông, Tiết Nhơn Quí Chinh Tây, Phản Đường…v.v., đọc xong được Ông cố thưởng một trái chuối già thật lớn. Và khi vào trường Tiểu Học Châu Đốc thì vào thẳng lớp Dự Bị (Cours Preparatoire) sau nầy gọi là lớp Tư, toán không kém ai, nhưng Pháp văn thì khóc ròng với cách chia động từ Có (Verbe Avoir) và động từ Thì, Là (Verbe Être). Học khá lâu tôi mới theo kịp các bạn về Pháp văn.
Ông thầy thứ hai trong đời là ông Hai Phát, thầy dạy chữ Nho tại nhà. Ông Hai không dữ, nhưng hay dùng roi cá đuối cọ trên mép bộ ván ngựa nghe rột rột để hăm he, đe dọa môn sinh. Đến lệ cúng Tiên Sư, ông bảo mỗi môn sinh về thưa với cha mẹ tùy hỉ cho mỗi đứa đội nếp, đậu xanh, đường thẻ…đến để ông nấu chè cúng. Cúng xong, ông dọn ra cho học trò ăn để được sáng dạ. Học được mấy tháng, tôi thấy không nhớ nổi mặt chữ nên xin nghỉ học. Thằng em kế tôi mới đáng thương, nó học chữ nho chung với tôi. Nó xin thầy cho phép đi cầu. Cầu bắc bằng một tấm ván ở bờ sông, ngay trước nhà thầy, tôi ngồi trong lớp có thể nhìn thấy và trông chừng em tôi. Nó đem tập vở theo làm như siêng học lắm. Đến cầu, nó kéo quần xuống làm ra vẻ đi cầu, chỉ trong giây lát thì kéo quần lên, cầm tập vở chạy u về nhà gần đó. Tôi thưa với thầy chuyện thằng em trốn học. Thầy bảo học trò, trong đó có tôi, đến nhà khiêng em tôi trở lại lớp. Đó là cách phạt vạ học trò trốn học ngày xưa. Ba tôi bảo tôi:
- Con thưa với thầy em nó sợ quá, xin cho em nghỉ học luôn đi. Ba sẽ thưa với Thầy sau.
Bọn học trò chúng tôi đành đi tay không trở về lớp.
Học với ông Hai tôi chẳng nhớ được gì ngoài câu nghiêm huấn:
“Nhứt tự vi sư, bán tự vi sư”, một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy. Ơn thầy tôi nhớ mãi.
Ở lớp Dự Bị, tôi học với thầy Phùng. Thầy ốm yếu, rất hiền, trên tay luôn cầm một chai dầu gió hiệu Nhị Thiên Đường, thỉnh thoảng đưa lên mũi hít.
Tôi học với thầy Lê Văn Vững hai năm, lớp Sơ Đẳng tức là lớp Ba ( Cours Élementaire) và lớp Trung Đẳng, lớp Nhì ( Cours Moyen), nhưng tới giữa năm lớp Nhì thì thầy cùng với hơn ba mươi thầy cô giáo khác bị công an Pháp bắt giam tại Ty Công An Tỉnh Châu Đốc vì bị tình nghi tham gia kháng chiến chống Pháp. Tôi nghỉ học để đem cơm cho thầy suốt mấy tháng thầy bị giam. Một phần vì nghỉ học lâu quá sanh ra lười biếng, một phần vì muốn có dịp trả ơn cho dì dượng tôi đã nuôi tôi đi học, sau khi thầy được phóng thích, tôi xin thầy cho nghỉ học để đi góp tiền đò cho dì dượng tôi. Dượng tôi trúng thầu bến đò Châu Giang và bến đò Cồn Tiên. Thầy viết thư cho ba tôi, nói nếu gia đình gặp khó khăn về tài chánh, xin để thầy lo cho tôi tiếp tục đi học, cho đến khi thành tài, thầy trả tôi lại cho ba má tôi. Thầy giác đác cây còn non mà đốn làm củi chụm không có lợi bằng dưỡng cho cây lớn đem xẻ thành ván bán. Nhưng vì dì dượng tôi cần, nên ba tôi vẫn cho tôi nghỉ học.
Tôi còn nhớ, tuy với đồng lương giáo viên khiêm tốn, thầy đã bỏ tiền túi để đóng lệ phí lên án thế vì khai sanh cho ba đứa học trò, trong đó có tôi.
Thầy dạy chúng tôi gọi vợ thầy là thím. Cuối năm học, thầy bảo thím làm bánh quai vạc để học trò đem vào lớp ăn tất niên. Bữa liên hoan có quý thầy cô lớp khác đến dự. Thầy dạy cho tôi đọc diễn văn chào mừng quý thầy cô, cảm ơn thầy đã cực khổ dạy dỗ.
Chưa hết. Trong thời gian bãi trường, thầy mở lớp dạy miễn phí tại nhà, chẳng những cho học trò của thầy mà còn học trò lớp khác hoặc con của bạn bè.
Thầy rất nghiêm. Học trò kính mến và rất sợ thầy. Đối với học trò trai, thầy hay véo tóc mai hay bắp vế non, vừa véo thầy vừa nói:
- Con ơi là con!
Có lần một anh bạn trong lớp là anh Thời bị thầy gọi lên trả bài. Phần không thuộc bài, phần sợ bị đòn, anh cuống lên, hỏi thầy trả bài gì, thầy nói:
- Bài luân lý chớ bài gì?
Anh Thời sợ quá, cứ lặp đi lặp lại:
- A luân lý a…luân lý a…
Thầy nhịp roi, anh Thời chạy, thầy rượt theo, anh Thời chạy vòng vòng các dãy bàn, hong anh đụng vào cạnh bàn sưng một cục.
Khi thầy, thím mất tôi đi làm xa, không hay biết. Sau đó tôi về viếng mộ, thấy mộ của thầy, thím rất đẹp đẽ, nghe nói do anh Triều, lúc bấy giờ là Thiếu Tá và các anh chị khác, học trò cũ của thầy, cùng đứng ra lo chôn cất và xây mộ.
Nhớ lại sau khi tôi nghỉ học một năm để đi góp đò, thầy Vững khuyên tôi vào học lại. Trường tựu giữa tháng Chín năm trước, lúc tôi vào học lại là tháng Một năm sau, đã trễ bốn tháng rồi, thầy lại gởi tôi vào học lớp Nhứt (Cours Supérieur ) của thầy Đặng Văn Thuận. Thầy Thuận muốn từ chối vì lẽ lớp thầy học trò dỡ chiếm số đông, bây giờ nhận thêm một đứa học dở dang lớp Nhì mà lại nhập học trễ nữa thì thầy kéo không nổi, thầy Vững bảo đảm nếu tôi không học nổi thì thầy nhận lại, cho tôi học lại lớp Nhì của thầy. Thầy Thuận nhận. Tháng đầu tôi được xếp hạng tư, tháng kế lên hạng nhứt. Thầy Thuận vừa lòng thấy tôi chuyên cần. Để khuyến khích cả lớp cố gắng lên, thầy Thuận nói:
- Tháng tới đứa nào dành được hạng nhứt của thằng Chung thầy cho hạng nhứt trọn năm.
Hết sức cố gắng, tôi vẫn giữ luôn hạng nhứt đến cuối năm.
Thầy Thuận rất hiền, cao ráo, đẹp trai, nhưng rất đàng hoàng về tình cảm, thích đánh quần vợt. Năm đó là năm cuối cùng chúng tôi thi lấy Bằng Tiểu Học Bổ Túc Đông Dương C.E.P.C.I. (Certificat d’Étude Primaire Complémentaire Indochinois), có môn thi Pháp văn. Thầy Thuận dạy lớp tôi trúng tủ bài chánh tả Pháp Chez nous.
Tôi cũng không quên Bà Đốc Mót dạy Pháp văn, đã thông cảm với đứa học trò nghèo, cho tôi năm mươi đồng bạc để làm lộ phí đi Cần Thơ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Sau 30-04-1975 Bà được định cư tại Pháp, xuất gia lên đến phẩm vị Sư Cô và viên tịch tại đó.
Suốt đời tôi vẫn nhớ cái tát tay nẩy lửa của thầy Hỷ giáng cho tôi và anh Thành, bạn dì ruột của tôi. Đang ngồi học trong lớp Nhứt của thầy Thuận, nghe có tiếng lựu đạn nổ ngoài chợ, do Việt Minh gài. Giờ ra chơi, anh Thành và tôi chạy về nhà, cách trường chỉ độ ba mươi mét, để thăm người chị dâu đi chợ về chưa, có an toàn hay không. Thấy chị đã về nhà bình yên, chúng tôi quay trở lại trường thì gặp thầy Hỷ đang đứng nói chuyện với một vài thầy khác, thầy Hỷ kêu chúng tôi hỏi:
- Mấy đứa bây đi đâu về ?
Chúng tôi giải trình xong thì thầy Hỷ cho ăn đòn như trên. Thầy nói:
- Mấy đứa bây đi như vậy, tụi mật thám thấy sẽ nói vừa đi thẩy lựu đạn xong rồi chạy về thì làm sao giải thích ?
Chúng tôi không giận thầy Hỷ. Cái tát tai của thầy làm chúng tôi sáng mắt ra, học được một bài học khôn.
Xin mọi người thông cảm, bài hồi ký nầy không nhằm mục đích khoe chuyện học hành ngày xưa, mà chỉ muốn ghi lại một vài kỷ niệm khó phai về những ân tình mà quý thầy cô giáo đã dành cho học trò, không khác nào cha mẹ đùm bọc, chở che cho con cái.
Con xin thắp nén tâm hương với lòng biết ơn chân thành kính dâng lên tất cả quý Thầy, Cô mà con đã học và nguyện cầu cho quý Thầy, Cô được siêu thoát.
Subscribe to:
Posts (Atom)