Nguyên Chủ tịch Quốc hội khuyến nghị đổi mới hệ thống chính trị
Ông Nguyễn Văn An, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức TƯ, Chủ tịch Quốc hội khóa XI tiếp tục chia sẻ góc nhìn của mình xung quanh việc chuẩn bị cho Đại hội XI. Ông bày tỏ mong muốn Đại hội XI chọn khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để cả về kinh tế và chính trị để tạo tiền đề cho đất nước tiếp tục bứt phá mạnh mẽ trong tương lai.
LTS: Đảng Cộng sản Việt Nam có hạnh phúc to lớn mà không dễ chính đảng nào có được: đó là sự tin yêu, đùm bọc, hy sinh, che chở của nhân dân trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập.
Trong hòa bình, dựng xây đất nước, có những lúc Đảng phạm những sai lầm, nhưng nhân dân vẫn đi theo Đảng, vẫn chung sức cùng Đảng sửa sai, mà sự nghiệp đổi mới thành công trong gần 25 năm qua là một minh chứng sinh động.
Hôm nay, trước thềm Đại hội 11, trước những vận hội mới mở ra với đất nước, người dân lại mang hết tâm huyết hiến kế để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước làm nên những trang sử mới cho dân tộc Việt Nam. Trong tinh thần đó, Tuần Việt Nam giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, với mong muốn Đại hội 11 sẽ thực sự là những ngày hội lớn của toàn dân, sẽ thổi lên hào khí cho đất nước. Mời bạn đọc cùng tranh luận, hiến kế với Đảng.
Các dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng XI vừa được công bố rộng rãi để lấy ý kiến nhân dân. Như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh: "Đây là một khâu rất quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị - vấn đề cốt tử của Đảng và là nhiệm vụ hàng đầu trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng". Bằng cách chân thành lắng nghe và tiếp thu thực chất những ý kiến đóng góp của dân, Đảng sẽ cộng hưởng được trí tuệ của toàn dân tộc để lãnh đạo đất nước vượt lên trong một thời đại rất nhiều cơ hội nhưng cũng vô vàn thách thức.
Trò chuyện với Tuần Việt Nam, ông Nguyễn Văn An (nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Trưởng ban Tổ chức Trung ương) đã chia sẻ nhiều ý kiến thẳng thắn xung quanh việc chuẩn bị cho Đại hội XI. Nhận mình là người sinh ra trong lòng chế độ, gắn bó máu thịt với chế độ, ông Nguyễn Văn An cho rằng cá nhân ông muốn nhân cơ hội này để nói những suy nghĩ của mình. Ông mong muốn thông qua cuộc trò chuyện này, chia sẻ những suy nghĩ, góc nhìn riêng của một đảng viên và một công dân bình thường với nguyện vọng để Đảng có chủ trương đổi mới toàn diện và triệt để hơn, đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân hơn; để những giá trị cao đẹp của Nền Dân chủ Cộng hòa, của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ngày càng được thể hiện trong cuộc sống sinh động như di nguyện của Bác Hồ.
Suốt cuộc trò chuyện, ông An nhiều lần nhấn mạnh, góc nhìn của ông đôi chỗ có thể "khó nghe" hoặc cần phải tranh luận thêm, nhưng với trách nhiệm Đảng viên, trách nhiệm công dân, ông cứ mạnh dạn đưa ra, như một sự xới xáo vấn đề trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, tôn trọng những ý kiến khác biệt mà Đảng luôn kêu gọi.
Ông luôn nhắc đi nhắc lại rằng, nhận thức là một quá trình. Nhận thức của ông cũng thay đổi theo đường lối đổi mới của Đảng và sự phát triển của thế giới. Ông cũng luôn khẳng định phần trách nhiệm của mình về những nhận thức và việc làm còn nhiều hạn chế và yếu kém của ông khi còn đương nhiệm.
Thưa ông Nguyễn Văn An, các văn kiện chuẩn bị trình Đại hội XI vừa được công bố rộng rãi để lấy ý kiến nhân dân, vừa rồi ông có tham gia ý kiến gì không?
Ông Nguyễn Văn An: Tôi đã có rất nhiều cơ hội tham gia ý kiến trực tiếp với một số hội nghị do Bộ Chính trị tổ chức, góp ý trực tiếp với nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và một số địa phương. Hôm nay với tư cách là một đảng viên, một công dân bình thường, tôi chỉ phát biểu vài vấn đề chung, vì văn kiện thì có nhiều vấn đề lớn rất quan trọng.
Trong rất nhiều vấn đề quan trọng đó, lần này tôi chỉ tập trung nhấn mạnh hai vấn đề có ý nghĩa lý luận - thực tiễn cốt yếu, đó là: Vấn đề sở hữu và thành phần kinh tế; vấn đề xây dựng Đảng, đặc biệt là dân chủ trong Đảng, trong xã hội, đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ cách nhìn thế nào, cách nhận thức thế nào,... từ đó sẽ đi tới những ý kiến khác nhau, đó cũng là điều dễ hiểu. Nhất là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Đại hội XI sẽ lắng nghe và chắt lọc như thế nào? Đó mới là khâu quyết định.
Dư luận trong Đảng và trong xã hội hiện đang có ít nhất hai khuynh hướng:
- Về cơ bản vẫn giữ cái khung các dự thảo văn kiện như hiện nay. Cụ thể, Cương lĩnh 2010 vẫn giữ khung cơ bản của Cương lĩnh 91 như dự thảo, có bổ sung sửa đổi đôi chút, hoặc thêm bớt, hoặc đảo từ,... chủ yếu bây giờ là đi vào nhân sự thôi.
- Hoặc, Cương lĩnh 2010 phải vượt qua cái khung cơ bản của Cương lĩnh 91 như dự thảo, để xây dựng một Cương lĩnh 2010 mới đáp ứng yêu cầu của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới toàn diện, triệt để, cả kinh tế và chính trị, tức là hoàn thiện ở mức độ cao hơn, mức độ SỬA LỖI HỆ THỐNG.
Tôi mong muốn Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, mong muốn Đại hội XI chọn khuynh hướng thứ hai, khuynh hướng SỬA LỖI HỆ THỐNG, khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để, cả kinh tế và chính trị thì chúng ta mới khắc phục được lỗi hệ thống, vì chúng ta mắc lỗi hệ thống mà chúng ta chỉ chỉnh sửa theo khuynh hướng thứ nhất thì chúng ta không ra khỏi lỗi hệ thống được.
Đại hội XI chưa làm được như vậy thì đến đại hội XII, vì "ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay", và Đại hội XII bắt đầu từ Đại hội XI.
Nhiều nhà nghiên cứu lý luận khoa học đã đề cập đến lỗi hệ thống, song nhiều người thường ngại ngần, né tránh, mỗi khi bàn tới cụm từ LỖI HỆ THỐNG có lẽ vì ngại động chạm vào cái thiêng liêng nhất, vào điểm cơ bản trên đường đi của cách mạng Việt Nam. Ông, có thể mô tả lỗi hệ thống một cách dễ hiểu nhất như thế nào?
Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình và đã được cuộc sống kiểm nghiệm là chưa phù hợp với thời đại ngày nay. Lâu nay chúng ta thường mới nói tới cái lỗi của mô hình thôi.
Có lẽ, lỗi hệ thống rõ ràng nhất, cụ thể nhất, toàn diện và triệt để nhất chủ yếu là từ khi chúng ta chuyển từ Cách mạng dân tộc dân chủ sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Cộng hòa Xô Viết - một mô hình rất xa lạ với những mô hình và lý thuyết phổ quát. Mà mô hình của Cộng hòa Xô Viết thì lại bắt nguồn từ những lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin.
Tôi chỉ là người làm thực tiễn nên chỉ có thể đề cập đến vấn đề này từ góc độ thực tiễn. Đề nghị Hội đồng lý luận Trung ương, các Trung tâm nghiên cứu Khoa học giúp Đảng và Nhà nước ta làm rõ vấn đề này.
Tôi chỉ đề cập vài vấn đề về kinh tế và chính trị mà tôi cho là đã rõ, nhiều người đã cảm nhận được từ thành quả của công cuộc đổi mới của nước ta do Đảng ta lãnh đạo, từ sự sụp đổ của các đảng cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô (cũ), từ sự đánh giá về thời đại ngày ngay,...
Ông Nguyễn Văn An. Ảnh: Phạm Hải.
Từ chỗ đánh giá Cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành, chúng ta phải chuyển ngay sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo luận thuyết cách mạng không ngừng. Luận thuyết cách mạng không ngừng là đúng, còn cái sai là ở chỗ chúng ta đánh giá cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành tới mức phải chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Khi đó cũng có ý kiến cho rằng Cách mạng dân tộc dân chủ của ta chưa hoàn thành cơ bản, chúng ta mới làm được phần Cách mạng dân tộc, đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành lại độc lập cho dân tộc; còn phần Cách mạng dân chủ thì mới làm được một phần, mới đánh đổ vua chúa phong kiến, còn rất nhiều nội dung của Cách mạng dân chủ chúng ta chưa làm được, đến tận ngày nay vẫn còn nhiều vấn đề về dân chủ chúng ta cũng chưa làm được.
Lâu nay chúng ta quan niệm bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Không hiểu mệnh đề này có còn phù hợp với tình hình hiện nay và tới đây không?
Chúng ta chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa là theo lý thuyết có tính tiền đề rằng, các nước kém phát triển có thể bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, nếu được sự giúp đỡ vô tư trên tinh thần anh em của những nước xã hội chủ nghĩa hùng cường.
Tiền đề quan trọng đó trước đây và hiện nay là chưa có thật. Có lẽ đây chính là cái gốc ban đầu dẫn đến cái LỖI HỆ THỐNG như tôi vừa nói. Cái lỗi này là do nhận thức không đúng về thời cơ Cách mạng.
Thời cơ chuyển từ Cách mạng dân tộc dân chủ sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa có một vấn đề bao trùm chưa phù hợp, đó là vấn đề dân chủ mà chúng ta chưa hoàn thành cơ bản trong Cách mạng dân tộc dân chủ. Dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị, dân chủ trong văn hóa,... Mà dân chủ và phát triển là hai anh em song sinh. Nền dân chủ còn thấp thì nền kinh tế sẽ kém phát triển. Và, như vậy thì làm sao có xã hội xã hội chủ nghĩa - một xã hội đòi hỏi phải có nền dân chủ và nền kinh tế phát triển cao hơn các nước tư bản phát triển nhất hiện nay.
Điều ông vừa nói nên hiểu như thế nào? Và ông nghĩ như thế nào về quốc hiệu của Việt Nam trong giai đoạn đó?
Trong Cách mạng dân tộc dân chủ, Quốc hiệu của Việt Nam là: "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" là rất đúng với bản chất, với nội dung của cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ, phù hợp với hình thức chính thể cộng hòa dân chủ mà nhân loại thừa nhận và hướng tới, lại vừa rất đúng với ngữ pháp Việt Nam. Khi chuyển sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa, Quốc hiệu của Việt Nam lại đổi thành: "Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam", vừa chưa phù hợp về bản chất và hình thức chính thể của nhà nước ta, vừa chưa thật rõ về nội dung, thực chất là chúng ta đã phải xác định lại nhiều lần mà vẫn chưa thật rõ, chỉ nói ngày càng rõ hơn mà thôi; mặt khác ngữ pháp lại không phải là ngữ pháp Việt Nam. Nó là ngữ pháp nước ngoài, không Tàu thì là Tây.
Nếu theo ngữ pháp Việt Nam thì phải viết là: "Việt Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa" mới đúng. Ngữ pháp Việt Nam tính từ bao giờ cũng đi sau danh từ (ví dụ: Quả gấc đỏ, chứ không nói quả đỏ gấc).
Quốc hiệu Việt Nam vừa phải thể hiện chính xác hình thức chính thể của nhà nước ta, vừa phải đúng với ngữ pháp Việt Nam. Những người quan tâm đến sự lựa chọn chính xác chính thể; những người quan tâm đến sự trong sáng của tiếng Việt, những người có lòng tự trọng dân tộc đều băn khoăn đến Quốc hiệu hiện nay. Ngay Trung Quốc, Lào... họ cũng vẫn giữ Quốc hiệu cũ của họ là "Cộng hoà dân chủ nhân dân...", họ chưa đổi thành Quốc hiệu có tính từ XHCN.
Khi nói đến cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vẫn nói đến dân chủ, nhưng tính dân chủ được hiểu nhẹ đi, tính chuyên chính vô sản được hiểu nổi trội hơn, có phần cực đoan hơn, thể hiện rõ nhất là thông qua cải tạo XHCN. Do đó mà nhiều người Việt Nam muốn trở lại với Quốc hiệu Việt Nam thời Cách mạng dân tộc dân chủ, tức là "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", vừa đúng với bản chất và nội dung của hình thức chính thể của nước ta, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, lại vừa đúng với ngữ pháp Việt Nam, là sửa cái lỗi hệ thống ban đầu của chúng ta. Nếu được trưng cầu dân ý, tôi tin chắc sẽ được sự đồng tình của tuyệt đại đa số nhân dân.
Bản chất của công cuộc đổi mới trên lĩnh vực kinh tế đó chính là dân chủ hóa trên lĩnh vực này có phải không?
Đúng vậy. Từ chỗ chủ yếu có hai thành phần kinh tế đến chỗ có nhiều thành phần kinh tế. Từ chỗ đảng viên, công chức nhà nước không được làm kinh tế đến chỗ đảng viên, công chức nhà nước được làm kinh tế theo pháp luật. Từ chỗ đất đai là thuộc sở hữu nhà nước đến chỗ người sử dụng đất đai đã được 5 quyền như người chủ sở hữu, tuy còn có điểm rất mù mờ....
Sở hữu tư nhân thực chất vẫn là vấn đề dân chủ tự do trên lĩnh vực kinh tế, trong mưu cầu hạnh phúc của mỗi người, nó là cội nguồn cảm hứng, là động lực to lớn cho sự phát triển. Kết quả của nó kỳ diệu như thế nào mọi người đã biết.
Vẫn biết rằng nó cũng đẻ ra những bất công mới, những mâu thuẫn mới đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn khách quan trong từng giai đoạn. Song đây là con đường dân chủ, con đường phát triển, con đường sống ngày càng hạnh phúc hơn.
Chúng ta cần sửa cái sai từ gốc này một cách toàn diện hơn, triệt để hơn như nhiều ý kiến đề xuất của quần chúng, của nhiều tổ chức và nhiều nhà khoa học, trí thức, nhân sĩ trong và ngoài nước.
Sở hữu tư nhân là động lực vô cùng to lớn, song không phải không cần đến sở hữu nhà nước. Nhưng sở hữu nhà nước không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện trong giai đoạn nào, thời điểm nào, trong lĩnh vực cụ thể nào, vì lợi ích đích thực của nhân dân và của nhà nước chứ không phải vì mục đích tự thân.
Vấn đề đất đai và một loạt tập đoàn kinh tế của nhà nước đang còn nhiều vấn đề bức xúc, kém hiệu quả, cần phải được nghiên cứu giải quyết. Nhiều vụ án bê bối về đất đai cũng như Vinashin chỉ là những bộc lộ điển hình. Nhiều tập đoàn tư nhân ở trong và ngoài nước cũng có hiện tượng phá sản, bê bối như thế, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Kinh tế thị trường là như vậy. Nhưng đối với đất đai và các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam lại có đặc điểm riêng của nó.
Vinashin đang là vấn đề nổi cộm, tranh cãi, nhiều ý kiến khác nhau. Phải chăng sự khác nhau mà người ta không muốn nói đến chính là có phần do lỗi hệ thống?
Tôi cũng nghĩ có phần sâu xa là như vậy. Tôi cho rằng Vinashin vừa là hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, vừa có căn nguyên sâu xa bắt nguồn từ lỗi của hệ thống, lỗi từ gốc, từ chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị xuất phát từ quan điểm rằng: xã hội xã hội chủ nghĩa phải được xây dựng dựa trên "... chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu". Mô hình này lại xuất phát từ một lý thuyết cực đoan cho rằng: tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của mọi sự bóc lột.
Từ một lý thuyết cực đoan đi tới một mô hình kinh tế không có động lực mà thực tế cuộc sống đã bác bỏ. Chính phủ là người thực thi chủ trương đó của Đảng về mặt nhà nước. Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị có quyền lớn như vậy thì có phải chịu trách nhiệm gì không?
Với thể chế như hiện nay ở Việt Nam thì mọi thành công hay thất bại đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng. (Ông cười tủm tỉm, nói nhỏ rằng: Không nên nói "mắt mùa là tại thiên tai, được mùa là tại thiên tài Đảng ta" - pv).
Đành rằng phải có trách nhiệm cá nhân trong quản trị hành chính và quản trị doanh nghiệp, phải xem xét cẩn trọng, có lý, có tình, không tranh công, đổ lỗi. Song phải rất chú ý đi sâu làm rõ cái lỗi của hệ thống, do sai sót của hệ thống làm trầm trọng thêm.
Có ý kiến cho rằng, nếu bỏ điều kiện "chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu" thì xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng sẽ chẳng khác gì các nước tư bản phát triển văn minh cả?
Rất nhiều người không đồng tình với quan điểm này. Nếu nước ta khác về đời sống vật chất và tinh thần cao hơn, văn minh hơn, tức là chất lượng cuộc sống cao hơn, nhất là dân chủ tự do cao hơn thì đồng ý. Còn nước ta phải công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu để khác với các nước tư bản phát triển thì lại là vấn đề sai từ gốc. Rất nhiều ý kiến đề nghị bỏ đoạn này trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XI.
Vả lại, ngay ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng có phần sở hữu nhà nước, quy mô lớn nhỏ là tùy lúc, tùy nơi, họ không coi đó là mục đích, mà chỉ coi là phương tiện; xuất phát điểm của họ là vì lợi ích, cái gì nhà nước làm tốt hơn (theo nghĩa tổng thể) hoặc tư nhân không làm thì nhà nước làm, cái gì tư nhân làm tốt hơn thì tư nhân làm. Họ không xuất phát từ lý thuyết coi tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của mọi sự bóc lột, họ xuất phát từ lợi ích, từ hiệu quả tổng hợp của nền kinh tế, có tính cả đến vấn đề quốc phòng và an ninh của quốc gia.
Ngay ở Việt Nam chúng ta, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể theo kiểu cũ đã có vai trò và đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đó là điều cần phải được khẳng định. Song sang thời bình như hiện nay thì chúng ta buộc phải đổi mới, đất nước đã chuyển sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, không thể tiếp tục cách làm cũ, vì nó không có động lực. Đó cũng là điều đã được cuộc sống khẳng định.
Vấn đề chủ yếu của quản trị hành chính nhà nước là có chính sách kiểm soát, phân phối và phân phối lại lợi nhuận một cách hợp lý, chứ không phải là công hữu hóa tư liệu sản xuất chủ yếu. Do đó chúng ta phải dứt khoát từ bỏ lý thuyết và mô hình sai trái từ gốc này, vì hậu quả của nó gây ra như thế nào mọi người đều đã biết. Đó là con đường trở về thời kỳ thiếu thốn và đói khổ.
Tóm lại, vấn đề sở hữu, vấn đề cơ chế quản trị tài sản công (đất đai và các tập đoàn kinh tế nhà nước...) cần được xem xét giải quyết dứt khoát, cụ thể và triệt để. Tức là phải dân chủ hóa triệt để hơn nữa trong kinh tế, các cấp ủy Đảng không trực tiếp tham gia vào quá trình quản trị doanh nghiệp, luật pháp cần phải được sửa đổi, bổ sung theo hướng quản trị doanh nghiệp và quản trị hành chính nhà nước phải được thông suốt, tách bạch, trách nhiệm rõ ràng.
Bây giờ xin được nghe ý kiến của ông về vấn đề xây dựng Đảng. Vừa rồi báo Nhân dân có loạt bài kể lại câu chuyện của Liên Xô cũ. Vì sao một đảng hùng mạnh, đã lãnh đạo nhân dân Nga chiến thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và cống hiến to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, một đảng giành được thành tựu rực rỡ trong xây dựng CNXH lại đổ sụp nhanh đến vậy, sau 74 năm cầm quyền?
Bài học của Liên Xô (cũ) vẫn còn nguyên giá trị. Từ đó mới thấy yêu cầu xây dựng Đảng, phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội, đoàn kết trong Đảng và trong xã hội là vấn đề cốt tử của những vấn đề cốt yếu, vấn đề sống còn của Đảng và chế độ ta. Mọi thành công hay thất bại của Cách mạng Việt Nam đều từ đây mà ra. Không kẻ thù nào có thể phá được Đảng ta trừ chính những người cộng sản chúng ta.
Quan sát sự tan rã của một số Đảng cộng sản ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, thì thấy rằng, những người cộng sản phá Đảng không phải chỉ là những người cộng sản phản bội Đảng, những người cộng sản bị kẻ thù mua chuộc, bị diễn biến hòa bình,... Mà phần nhiều lại chính là những người cộng sản chân chính, những người cộng sản không muốn bảo vệ Đảng của mình nữa, vì thực tế Đảng của mình đã thoái hóa biến chất mất rồi, nhất là vì Đảng của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được. Đảng đã trở thành lực lượng cản trợ dân chủ, tự do, cản trợ sự phát triển của xã hội. Đảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Đảng trị mất rồi.
Chúng ta rút được bài học gì từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô?
Hãy thử quan sát và phân tích sự giải tán của một Đảng tại quê hương của Cách mạng tháng Mười thì rõ. Tại sao một người đứng đầu Đảng và Nhà nước tuyên bố giải tán Đảng là Đảng đó bị giải tán ngay? Một người có làm được việc đó không? Hay người đó chỉ là người thay mặt cho số đông những người trong Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương, trong toàn Đảng, trong cả hệ thống chính trị? Đội ngũ trí thức đâu? Liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động đâu? Hệ thống thông tấn, báo chí đâu? Lực lượng vũ trang hùng hậu đâu mà không bảo vệ Đảng? Tại sao họ quay mặt đi? Hay là họ cũng đồng tình? Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, tại sao quần chúng không bảo vệ?
Nâng thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân. Vấn đề là lòng dân: Thuận lòng dân thì còn, trái lòng dân thì mất. Ý dân là ý trời.
Nhiều cơ quan thông tin đại chúng của chúng ta thường đưa tin chủ yếu là do nguyên nhân bị diễn biến hòa bình, một số cán bộ chủ chốt bị mua chuộc phản bội lại Đảng, dẫn tới cách mạng màu,... mà chưa đi sâu vào nội bộ Đảng, vào lỗi hệ thống của Đảng, vào sự thoái hóa biến chất trong Đảng, Nhà nước và Xã hội do lỗi hệ thống gây ra. Đảng đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội, đã trở thành lực cản của sự phát triển tự do dân chủ của xã hội. Nói theo tinh thần của Marx thì cái gì cản trở sự phát triển là thối nát, là phản động. Chính những người cộng sản chân chính, chính liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động, chính độ ngũ trí thức cũng không muốn bảo vệ một Đảng đã thoái hóa biến chất như vậy. Đó mới là nguyên nhân chính, chứ không phải do kẻ thù của chủ nghĩa xã hội phá hoại là chính. Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán Đảng đã biến chất để xây dựng Đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu.
Và như chúng ta đã biết, nhân dân ở các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã phúc quyết Hiến pháp mới để xác lập chính thể mới phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm sửa cái lỗi hệ thống của họ. Một bài học quá đắt giá trong lịch sử nhân loại. Chúng ta cần tỉnh giác để suy ngẫm, để chỉnh đốn Đảng ta như trong di chúc thiêng liêng của Bác Hồ đã ghi.
Ngược về quá khứ, Bác Hồ đã xây dựng nền tảng của hệ thống như thế nào?
Lúc chọn đường đi cho dân tộc, trong khi nhiều nước phương Tây chọn Quốc tế II thì Bác Hồ lại chọn Quốc tế III, vì Quốc tế II không ủng hộ giải phóng dân tộc, giải phóng thuộc địa, Quốc tế III ủng hộ giải phóng dân tộc, giải phóng thuộc địa.
Bác Hồ là người tiếp thu các học thuyết, các chủ nghĩa tiên tiến của phương Tây, tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, Tư tưởng - Minh triết của Bác đã soi đường và thúc đẩy phong trào Cách mạng Việt Nam. Trong Bác Hồ chúng ta thấy có cả những phần tinh túy và phù hợp với Cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa Marx-Lenin, của cách mạng tư sản phương Tây, có cả tư tưởng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có cả tư tưởng bác ái của Đức chúa Zesu, có cả tư tưởng nhân nghĩa của Đức Khổng Tử, có cả Chủ nghĩa Tam dân của cụ Tôn Dật Tiên,... Bác kế thừa những tư tưởng tiến bộ của các bậc cách mạng tiền bối của Việt Nam.
Bác Hồ chọn Quốc tế III là vì mục đích giải phóng dân tộc trước nhất, các vấn đề khác hạ hồi phân giải, vì dân tộc chưa được giải phóng thì vạn năm giai cấp cũng chưa được giải phóng. Đấy là sự lựa chọn sáng suốt mang tính lịch sử. Bác ở trong dòng thác đó song vẫn độc lập trong chừng mực có thể vì mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc trên nền dân chủ cộng hòa.
Do đó, khi xây dựng Đảng, tôi đề nghị trở về với Lý luận - Hành động, với Tư tưởng - Minh triết Hồ Chí Minh làm nền tảng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta. Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx-Lenin, nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ, tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển.
Theo đánh giá của ông, người dân đã thực sự được làm chủ như mong nguyện của Bác Hồ chưa?
Theo luật pháp thì dân ta là người chủ đích thực của đất nước. Song đến nay dân ta mới được bầu và bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, bầu và bãi miễn Đại biểu Quốc hội, bầu và bãi miễn trưởng thôn. Chúng ta đều biết, chất lượng bầu cử còn thấp, còn việc bãi miễn thì hầu như chưa làm được bao nhiêu, nguyên nhân thì có nhiều.
Dân ta chưa được phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thông qua trưng cầu dân ý. Tuy Hiến pháp 1946 đã ghi song chưa thực hiện được vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó. Đến các Hiến pháp sửa đổi sau này lại bỏ quyền đó của dân mà Quốc hội tự giao cho Quốc hội có quyền lập hiến và lập pháp.
Dân ta cũng chưa có quyền lựa chọn cương lĩnh phát triển đất nước và người đứng đầu đất nước thông qua tranh cử trong tổng tuyển cử. Các hình thức hoạt động tự nguyện của các cộng đồng, các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy mọi nguồn lực và góp phần phản biện xã hội theo hướng xây dựng xã hội dân sự còn nghèo nàn và hạn chế. Nạn hành chính giấy tờ quan liệu, nhũng nhiễu còn khá nặng nề,...
Nghĩa là còn rất nhiều quyền dân chủ đương nhiên của một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà nhân dân ta đến nay vẫn chưa được hưởng một cách trọn vẹn.
Đã có lần ông đã nói về sự phân quyền, vậy phân quyền trong thể chế Đảng lãnh đạo toàn diện nên được hiểu thế nào?
Hiến pháp và Pháp luật đã ghi rất rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng. Song trong thực tiễn thì không ít trường hợp chỉ chị, nghị quyết của Đảng mới là tối thượng. Thực chất chúng ta có hai hệ thống quyền lực song song, đó là hệ thống của Đảng và hệ thống Nhà nước đi kèm theo là hai hệ thống tòa nhà của hai cơ quan đảng và nhà nước cồng kềnh chưa từng có. Đây là mô hình của cộng hòa Xô Viết. Thông lệ quốc tế không có như vậy.
Quốc hội là nhánh lập pháp có quyền lực cao nhất, song cũng còn nhiều hình thức, thực chất là Trung ương, Bộ Chính trị quyết.
Chính phủ là nhánh hành pháp song cũng rất yếu, chủ yếu là chấp hành chỉ thị nghị quyết của Đảng.
Chủ tịch nước từ chỗ tập trung thực quyền như khi Bác Hồ đảm nhận, ngày nay đã dần trở thành hình thức, nghi lễ. Quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ra làm ba nơi, ba người nắm giữ, đó là Tổng Bí thư thống lĩnh lực lượng vũ trang, Thủ tướng đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch nước đại diện cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng không thực quyền.
Tòa án là nhánh tư pháp lại càng yếu thế.
Cả ba nhánh quyền lực đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Ban lãnh đạo Đảng (Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương).
Quyền lực nhà nước được phân công ra làm ba nhánh song lại thống nhất ở nơi Đảng. Vậy, Đảng trở thành ông vua tập thể rồi. Không phải dân chủ nữa mà là đảng chủ rồi. Mô hình của cộng hòa Xô Viết là như vậy. Đây là cái sai từ gốc về hệ thống tổ chức quyền lực gây nên lỗi của hệ thống cần phải được khắc phục theo quy luật phổ quát là phân chia ba nhánh quyền lực nhà nước một cách rạch ròi, minh bạch, thống nhất theo Hiến pháp và Pháp luật, tức là thống nhất ở nơi dân, (tam quyền phân lập).
Nếu chúng ta hiểu ba nhánh quyền lực nhà nước đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và Pháp luật là đúng, còn nếu hiểu thống nhất trực tiếp ở ban lãnh đạo hoặc cá nhân lãnh đạo cụ thể nào đó thì lại là sai, lại là có vua cộng sản mất rồi, dân chỉ còn là người chủ hình thức, nhà nước trở thành công cụ của đảng chứ không phải công cụ của dân nữa rồi. Mọi chủ trương chính sách của đảng phải được cụ thể hoá bằng Hiếp pháp và Pháp luật. Chấp hành Hiến pháp và Pháp luật là chấp hành sự lãnh đạo của Đảng. Xã hội sẽ được nhà nước quản trị bằng pháp luật, chứ không quản trị bằng chỉ thị, nghị quyết trực tiếp của đảng. Pháp luật là tối thượng.
Một trong những biểu hiện dân chủ trong xã hội đó là việc chọn lựa cụ thể qua lá phiếu. Theo ông, lá phiếu của chúng ta hiện nay đã thể hiện được tính dân chủ của nó đến mức nào rồi?
Theo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng thì ở Quốc hội, ở Hội đồng nhân dân, đảng viên phải bỏ phiếu theo nghị quyết, chỉ thị của Đảng, làm đúng như ở các nước có đa đảng tham chính. Như vậy có đúng với bản chất của Đảng và Nhà nước ta không? Đảng của dân, Nhà nước cũng của dân cơ mà?
Ở Việt Nam, Đảng ta không phải tranh giành lá phiếu với đảng nào cả mà chỉ là lá phiếu của những đảng viên, của những người đại biểu nhân dân tán thành hay không tán thành một điểm nào hay cả chủ trương, chính sách nào đó của Ban lãnh đạo Đảng, có khi chỉ là ý kiến của một người có trọng trách trong Đảng, (không được nhầm lẫn với Đảng nói chung).
Ở nước có đa đảng tham chính, khi tranh cử nguyên thủ quốc gia, đảng nào chuẩn bị đưa người ra tranh cử phải có quy trình tranh cử trong nội bộ đảng để chọn người xuất sắc của đảng mình ra tranh cử với đảng khác. Người ra tranh cử phải có cương lĩnh tranh cử, cử tri sẽ căn cứ vào cương lĩnh tranh cử và người đứng đầu cương lĩnh đó của các đảng để lựa chọn cương lĩnh và người đứng đầu đất nước, khi đó cương lĩnh của đảng thắng cử sẽ trở thành cương lĩnh phát triển của đất nước, người đứng đầu đảng thắng cử sẽ trở thành nguyên thủ quốc gia. Còn khi bỏ phiếu về vấn đề quan trọng nào đó thì thông thường các Đảng họ quy định đảng viên của Đảng đó phải bỏ phiếu theo lập trường của Đảng đó. Vì đây là các Đảng tranh giành lá phiếu với nhau, tranh giành lợi ích cho Đảng mình.
Nếu ta làm như các Đảng ở các nước có đa Đảng tham chính thì chẳng hóa ra Đảng ta tranh giành lá phiếu với dân à? Mà điều đó là điều không thể hiểu được, vì nó trái với bản chất của Đảng, rằng Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Đảng lãnh đạo chứ không quyết thay nhân dân.
Trong thực tiễn đã có rất nhiều trường hợp đảng viên trong Quốc hội, kể cả ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, cán bộ cao trung cấp của Đảng đã bỏ phiếu thuận theo lòng dân, không theo chỉ thị nghị quyết của Bộ chính trị, của Ban chấp hành TƯ và đã được Đảng và Nhà nước chấp nhận, nhân dân đồng tình và hoan nghênh. Đó là điều Đảng ta cần và phải làm khác với các đảng ở các nước có nhiều đảng tham chính để phát huy dân chủ thật sự trong đảng, trong xã hội.
Chỉ có một Đảng duy nhất tham chính, theo ông chúng ta nên làm thế nào để có dân chủ thực chất?
Nếu chúng ta chỉ đưa ra một cương lĩnh, một người ra ứng cử như một đảng của các nước có đa đảng tham chính, thì sẽ không có tranh cử, dân sẽ không có cơ hội lựa chọn cương lĩnh và nguyên thủ. Làm như lâu nay thì chưa thật dân chủ trong Đảng, cũng chưa thật dân chủ trong dân, còn mang nhiều tính hình thức, thụ động, dân ít quan tâm.
Như tôi đã nói trong một cuộc trò chuyện với Tuần Việt Nam hồi năm ngoái, dân chủ là phải có tranh cử, phải công khai minh bạch,.. để có sự lựa chọn trong Đảng và trong xã hội, sẽ thu hút được sự quan tâm xây dựng nhà nước của đông đảo nhân dân. Dân chủ không đồng nhất với đa Đảng. Mất dân chủ không đồng nhất với một Đảng. Dân chủ là dân phải được lựa chọn cả cương lĩnh, cả nhân sự, dân phải được phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Khi nào có sự lựa chọn dân chủ thật sự như vậy là có dân chủ thực sự trong xã hội.
Trong Đảng ta có thể có nhiều đồng chí đưa ra những cương lĩnh tranh cử khác nhau, dăm ba cương lĩnh chẳng hạn, sau đó trong Đảng lựa chọn ra hai ba cương lĩnh tranh cử để đưa ra dân lựa chọn, như sự tranh cử trong nội bộ một Đảng của các nước có đa đảng tham chính. Như vậy, dân sẽ có cơ hội lựa chọn cương lĩnh tranh cử và người đứng đầu cương lĩnh để trở thành cương lĩnh phát triển của đất nước và nguyên thủ quốc gia trong một nhiệm kỳ xác định.
Dân chủ trong Đảng gắn với dân chủ trong dân, trong xã hội sẽ tạo ra sự đồng thuận giữa Đảng và Nhà nước và Nhân dân. Ý Đảng lòng dân là một. Khối đại đoàn kết sẽ được củng cố và tăng cường trong thực tiễn. Dân chủ có lãnh đạo đúng đắn, không ai làm thay ai, đó chính là nguồn sức mạnh vô địch cho sự sáng tạo và phát triển, là sự sống còn của Đảng và chế độ.
Như tôi đã nói trong các câu trả lời ở trên, vấn đề dân chủ và trách nhiệm trong quản trị hành chính của nhà nước ta còn nhiều vấn đề tồn tại lớn cần phải được nghiên cứu giải quyết, nhất là về vai trò lãnh đạo của Đảng, để phát huy đầy đủ sức mạnh của bộ máy quản trị hành chính nhà nước, phát huy đầy đủ sức mạnh của nhân dân - người chủ đích thực của đất nước.
Trong bài viết mới đây nhất, ông có cho rằng đã đến lúc phải xây dựng luật về Đảng?
Đúng. Trước đây, khi Đảng chưa cầm quyền, khi Đảng còn đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân thì Đảng hoạt động ngoài vòng pháp luật, chống lại pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến.
Ngày nay Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền rồi, thì không được làm như trước nữa, mà phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật và hoạt động theo luật về Đảng. Song tiếc rằng đến nay Đảng ta vẫn chưa có luật về Đảng. Do vậy không tránh khỏi một số trường hợp Đảng vẫn đứng trên Nhà nước, đứng trên pháp luật. Người ta gọi như vậy là Đảng trị. Chúng ta đã khắc phục được nhiều rồi, song vẫn còn những thói quen về cách làm việc cũ, như khi Đảng chưa cầm quyền, khi chính quyền Nhà nước còn non trẻ.
Ngày nay nhà nước ta đã trưởng thành, đã là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng ta là Đảng cầm quyền đã được ghi trong Hiến pháp, song chưa được cụ thể hóa thành luật, Quốc hội phải sớm ban hành luật về Đảng, khi đó Đảng sẽ không còn bao biện, làm thay Nhà nước, Đảng cũng sẽ không buông lỏng lãnh đạo. Đảng sẽ hoạt động lãnh đạo hợp Hiến và hợp pháp.
Xin được hỏi câu cuối, theo ông tư tưởng chủ đạo để hoàn thiện các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI là gì?
Đó là Tư tưởng - Minh triết Hồ Chí Minh, là Lý luận - Hành động Hồ Chí Minh đã được thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945, trong Hiến pháp năm 1946, trong di chúc thiêng liêng của Bác..., trong lời nói và việc làm của Bác. Cụ thể là:
1- Quán triệt tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc;
2- Bảo đảm phát huy tự do dân chủ, dân là người chủ đích thực của đất nước, dân phải được phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia;
3- Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh, pháp luật là tối thượng, quyền lực nhà nước là của dân, thống nhất ở nơi dân, thể hiện trong Hiến pháp và Pháp luật theo mô hình phổ quát phân chia ba nhánh quyền lực nhà nước một cách rạch ròi, minh bạch (tam quyền phân lập).
4- Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội Việt Nam nhưng không được tự cho mình là đương nhiên, mãi mãi, mà Đảng phải giành quyền lãnh đạo thông qua tranh cử trong Đảng và ngoài Xã hội. Đảng phải hoạt động hợp pháp, theo Luật về Đảng do Quốc hội ban hành.
*
**
Với Đại hội VI, Đảng ta đã vượt lên chính mình, thông minh và dũng cảm mở đột phá khẩu để thoát ra khỏi lỗi hệ thống.
Từ đó tới nay chúng ta đã đi được quãng đường khá dài, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, với xu thế không thể đảo ngược.
Hy vọng rằng, với Đại hội XI, XII, đảng ta sẽ tiếp tục vượt lên chính mình để thoát khỏi lỗi hệ thống một cách triệt để và hoàn toàn.
*
* *
Khi nói Đảng bao biện làm thay Nhà nước thì có vẻ nhẹ nhàng như không có vấn đề gì nghiêm trọng cả, nó đã hình thành thói quen, chai lỳ, bình thường. Song khi chúng ta dùng ngôn ngữ của Nhà nước pháp quyền, ngôn ngữ của pháp luật thì lại là vấn đề có ý nghĩa về bản chất của Nhà nước pháp quyền rồi. Khi chúng ta so việc làm đó với hiến pháp và pháp luật, so với cương lĩnh và điều lệ Đảng thì hành động bao biện làm thay lại là hành động vi phạm Hiến pháp, vi phạm pháp luật của Nhà nước, vi phạm cả Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng. Thế thì lại là vấn đề quá to rồi, quá nghiêm trọng rồi.
Khi nói Đảng buông lỏng lãnh đạo thì có vẻ như Đảng đứng ngoài Nhà nước mà thật ra Đảng ta là Đảng cầm quyền, chỉ có người đứng đầu cấp ủy các cấp, từ Tổng bí thư đến Bí thư cấp ủy các cấp hành chính thường không tham gia ứng cử chức danh đứng đầu cơ quan hành pháp nhà nước cùng cấp, nên đôi khi gây ấn tượng như vậy, nhất là khi có ý kiến khác nhau giữa đồng chí Bí thư với đồng chí Phó bí thư - Chủ tịch Ủy ban cùng cấp.
Nơi nào đồng chí Bí thư cấp ủy mạnh, nổi trội hơn thì thường có hiện tượng đồng chí Bí thư bao biện làm thay Chủ tịch. Ngược lại, nơi nào đồng chí Chủ tịch Ủy ban mạnh, nổi trội hơn thì dễ có cảm giác Đảng buông lỏng lãnh đạo, đồng chí Chủ tịch lại bí đánh giá là coi thường vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thật ra không phải như vậy, vì đồng chí Chủ tịch cũng thường là đồng chí Phó bí thư cấp ủy cùng cấp cơ mà. Ý kiến khác nhau là ý kiến giữa hai đồng chí Bí thư và đồng chí Phó bí thư (chủ tịch Ủy ban nhân dân) trong cùng một cấp ủy, không phải là ý kiến khác nhau giữa Đảng và Nhà nước. Nếu người đứng đầu cấp ủy ứng cử chức danh đứng đầu Nhà nước thì sẽ khắc phục hiện tượng bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo.
Một vấn đề nữa cũng rất quan trọng trong vấn đề dân chủ là Đảng tự xác định vị trí vai trò của mình như thế nào đối với nhà nước, với xã hội, với mặt trận và các đoàn thể khác. Đảng là một thành viên của mặt trận, một chủ thể trong hệ thống chính trị, song Đảng là lực lượng chính trị lãnh đạo nhà nước và xã hội, lãnh đạo mặt trận và các đoàn thể. Nhưng vai trò lãnh đạo đó của Đảng có phải là đương nhiên không? Có phải mãi mãi không?.
Khi nói về mặt trận, Bác Hồ có nói rằng: "Đảng không thể đòi hỏi mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ ra là bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đứng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5. NXB Sự Thật 1983, Tr 115).
Bác Hồ nói về địa vị lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận cũng tức là nói với cả các đoàn thể khác, nói với cả nhà nước và xã hội.
Đây là điều rất khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Nếu Đảng ta nhận thức đúng địa vị của mình như thế, nhà nước và nhân dân ta hiểu đúng vai trò của Đảng như thế thì vấn đề dân chủ trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội sẽ có bước tiến rất to lớn và rất cơ bản. Nếu Đảng coi mình đương nhiên là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội thì Đảng sẽ trở thành ông Vua tập thể, ông Vua cộng sản mất rồi. Như vậy là Đảng chủ, Đảng toàn trị chứ không phải dân chủ nữa. Và như vậy thì Đảng sẽ không chăm lo xây dựng chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, sẽ không chăm lo đúng mức tới việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khi đó những hiền tài trung thực sẽ không được tin dùng, người cơ hội, nịnh hót sẽ lọt vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng và nhà nước, và như vậy là Đảng lại đi vào con đường suy thoái như các triều đại Vua chúa thời quân chủ mất. Và đấy là con đường diệt vong của Đảng. Chúng ta cần nhìn lại cái gương của các đảng cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô (cũ) để kịp sửa lại mình khi còn có cơ hội.
Cho nên vị trí, vai trò của Đảng phải trở lại đúng với tư tưởng của Bác Hồ, đó cũng là qui luật phổ quát mà các nước văn minh trên thế giới vận dụng để lựa chọn người hiền tài và bắt buộc người hiền tài phải tuân theo pháp luật nhằm mục đích bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc và kịp thời thay thế bằng phương pháp hòa bình nếu người đó vi phạm tiêu chuẩn và pháp luật.
Tuesday, December 7, 2010
Sunday, December 5, 2010
Áo dài Việt Nam
Áo dài Việt Nam
Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một loại y phục cá biệt, khi nhìn cách phục sức của họ, chúng ta nhận biết họ thuộc quốc gia nào. Người Nhật Bản có chiếc áo Kimono, người Trung Hoa đời Măn Thanh có chiếc áo Thượng Hải mà quí bà quí cô thường gọi là áo "xường xám", người Đại Hàn, người Phi, người Thái v.v. Người Việt Nam, chúng ta hănh diện về chiếc áo dài, được trang trọng nâng lên ngôi vị quốc phục, cũng có người gọi một cách hoa mỹ hơn: "chiếc áo dài quê hương".
Tài liệu đượcnhặt răi rác một số ít các tài liệu về chiếc áo dài được ghi chép rất vắn tắt trong các sách sử. Ngoài ra, cũng còÌ£n có một ít tài liệu tìm thấy trên sách báo cũ, nhưng không ghi rỡ xuất xứ. Tài liệu ghi trong sách cũ tuy vắn tắt, nhưng đáng tin cậy.
Dân tộc Việt Nam có một chiều dài lịch sử trên bốn ngàn năm theo như sử sách đă ghi, trong đó có một ngàn năm bị Bắc thuộc, tám mươi hai năm bị Pháp đô hộ, tiếp theo là cuộc nội chiến tương tàn! Một dân tộc mà bị dân tộc khác đô hộ trên ngàn năm quả là quá lâu. Bao nhiêu tài sản của quốc gia, sử sách quí giá, tài liệu về lịch sử v.v... đă cướp đi hoặc tiêu hủy hết. Mục đích của kẻ thống tri. là triệt tiêu nền văn hóa của ta để đồng hóa. Mặc dầu bị ngoại xâm, chiến tranh tàn phá liên miên, nhưng dân tộc ta luôn có sự đề kháng tinh vi để trường tồn. Sử gia Đào Duy Anh chép: "Theo sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài về bên tả (tả nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Điên dạy cho dân quận Cửu chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu. Theo những lời sách chép đó thì ta có thể đoán rằng trước hồi Bắc thuộc dân ta gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người Trung quốc mới mặc áo gài về tay phải." (Việt nam Văn Hóa Sử, Đào Duy Anh, trang 172). Mặc dầu cuộc sống chung đụng và bắt chước theo người ngoại quốc, nhưng tổ tiên ta vẫn khôn khéo duy trì nét đặc thù của nền văn hóa, không đánh mất bản sắc dân tộc.
Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao, vì thiếu tài liệu kiểm chứng. Mới đây, nhân đọc cuốn kể chuyện "Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn" của ông Tôn Thất Bính, (Nhà Xuất Bản Đà Nẵng, 1997) có bài "Những Trang Đầu của Lịch Sử Áo Dài" tác giả chép như sau:
"Chiếc áo dài tha thướt xinh đẹp hiện nay phải qua một quá trình phát triển. Nó được hình thành từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nguyên chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe người Nghệ an truyền câu sấm: "Bát đại thời hoàn trung nguyên" (tám đời trở về trung nguyên), thấy từ Đoan Quốc Công đến nay vừa đúng tám đời bèn xưng hiệu lấy thể chế áo mũ trong Tam tài đồ hội làm kiểu... lại hạ lệnh cho trai gái hai xứ đổi dùng áo quần Bắc quốc để tỏ sự biến đổi, khiến phụ nữ bận áo ngắn hẹp tay như áo đàn ông thời Bắc quốc không có thế.
Thế là do tinh thần độc lập, muốn dân chúng trong địa phận mình cai trị mang y phục riêng để phân biệt với miền Bắc, Nguyễn Phúc Khoát hiểu dụ:
"Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ tuân theo quốc tục, nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cỡi biên, trong ngoài như nhau, chính trị và phong tục cũng nên thống nhất. Nếu còÌ£n có người mặc quần áo kiểu người khách (Trung quốc, TTB chú) thì nên đổi theo thể chế của nước nhà. Đổi may y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen the, là, trừu, đoạn, còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng nhất thiết không được quen thói cũ dùng càn. Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được. Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm hoặc vải đen, hay vải trắng tùy nghi. Còn các bức viền cổ và kết lót thÌì đều theo như điều hiểu dụ năm trước mà chế dùng."
Như vậy từ thế kỷ XVIII, chiếc áo dài đă được ra đời, dù ban đầu còn thô sơ, nhưng kín đáo. Nó là sản phẩm mang màu sắc dung hạp Bắc Nam. Cũng ở thời Nguyễn Phúc Khoát, phụ nữ đă biết trang điểm, thêu thùa hoa lá quanh cổ áo để tăng vẻ đẹp, hàng vải khá tốt và tinh xảo. Các loại áo đoạn hoa bát ty, sa, lương, địa, the là hàng hoa được mặc vào ngày thường, áo vải, áo mộc bị chê là vải xấu.
Chúa Nguyễn Phúc Khoát đă viết những trang lịch sử đầu cho chiếc áo dài vậy." (Theo Lê Qúi Đôn Phủ biên tạp lục, trong cuốn "Kể chuyện Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn, của Tôn Thất BÌinh, trang 29.)
Chúa Nguyễn Phúc Khoát hùng cứ ở xứ Đàng Trong, sau khi chiếm trọn nước Chiêm thành, mở mang bờ cõi về phương Nam, theo Lê Quý Đôn, đă có được thời kỳ thịnh vượng bình yên. Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu là Vũ Vương, có triều nghi xây hai điện Kim Hoa, Quang Hoa, có các nhà Tụ Lạc, Chính Quang, Trung Hoà, Di Nhiên, đài Sướng Xuân, các Dao TrÌì, các TriềuĐương, các Quan Thiên, đÌình Thụy Vân, hiên Đồng Lạc, an Nội Viên, đình Giáng Hương, điện Trường Lạc, hiên Duyệt Vơ v.v., có cơ chế chính trị, hành chánh, xă hội có kỷ cương, nhưng chưa có quốc hiệu. Tuy nhiên, người ngoại quốc tới lui buôn bán tại cửa Hội an thường gọi là "Quảng Nam quốc". Để chứng tỏ tinh thần độc lập, Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đă chú trọng đến vấn đề cải cách xă hội, phong tục mà điều quan trọng là sự cải cách về y phục.
Nếu căn cứ theo tài liệu kể trên thìÌ chiếc áo dài Việt nam đă ra đời vào thế kỷ XVIII, trong thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 1765) (?).
Từ đó đến nay chắc chắn chiếc áo dài Việt Nam cũng đă thay hình đổi dạng để thích nghi với trào lưu tiến hóa và sự trường tồn của dân tộc. Sách Đại Nam thực lục tiền biên cũng có chép: "Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục". Có lẽ vào thời xa xưa đàn bà Việt Nam mặc áo thắt vạt và mặc váy. Ta đọc đoạn sử sau đây: "Đến đời Minh Mệnh có lệnh cho đàn bà đường ngoài phải mặc quần, nhưng chỉ những người giàu sang ở thành thị tuân theo,chứ ở nhà quê thì đến nay đàn bà cũng vẫn mặc váy." (Việt Nam Văn Hóa Sử, Đào Duy Anh, trang 173).
Mặc dầu bị ngoại xâm và bị đô hộ lâu dài, nhưng tổ tiên ta vẫn khôn khéo duy trì một xă hội có kỷ cương, tôn ti trật tự. Cứ nhìn vào trang phục và màu sắc để phân biệt giai tầng trong xă hội. Sách Vũ Trung Tùy Bút chép:
"Đời xưa học trò và người thường, khi có việc công thì mặc áo xanh lam (thanh cát), lúc thường thì mặc áo màu thâm (chuy y), người làm lụng thì mặc áo mùi sừng (quÌ sắc). Từ đời Lê về sau thì sắc trắng ít dùng. Cứ trạng thái y phục gần nhất của người nưóc ta thì các quan hay mặc áo xanh lam, học trò cùng những chức viên, tổng lư và hạ lại thường dùng mùi sừng và mùi đen, người nhà quê và người làm lụng thì thường dùng mùi nâu. Người giàu sang thì mặc the lụa gấm vóc, còn người nghèo hèn thì chỉ dùng vải to ... vua quan thì có phẩm phục, quân lính thì có nhung phu.c, thường dân thì có lễ phục".
Trong Việt Nam Sử Lược của học giả Trần Trọng Kim viết: "Vua Lê Lợi, ngày ấy dấy quân khởi nghĩa chống giặc Tàu ở đất Lam sơn. Ngài dùng chiếc áo vải màu lam là màu áo biểu tượng để kháng giặc". Vì thế vua Lê Lợi được mệnh danh là "Anh hùng áo vải Lam Sơn".
Qua các đoạn sử vừa trích dẫn ở trên, ta thấy y phục là một biểu tượng của quốc gia dân tộc. Trải qua bao biến thiên của đất nước, chiếc áo dài cũng đă được cải tiến. Vào khoảng thập niên 1930, nhóm văn sĩ trong Tự Lực Văn Đoàn đă chủ xướng cuộc cải cách văn hóa, tư tưởng mới cho thế hệ trẻ. Trong nhóm này có hai họa sĩ du học từ Pháp về, đó là các ông Nguyễn Cát Tường và Lê Phổ, dùng hai tờ báo Ngày Nay và Phong Hóa làm phương tiện truyền bá của nhóm. Hai họa sĩ đă vẽ và chỉnh trang kiểu áo dài phụ nữ gọi là áo "Le Mur Cát Tường" cổ cao, không có eo. Ông Nguyễn Cát Tường viết trong tờ Phong Hóa, có đoạn: "Muốn biết nước nào có tiến bộ, có kỷ thuật hay không? Cứ xem y phục người nước của họ, ta cũng đủ hiểu." (Phong Hóa số 86, tháng 2 1934).
Một nhân vật nữ khác không thể không nhắc đến, đó là bà Trịnh Thục Oanh, một hiệu trưởng của trường nữ Trung học Hà Nội, đă làm thêm một cuộc cải cách táo bạo hơn, bà nhấn eo chiếc áo, ôm sát theo đường nét mỹ miều duyên dáng của phái nữ.
Đến ngày nay, chiếc áo dài của quí bà quí cô là một tác phẩm mỹ thuật tuyệt vời. Nó đă trở thành một thứ y phục độc đáo của phụ nữ Việt nam. Tại cuộc hội chợ quốc tế Osaka, năm 1970 tại Nhật bản, chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam đă lên ngôi và đem lại vinh dự cho phái đoàn VNCH. Khách quốc tế trầm trộ thán phục trước các vạt áo lă lơi như cánh bướm trước gió. Khách bình phẩm:
- Hơi mỏng!
- Nhưng rất kín đáo, đủ sức che mắt thánh!
Một nhiếp ảnh gia quốc tế của Việt nam cũng đă hănh diện về hấp lực của chiếc áo dài tại hội chợ, nên có nhận xét:
-Nó có sức chở gió đi theo.
Những lời nhận xét trên không có gì quá đáng. Chiếc áo dài Việt nam chỉ thích hợp cho thân hình kiều diễm, ẻo lả, mảnh mai của phụ nữ Việt nam. Nó vừa kín đáo, vừa e ấp, vừa khêu gợi. Nó khai thác được đường nét tuyệt mỹ của thân thể. Thi sĩ Xuân Diệu thú nhận:
Những tà áo lụa mong manh ấy,
Đă gói hồn tôi suốt trọn đời.
Chiếc áo dài hiển nhiên là một loại "quốc phục". Khách khứa đến thăm, chủ nhà trịnh trọng bận chiếc áo dài như là một chiếc áo lễ để tiếp khách. Tại học đường nó là chiếc áo học trò ngây thơ, tung tăng như cánh bướm, gói trọn mộng đẹp của tương lai. Một chiếc khăn vành có tác dụng như một "vương miện", thêm vào chiếc áo choàng bên ngoài sẽ trở thành bộ y phục "hoàng hậu" cho cô dâu khi bước lên xe hoa. Trong buổi dạ tiệc, chiếc áo dài Việt nam cũng sẽ lộng lẫy, độc đáo, không thua bất kỳ bộ trang phục của các quốc gia nào khác trên thế giới.
Tại miền quê Quảng Nam, những người buôn thúng bán bưng, mặc dầu nghèo khổ, cũng luôn luôn bận chiếc áo dài khi ra chợ. Nếu áo rách, sờn vai thì chắp vào chỗ rách một phần vải mới, gọi là áo "vá quàng". Dầu là áo rách, áo vá quàng, vẫn tăng giá trị:
Đố ai kiếm được cái vảy con cá trê vàng,
Cái gan con tép bạc, mấy ngàn tôi cũng mua.
Chẳng thương cái cổ em có hột xoàn,
Thương em mặc chiếc áo vá quàng năm thân.
Áo may cái thuở anh mới thương nàng,
Đến nay áo rách lại vá quàng thay tay.
(Ca dao)
Chiếc áo dài, một đề tài phong phú để dành cho các thi sĩ dệt thơ. Trong bài "Áo Trắng" Huy Cận viết:
Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
Nở bừng ánh sáng, em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng
......
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.
...
Dịu dàng áo trắng trong như suối,
Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay.
(Huy Cận)
Thi sĩ Đông Hồ cũng đă tình nguyện bán thơ mình để "Mua Áo" cho cô gái xuân, lời thơ nhẹ nhàng phơi phới yêu đương, có chiều lă lơi mà trong sạch, nũng nịu đến dễ thương:
Chiếc áo năm xưa đă cũ rồi,
Em đâu còn áo mặc đi chơi.
Bán thơ nhân dịp anh ra chợ.
Đành gởi anh mua chiếc áo thôi.
Hàng bông mai biếc màu em thích,
Màu với hàng, em đă dặn rồi.
Còn thước tấc, quên! Em chưa bảo:
Kích tùng bao rộng, vạt bao dài?
Ô hay! Nghe hỏi mà yêu nhỉ!
Thước tấc anh còn lựa hỏi ai.
Rộng hẹp, tay anh bồng ẳm đó,
Ngắn dài, người mới tựa bên vai!
(Đông Hồ, "Cô Gái Xuân")
Thi sĩ Phan Long cũng trải hồn mình qua bài cảm tác "Chiếc Áo Dài Tà Áo quê Hương" sau đây:
Em yêu mến chiếc áo dài,
Thướt tha duyên dáng đẹp hoài thời gian.
Ngày xuân nắng trải tơ vàng,
Khoe tà áo mới ngập tràn tuổi thơ.
Lớn theo lứa tuổi học trò
Tình che vạt trước gió lùa vạt sau.
Những ngày đẹp măi bên nhau,
Vạt vui in dấu vạt sầu còn vương.
Đẹp sao tà áo quê hương,
Áo dài màu trắng nhớ thương năm nào.
(Phan Long)
Cái tài tình của chiếc áo dài Việt Nam qua cách cấu trúc chẳng những là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, nhưng bên trong còn ẩn tàng ý nghĩa dạy dỗ về đạo làm người. Dân tộc Việt nam phải phấn đấu không ngừng chống nạn ngoại xâm để trường tồn, và bảo vệ những giá trị truyền thống về văn hóa, kỷ cương gia đình Dầu muốn hay không thì dân tộc ta, cũng như các dân tộc Á châu khác đă chịu ảnh hương sâu đậm của Tam Giáo và học thuyết Khổng Mạnh. Gia đình, xă hội được xây dựng trên nền tảng tam cương, ngũ thường. Tổ tiên ta răn dạy con cháu thật chặt chẻ về đạo làm người, chẳng những trên sách vở, mà còn phải luôn luôn mang nó theo trên người. Phải chăng đây là sự dạy dỗ sâu sắc, khéo léo của tiền nhân? Nếu qủa đúng như vậy thì chiếc áo dài Việt Nam là cái gia phả vô cùng quí giá ẩn tàng sự dạy dỗ con cháu về đạo làm người. Ta phải hănh diện, nâng niu, bảo vệ, xem như một di sản văn hóa do tổ tiên truyền dạy. Ta thử xem cách cấu trúc của chiếc áo dài xưa:
Phía trước có hai tà (hay hai vạt), phía sau hai tà, tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu (cha mẹ chồng, cha mẹ vợ).
Một vạt cụt, hay vạt chéo phía trước có tác dụng như một cái yếm che ngực, nằm phía bên trong hai vạt lớn, tượng trưng cho cha mẹ ôm ấp đứa con vào lòng.
Năm hột nút nằm cân xứng trên năm vị trí cố định, giữ cho chiếc áo được ngay thẳng, kín đáo, tượng trưng cho năm đạo làm người: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.
Trong chiếc áo tứ thân, người ta thường buộc hai vạt trước lại với nhau để giữ cho chiếc áo cân đối, tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng âu yếm, quấn quít bên nhau.
Ai đã từng dắt xe đạp chở nàng áo thướt tha ở cổng trường Gia Long, ai đã từng theo trêu ghẹo các nữ sinh áo trắng trường Trưng Vương, ai đã mê mẫn đuổi theo vạt áo để đề thơ hẳn không quên những tà áo sinh viên mượt mà, tung bay trong gió thu. Từ những tà áo thật giản đơn đến những tà áo lộng lẫy từ những tà áo tô điễm cho các dịp lễ hội, đám cưới, đám tang, đến những tà áo thơ ngây dưới sân trường, tất cả đều có thể được mô tả bằng một danh từ chung: ÁO DÀI.
Cho đến nay, chưa ai rõ nguồn gốc đích thực của chiếc áo dài, chỉ biết rằng thủy tổ của nó, vốn làm bằng da thú và lông chim, xuất hiện trước thời Hai Bà Trưng (năm 38 42 trước Tây lịch) qua các hình khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ (5000 năm trước Tây Lịch). Theo truyền thuyết, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng, trang sức thật lộng lẫy khi cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân nhà Hán. Cũng tương truyền, do tôn kính Hai Bà, phụ nữ Việt Nam tránh mặc áo hai tà mà may thay bằng áo tứ thân với bốn thân áo tượng trưng cho bốn bậc sinh thành (của hai vợ chồng). Vả lại, khi đó kỹ thuật còn thô sơ, vải được dệt thành từng mảnh khổ nhỏ nên phải ghép bốn mảnh lại mới may đủ một áo, gọi quen là áo tứ thân. Áo gồm hai mảnh đằng sau chắp lại giữa sống lưng (gọi là sống áo), mép của hai mảnh được nối vào nhau và dấu vào phía trong. hai mảnh trước được thắt lên và để thòng xuống thành hai tà áo ở giữa, nên không phải cài khuy (cúc, nút) khi mặc. Bình thường, gấu áo được vén lên, chỉ khi có đại tang (tang chồng hay cha mẹ) mới thả xuống và mép vải để lộ ra ngoài thay vì dấu vào trong. Đấy là hình ảnh chiếc áo dài tứ thân mộc mạc, khiêm tốn.
Sau khi xua quân đánh đuổi quân Hai Bà, tướng Mã Viện áp đặt một chế độ cai trị hà khắc nhằm đồng hóa nền văn hóa Việt. Hơn 1000 năm dưới sự đô hộ của Trung Hoa, chiếc áo dài, áo tứ thân cũng nỗi trôi theo mệnh nước nhưng không bao giờ bị xóa bỏ. Áo tứ thân vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là miệt quê, cho đến ngày hôm nay.
Vào thời vua Gia Long (1802 1819), chiếc áo dài tứ thân được biến cải thành áo ngũ thân, rất phổ thông trong giới quyền quý và dân thành thị. Áo ngũ thân cũng dược may như áo tứ thân, nhưng vạt áo bên phải phía trước chỉ được may bằng một thân vải, còn vạt áo bên trái được may bằng hai thân vải như vạt áo đằng sau. Ngoài ra, áo năm thân có khuy áo như đàn ông, lúc mặc có thể cài khuy như áo dài ngày nay hoặc thắt vạt như áo tứ thân. Về ý nghĩa, bốn thân áo chính tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và thân thứ năm (vạt con) tượng trưng cho người mặc áo; năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo Khổng Giáo: Nhân (lòng thương người, nhân từ), Lễ (biết trên, dưới), Nghĩa (nghĩa khí), Trí (sự sáng suốt, trí tuệ), Tín (uy tín). Rõ ràng, chiếc áo dài ngũ thân diễn đạt nhân sinh quan của Việt Nam nhưng không khỏi sự ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều năm đô hộ.
Khi triều đình Huế ký hòa ước Patenôtre nhượng quyền cai trị nước vào tay Pháp năm 1884, văn hóa Tây Phương bắt đầu du nhập vào Việt Nam, đi đôi với việc dạy chữ Quốc Ngữ thay chữ Nho. Cuộc sống bỗng biến đổi theo đà đua đòi của văn hóa Tây Phương, nhất là ở những đô thị lớn.
Sau khi chính phủ Pháp mở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, một lô cải cách cho chiếc áo dài truyền thống đã được một số người có tâm huyết với chiếc áo dài đưa ra. Các màu nâu, đen thường được thay bằng bằng các sắc màu tươi sáng hơn, gây sôi nổi trong dư luận quần chúng thời ấy. Năm 1934, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã khích động phong trào cải cách: "...Các nhà đạo đức thường nói: Quần áo chỉ là những vật dụng để che thân thể ta khỏi bị gió mưa, nắng lạnh, ta chẳng nên để ý đến cái đẹp, cái sang của nó làm gì...Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân, song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ, ta cũng đủ hiểu...."
Trong thập niên 1930, Cát Tường đưa ra thị trường kiểu áo dài mới Le mur. Kiểu Le mur được vẽ theo kiểu áo đầm Tây Phương với nối vai và tay phồng, cổ lá xen, cài khuy trên vai, mặc với quần trắng, đeo bóp, che dù, v.v... Sau đó, họa sĩ Lê Phổ cải tiến áo Le mur và mẫu áo dài này được hoan nghênh trong Hội chợ Nữ Công Đà Nẵng. Đây là một kết hợp giữa áo Le mur và áo tứ thân, rất gần gũi với chiếc áo dài tân thời ngày nay: nối vai và tay không phồng lên, cổ kín, cài nút bên phải, thân ôm sát người, hai tà áo mềm mại bay lượn. Áo dài Lê Phổ được may bằng vải màu mặc với quần trắng, tóc búi lỏng hay vấn trần hoặc vấn khăn nhung. trong suốt gấn 30 năm sau đó chiếc áo dài Việt Nam không thay đổi bao nhiêu, ngoại trừ cổ áo, gấu áo, và eo áo: cổ áo thì lúc cao, lúc thấp, lúc rộng, lúc hẹp; gấu áo thì lúc vén cao, lúc hạ thấp; eo áo thí lúc nhỏ lúc to. Những thay đổi này đi đôi với những thay đổi nho nhỏ cũa chiếc quần phụ nữ: chân què qua đáy giữa, lưng quần thắt giải rút rồi tới giây thung, gài nút, và sau cùng là dùng phẹc mo tuya (fermeture), ống quần thì lúc rộng lúc hẹp theo thị hiếu thẩm mỹ của từng giai đoạn một.
Mãi đến đầu thập niên 1960, nhà may Dung Đakao ở Sài Gòn đưa ra một kiểu áo dài mới: áo dài tay raglan mặc với quần xéo. Vì tay áo và thân áo được nối xéo góc khoảng 45 độ, kiểu áo dài raglan này tránh được những đường nhăn hai bên nách và vai (so với kiểu áo Lê Phổ). Chiếc quần xéo may bằng vải mềm, được xếp xéo góc khi cắt, có hông ôm sát người và hai ống lòa xòa dài qua mắt cá chân giúp cho nữ giới có những bước đi tha thước qua đôi guốc ẩn hiện dưới hai ống quần.
Sau áo dài raglan là áo dài mini raglan, vốn là áo raglan may với tà áo cao gọn ghẽ. kiểu mini raglan này được các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến cuối tháng Tư 1975.
Cảm thấy muốn tiến xa hơn, một số nhà may tại Sài Gòn đã tung ra thị trường kiểu áo dài ba tà gốm một vạt sau và hai vạt trước. Cổ áo cao, có khuy cài từ cổ xuống eo. Áo ba tà được mặc với quần ống voi, thứ quần dài có ống rộng thùng thình. Kiểu áo này không ưa chuộng cho lắm vì không thích hợp với bản chất ôn nhu cũa nữ giới Việt Nam.
Ngày nay, khi tị nạn đến xứ người, các nhà vẽ kiểu thời trang lại "thêm bớt" cho chiếc áo dài. Trong đó, có kiểu áo dài "ngắn" với hai tà áo ngắn lên quá đầu gối, áo hở cổ, áo một tay, v.v... Nhưng có lẽ khó có kiểu nào sánh được những chiếc áo mini raglan trắng nõn mà các chàng ngơ ngẫn đứng chờ trước cổng trường Gia Long, Trưng Vương ngày nào.
Tà áo dài Việt Nam
Cũng không ngạc nhiên khi một người Việt Nam trả lời rằng tà Áo Dài là một trong những hình tượng tiêu biểu ở đất nước này. Thật khó mà dịch từ "Áo Dài" sang bất cứ ngôn ngữ nào vì không ở đâu có một tà áo Dài như ở Việt Nam.
Áo Dài, trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam, Ôm sát cơ thể, có cổ cao và dài khoảng ngang gối. Nó được xẻ ra ở hông. áo Dài vừa quyến rữ lại vừa gợi cảm, vừa kín đáo nhưng vẫn biểu lộ đường nét của một người thiếu nữ.
Nhìn lại chiều dài lịch sử đất nước, tà áo Dài là một sáng tạo nghệ thuật mới. Nó thay thế trang phục cổ truyền mà mầu sắc và kiểu dáng phải tuân theo những đòi hỏi lễ nghi và những tầng lớp xã hội. Mầu vàng chỉ dành cho những ông vua và họ được mặc áo lông bào. Mầu trắng là mầu tang còn mầu xanh dành cho các vị quan trong những dịp trang trọng. Trước nữa, đầu thế kỷ 18, phụ nữ Việt Nam mặc váy dài. Vào năm 1744, viên quan Vũ Vương cai trị phía Bắc miền Trung VN của triều Nguyễn yêu cầu thay đổi trang phục VN trên cơ sở kiểu cáo Trung Hoa. Bộ quần áo có nút thay thế cho váy và áo xẻ ngực thắt dây. Vua Minh Mạng, vị vua thứ hai của triều Nguyễn ban hành sắc lệnh cấm phụ nữ mặc váy.
áo Dài được phát hiện từ thời Pháp thuộc khi một phụ nữ Việt Nam tên Tường thay đổi chiếc áo tứ thân (áo dài có bốn mảnh) thành chiếc áo hai tà đầu tiên. Người Pháp gọi chiếc áo dài đó là Le Mur có nghĩa là "the wall" trong Anh ngữ.
Từ đó, chiếc áo Dài đã được thau đổi khá sâu sắc. Hai kiểu áo Dài được ưu chuộng là kiểu cổ tròn, tay raglan (tay liền) và kiểu tay puff (tay phồng). Ngoài ra tà áo được nối liền với phần thân qua những đường chỉ nối quanh cổ áo. Ngoài hai kiểu áo nêu trên, nhiều kiểu áo kiểu áo khác như kiểu cổ thuyền, cổ vuông, cổ chữ V, Uthích hợp với những người tương đối đầy đặn, kiểu vai phồng cho những thiếu nữ mảnh mai. Chất liệu mới cho áo Dài được kết hợp từ những tấm vải mẫu, thường được trang trí bằng những đường nét thủ công hoặc thêu thùa.
Tà áo Dài không thể gia công hoặc bán hàng loạt như những loại quần áo may sẵn khác. Mỗi mảnh được tạo ra là một công trình nghệ thuật của người thợ thủ công. Những thợ may áo Dài thường phải từ chối đơn đặt hàng trước dịp năm mới. Đôi khi người ta nhận làm chỉ 24 giờ với giá gấp đôi.
Bà James Sterson, một sứ giả Mỹ đã nói rằng: Không một đất nước nào có một trang phục dân tộc vừa đẹp, truyền thống mà lại có chiều sâu văn hóa như tà áo Dài VN.
Ngày nay, áo Dài xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Những phụ nữ Việt Kiều biểu lộ tình cảm với quê hương qua chiếc áo dài. Nhiều du khách nước ngoài đã có những ấn tượng rất tốt về tà áo Dài VN. Họ cảm thấy được tiếp rất nồng hậu khi những tà áo Dài bay bay trước gió ở phi trường. Thật tiếc cho những ai đến VN mà không mang về một chiếc áo Dài làm kỷ niệm và để khoe với những ai chưa từng đến VN.
Tà áo dài xứng đáng với mệnh danh "Nét duyên dáng Việt Nam".
Tìm hiểu cội nguồn Áo Dài Việt Nam
Có tìm hiểu dĩ vãng của chính mình thì mới quý nó được, và có quý trọng dĩ vãng thì mới tìm được hướng đi cho tương lai. Đó là lời của cố học giả Nguyễn Hiến Lê mà người viết bài này muốn gửi đến các bạn trẻ và nhưng ai quan tâm đến việc bảo vệ kho tàng văn hóa dân tộc.
Khi tìm đọc Văn học sử Việt Nam, chiếc áo dài quả đã ghi lại rất nhiều nét đan thanh không những qua ca dao tục ngữ mà còn qua điêu khắc, hội họa, kịch nghệ, văn chương và âm nhạc.
Ngược dòng thời gian tìm về nguồn cội, chiếc áo dài Việt Nam đầu tiên với hai tà áo thướt tha bay lượn đã được tiền nhân ghi khắc trên cổ vật, như trống đồng Ngọc Lũ, Hòa Bình, Hoàng Hạ... từ trên ba ngàn năm trước.
Áo dài Việt Nam quả đã có một quá trình đi sát với lịch sử dân tộc để lắm phen khóc cười theo mệnh nước nổi trôi. Trải qua cả mười thế kỷ bị Trung Hoa đô hộ một Trung Hoa vĩ đại về mọi phương diện rồi ngót một thế kỷ dưới ách thống trị của Pháp quốc gia đứng hàng đầu về thời trang quốc tế tà áo dài Việt Nam vẫn uyển chuyển tung bay, biểu dương tinh thần bất khuất, đặc tính thích nghi với hoàn cảnh, và khiếu thẩm mỹ của người Việt.
Dưới thời kỳ bị Trung Hoa đô hộ, dân ta đã bao phen bị người Tàu ra lệnh đồng hóa: Ãàn ông phải dóc tóc bím đuôi sam, đàn bà phải cắt tóc ngắn và mặc quần thay vì mặc váy, mọi người đều phải để răng trắng không được nhuộm... Nhưng những cổ vật tiền nhân để lại cho thấy người Việt xưa vẫn búi tóc, vẫn mặc áo dài và váy.
Chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả. Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng. Cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày.
Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân với váy xắn quai cồng để tiện việc gồng gánh, nhưng vẫn không làm giảm nét đẹp của người nữ.
Vẻ yêu kiều, nét duyên dáng, nết đoan trang của phụ nữ thời áo tứ thân được mô tả rõ rệt qua bài ca dao Mười Thương:
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thương quai tua dịu dàng
Bẩy thương nết ở đoan trang
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Chín thương cô ở một mình
Mười thương con mắt hữu tình với ai?
Ngoài đồng ruộng hay trong những buổi chợ, chiếc áo tứ thân có mầu nâu non, nâu già hoặc đen, mặc với váy vải thô nhuộm bùn, nhưng trong những dịp hội hè đình đám cưới hỏi, áo được may bằng hàng the, nhiễu, thao, lụa, khoác bên ngoài chiếc yếm đỏ thắm hay hồng đào và phủ lên chiếc váy lĩnh hoa chanh hoặc váy sồi có thắt lưng mầu lá mạ hay mầu cánh chả bay lượn trong gió. Các bà các cô vấn tóc trong khăn nhung hoặc vấn trần có một lọn để đuôi gà làm duyên, đội nón thương quai thao, lưng đeo bộ xà tích bằng bạc, tay đeo vòng hay xuyến, cổ đeo chuỗi hạt vàng, chân mang giày dừa, dép cong.
Bộ áo tứ thân đứng vững trên đất nước Việt Nam cả mấy ngàn năm trong khi bộ xiêm y lượt thượt của người nữ Trung Hoa chỉ còn xuất hiện trong cung điện hoặc trong những nhà quyền quý. Ãến thế kỷ thứ ba sau Tây lịch thì đàn bà Trung Hoa bỏ váy để mặc quần, khi chiếc quần xuất hiện dưới thời Gaulois bên Pháp truyền sang Cổ Ba Tư rồi vào đất Tàu. Phụ nữ Trung Hoa lại tiến xa hơn dưới thời vua Võ Vương nhà Thanh năm 1774, mặc kiểu áo xường xám không có... quần! Trong thời gian đó, truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam cho đến thế kỷ mười bảy như đã ghi trong sách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh nhắc nhở: â€... áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay đã có tục cũ...â€
Tuy nhiên, thời trang Việt Nam cũng thay đổi theo thời gian. Phụ nữ tỉnh thành chế biến kiểu áo ngũ thân từ áo tứ thân để có dáng dấp trang trọng hơn.
Áo ngũ thân cũng cắt may giống như áo tứ thân nhưng vạt trước là một vạt lớn như vạt sau, còn vạt nửa trước bên phải của áo tứ thân nay trở thành vạt con. Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo quan niệm Nho giáo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Áo ngũ thân không những tôn vinh giá trị cao quý của người nữ trong gia đình cũng như xã hội, mà còn gói ghém nhân sinh quan của dân tộc: Con người nhờ cha sinh mẹ dưỡng, khi thành thân có cha mẹ người bạn đời cùng che chở bao bọc là tứ thân phụ mẫu, luôn tôn trọng đạo làm người và giữ lòng nhân ái, ăn ở có nhân nghĩa trên kính dưới nhường, biết nơi trọng chỗ khinh, biết suy luận tính toán và giữ vững niềm tin nơi người.
Áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng là Quốc phục của phái nam.
Các bà các cô dùng mầu sắc óng ả dịu mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, trắng, hoặc lam thẫm.
Thời đó, các bà các cô giới thượng lưu hoặc nhà giàu, có những cách phô trương áo quần như mặc áo mớ ba mớ bảy tức là nhiều lớp áo mặc chồng lên nhau, nhất là về mùa Ãông. Mùa hè, họ mặc áo the mỏng phủ ngoài áo dài trắng bên trong. Các kiểu trang sức thì đeo chuỗi hạt trai, hạt ngọc, hạt cườm, hoa tai, vòng, xuyến, nhẫn... Tóc vẫn còn để dài. Khi trẻ thì xõa rồi cặp rồi búi sau gáy hoặc vấn khăn nhung, trời lạnh thì trùm khăn nhung khăn nỉ.
Từ đôi guốc gỗ thô sơ, các bà các cô có những đôi hài nhung thêu cườm hoặc chỉ ngũ sắc, hoặc những đôi dép da bóng.
Tuy nhiên, quá trình chiếc áo dài chưa chịu ngưng ở kiểu áo ngũ thân. Nhật nhật tân, hựu nhật tân, nhất là trang phục.
Sau Ãông phương, áo dài Việt Nam một lần nữa chịu ảnh hưởng Tây phương, bởi thời trang cũng đi liền với lịch sử. Nhưng cũng một lần nữa, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt lại được biểu lộ qua chiếc áo dài.
Áo Lemur ra đời vào năm 1930 lúc nhóm Tự Lực Văn Ãoàn cổ xúy cải cách xã hội, và được cổ động mạnh mẽ trên báo Phong Hóa, gây chấn động tại các đô thị, nhất là tại Hà Nội, nơi từng được mệnh danh là đất ngàn năm văn vật.
Áo Lemur cắt may hoàn toàn theo lối Tây phương nối vai ráp tay phồng, cổ bồng, cổ lá sen, cổ nhún tai bèo hoặc táo bạo hơn được khoét rộng để hở cổ. Vạt áo không nối sống nữa vì hàng vải mới sản xuất hoặc nhập cảng từ Pháp có khổ rộng hơn hàng nội hóa thời đó, nhưng vẫn giữ nguyên hai tà dài với gấu áo viền tròn nên tà áo không được mềm mại, được các cô tân thời dùng khăn â€san†bằng â€voan†mỏng quấn lơi quanh cổ để níu kéo nét dịu dàng yểu điệu. Áo mặc với quần dài trắng, chân mang giày cao gót, vai đeo bóp đầm, che dù tránh nắng. Phụ nữ thời đại cải cách này không nhuộm răng đen nữa mà để trắng, tóc vấn trần hoặc búi lỏng, rẽ ngôi lệch.
Tại Sài Gòn vào năm 1934, trong truyện dài bằng thơ Lời Tâm Sự của Thuần Phong đăng trên tạp chí Cùng Bạn, cũng có một bài thơ giễu nhẹ các cô tân thời:
Một yêu mặt trắng má tròn
Hai yêu môi mọng thoa son điểm hồng
Ba yêu mắt sáng mày cong
Bốn yêu mái tóc nực nồng nước hoa
Năm yêu mảnh áo ngắn tà
Sáu yêu quần trắng là đà gót sen
Bảy yêu vóc liễu dịu mềm
Tám yêu giọng nói vừa hiền vừa vui
Chín yêu học thức hơn người
Mười yêu, yêu cả đức tài hình dong!
Những hình ảnh lố lăng quá trớn của một số phụ nữ chạy đua theo thời trang và kiểu áo Lemur mới mẻ đã được Vũ Trọng Phụng mô tả tỉ mỉ trong tác phẩm trào lộng thời đại Số Ãỏ. Một số các bà thủ cựu đã không ngần ngại tẩy chay kiểu áo quá tân thời này, thậm chí có bà đã xé toang vạt áo Lemur khi gặp một cô ăn mặc táo bạo trên đường phố Hà Nội.
Bốn năm sau khi áo Lemur xuất hiện và chết yểu, vào năm 1934, họa sĩ Lê Phổ đã cải tiến Lemur, loại bỏ những đường nét Tây phương táo bạo để dung hòa với kiểu áo ngũ thân cũ, không nối vai nối tay, không tay phồng cổ hở mà vẫn cổ kín vạt dài không viền tròn nhưng ôm sát thân người để hai tà áo mềm mại tự do bay lượn.
Chiếc áo dài canh tân này được hoan nghênh nhiệt liệt trong Hội Chợ Nữ Công Ãà Nẵng năm 1934 với gian hàng phụ nữ có các bà các cô đứng bán mứt bánh và đồ thêu đan, đoan trang hiền thục dịu dàng với áo mầu quần trắng tóc búi lỏng hoặc vấn trần hay vấn khăn nhung. Tới đây, chiếc áo dài dung hòa được mới với cũ để tôn vinh những nét đẹp của người nữ và tìm được nhân dáng chính xác, để đứng vững từ đó cho đến bây giờ.
Suốt cả ba thập niên sau đó, chiếc áo dài không có nhiều thay đổi lớn ngoại trừ cổ áo khi cao lúc thấp, khi vuông lúc tròn, khi kín lúc hở; chiều dài cũng lên xuống khi mini lúc maxi; gấu áo cũng khi lớn lúc nhỏ; vòng eo có khi rộng lúc thắt chặt. Chiếc quần cũng thay đổi từ kiểu cẳng què qua đáy giữa, lưng từ to bản luồn giải rút đổi sang lưng nhỏ luồn dây thun rồi đổi gài nút, và sau cùng là khóa kéo kiểu Tây phương; trong khi ống quần cũng theo thời khi chân voi lúc ống túm.
Cho đến cuối thập niên 50, áo dài Việt Nam theo dòng lịch sử thay đổi từ chế độ Quân chủ sang chế độ Cộng Hòa với một nhân vật nữ: Bà Ngô Ãình Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân, phu nhân bào đệ cố Tổng Thống Ngô Ãình Diệm. Ngày 6 tháng 12 năm 1958, trong dịp khai mạc Triển Lãm Nữ Công tại Cô Nhi Viện Nữ Vương Hòa Bình ở Sài Gòn, bà Nhu xuất hiện với kiểu áo dài không cổ tay ngắn mang bao tay trắng, tóc bới cao. Một số các bà các cô trong Hội Phụ Nữ Liên Ãới vội vàng may mặc theo kiểu mới hở cổ: Cổ thuyền, cổ vuông, cổ tròn, cổ trái tim...
Nhưng bà Nhu lộng quyền thao túng nền Ãệ Nhất Cộng Hòa và gây bất mãn khắp nơi. Nhiều vụ xuống đường, tuyệt thực, tự thiêu đã xẩy ra để bầy tỏ chống đối. Chiếc áo dài cũng tham gia cuộc chống đối nhưng thầm lặng hơn, với kiểu áo dài cổ cao tận cằm đối lập kiểu áo không cổ. Sau đó, áo không cổ của bà Nhu cũng theo bà qua Tây nấp trong bóng tối mà mai một.
Ãầu thập niên 60, nhà may Dung Dakao ở Sài Gòn tung một kiểu mới: Áo dài tay Raglan mặc với quần xéo ống rộng. Kiểu áo cập nhật này giúp xóa bớt những đường nhăn hai bên nách và vai vì được ráp tay xéo vai, nên thân hình người nữ được ôm gọn trong hàng lụa một cách đầy thẩm mỹ.
Thuở đó, giới nữ sinh thích mặc ngắn gọn nên có kiểu mini raglan tay ngắn vạt nhỏ và tà áo chỉ dài tới gối, trong khi các bà thích kiểu maxi raglan tha thướt nhu mì hơn. Chiếc quần xéo may bằng hàng mềm xếp xéo góc khi cắt, ôm sát hông nhưng hai ống lòa xòa mà mỗi bước đi thấp thoáng thấy mũi giầy ẩn hiện dưới sóng lụa. Nhiều người còn cầu kỳ hơn, may quần xéo bằng hàng mỏng hai lớp trông thật yểu điệu.
Sau đó, một vài nhà may ở Sài Gòn tung kiểu áo ba tà gồm thân sau nguyên một vạt nhưng thân trước chia làm hai như kiểu áo tứ thân xưa, gài nút từ cổ xuống ngực rồi tới bụng thì để thả mặc với quần tây kiểu chân voi để cập nhật với thời trang Âu Mỹ đang có kiểu quần â€bell bottomâ€.
Cuối thập niên 60, nhiều bà đưa ra một â€mốt†hay hay là mặc nguyên một bộ áo dài và quần mầu phấn tiên, may bằng tơ lụa nội hóa trông rất dịu dàng khả ái. Một số ca sĩ lên sân khấu lại mặc nguyên bộ mầu sắc đỏ chói hay xanh ngắt viền kim tuyến sặc sỡ.
Từ kiểu Raglan có nhiều kiểu biến chế lạ mắt: Thân áo may bằng hàng dày, nhưng phía ngực và tay ráp bằng hàng ren hoặc hàng mỏng; hoặc thân áo khác mầu với hai tay, có khi là hai mầu tương phản như đen trắng, hoặc đậm nhạt, và có khi may bằng hàng rất mỏng nên phải dùng hai hoặc ba lớp, ý hẳn nhắc nhở đến ngày xưa các cụ mặc áo mớ ba mớ bảy để phô trương sự giàu có của mình.
Nữ sinh Việt Nam trước 75 đến trường đều thường là â€áo trắng học tròâ€, nhưng thứ hai chào cờ phải mặc đồng phục: Áo trắng nữ sinh Ãồng Khánh Huế, áo lam Hà Nội, áo xanh da trời Trưng Vương, áo hồng Gia Long... những mầu áo thơ mộng đã một thời lên hương qua thơ nhạc.
Một điều ghi nhận là sau khi không còn thể chế quân chủ, kể từ thời Ãệ nhất Cộng hòa (tháng 7 1954), hầu hết các cô dâu đều mặc quốc phục áo dài có khoác ngoài một áo thụng rộng may theo kiểu áo mệnh phụ hoặc áo hoàng hậu, và đội khăn vành xanh hoặc vàng. Ý hẳn đó là ngày nàng trở thành một bậc mệnh phụ và bước lên ngôi hoàng hậu trong cuộc đời của chàng vậy.
Từ cuối thập niên 60, nhà may Thanh Khánh ở Dakao đưa ra những mẫu hàng thêu hoa lá cành để may áo dài, và tiệm Saigon Souvenirs khu Thương xá Tax Sài Gòn đưa ra những mẫu hàng vừa vẽ vừa thêu trên lụa rất quý phái lịch sự. Ba nhà may nổi tiếng tại Sài Gòn trước 75 là nhà may Thanh Khánh nay mở tại Paris, Pháp nhà may Dung Dakao và nhà may Thiết Lập Pasteur nay mở tại đường Brookhurst, Garden Grove, California, Hoa Kỳ.
Như trên đã nói, chiếc áo dài Việt Nam có số phận gắn liền với lịch sử dân tộc. Khi Cộng sản xâm chiếm miền Nam vào cuối tháng Tư, 1975, chiếc áo dài cũng theo những bước chân di tản lưu vong ra ngoại quốc, trong khi chính sách đàn áp và nền kinh tế kiệt quệ trong nước đã đẩy lui chiếc áo dài vào bóng tối hoặc chôn kín trong đáy tủ và chỉ được đưa ra ánh sáng trong dịp cưới hỏi lễ lạc.
Trên bước đường lưu vong, bất cứ ở Mỹ, Phi, Âu, hay Á, chiếc áo dài được nâng niu bảo trọng hơn bao giờ. Ở đâu có người Việt tỵ nạn là ở đó có áo dài, áo lụa, áo nhung, áo tơ, áo gấm, áo vải, áo thêu, áo vẽ... kể cá áo gấm lam, áo thụng khăn đóng của quý vị tu mi nam tử. Phẩm chất, mầu sắc cũng như những hình tượng trên áo được hòa hợp với trình độ thẩm mỹ khá cao.
Trong số những nhà sáng chế kiểu áo, phải kể đến Thành Lễ Hoàng Ãình Tuyên ở Paris với những kiểu hoàn toàn mới lạ và táo bạo như áo dài hở ngực hở cổ, áo dài không có tay hoặc chỉ có một tay kiểu... độc thủ nữ hiệp, áo dài cũn cỡn ngắn trên đầu gối kiểu... lính thú đời xưa, áo dài năm lớp hàng mầu v.v... Ãặc biệt các kiểu áo dài mới của Thành Lễ đều mặc với quần cùng màu hoặc màu tương phản để tạo sự bắt mắt. Rất may, đa số các kiểu mới này đều còn giữ nguyên hai tà áo bất khuất bay lượn, nét đặc biệt của áo dài Việt Nam.
Hiện nay phong trào áo vẽ và nhuộm mầu đang lấn át những mẫu áo thêu loan phượng giao long, cúc trúc lan mai và cảnh trí thời xưa, đồng thời với sự tái xuất kiểu áo Lemur tay phồng nối vai.
Nhiều họa sĩ nổi danh tung ra vô số mẫu vẽ trên lụa: Thành Lễ Hoàng Ãình Tuyên, Thúy Uyển, Nhung ở Paris, Tiểu Linh, Frederic Thọ ở Cali, Anh Ãào, Kim Liệu ở Virginia... Người viết bài này vì yêu áo dài Việt Nam nên cũng mượn mầu sắc ghi lại những hình ảnh quê hương qua hoa lá cành mây nước trăng sao trên lụa, để mong phổ biến những vẻ đẹp của quê hương thể hiện qua tà áo, đóng góp phần nào vào việc gìn vàng giữ ngọc.
Những chiếc áo dài Việt Nam dù với mầu sắc đậm chói hay dịu mát, may bằng hàng vải thô sơ hay tơ gấm lụa là, vạt áo có ngắn cũn hay dài thượt, thân áo có nhỏ hẹp hay rộng rãi, cổ áo có kín cổng cao tường hay hở hang lộ liễu... vẫn là một kết hợp của chân thiện mỹ.
Áo dài Việt Nam không những nói lên nhân sinh quan Việt Nam mà còn gói trọn tinh thần Việt Nam: Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng chỉ tiếp nhận tinh hoa mà gạn lọc cặn bã, tô bồi thêm nét đẹp mà vẫn giữ cá tính độc lập.
Áo dài Việt Nam là niềm kiêu hãnh của người Việt Nam. Chính vì vậy mà người Việt vẫn yêu quý tà áo Việt, nhất là thế hệ trẻ lưu vong trong sứ mạng gìn vàng giữ ngọc.
Edited by: Ngoi_Sao_Nho
__________________
Mộng không thật nên đời là Ảo ảnh...
Ngôi_Sao_Nhỏ
Chỉnh sửa lần cuối bởi hoangvu ngày 29-10-2009 lúc 10:49 AM. Lý do: Bổ sung Tác giả và nguồn
Reply With Quote
Ngoi_Sao_Nho
Xem Hồ Sơ
Gởi Thư riêng đến Ngoi_Sao_Nho
Tìm thêm bài viết khác của Ngoi_Sao_Nho
View Blog
Old 26-04-2006, 05:33 PM #2
hoangvu's Avatar
hoangvu
Administrator
Top
Join Date: Oct 2003
United States
Đã Cảm ơn: 2,185
Được cảm ơn: 1,516 lần/984 bài
Blog Entries: 15
6,048 posts
Status:hoangvu is offline
hoangvu is on a distinguished road
Tweet this Post!
Default
Áo dài Việt Nam
Trên lòng chiếc cầu trắng sáu vài mười hai nhịp rực sáng ánh đèn, như vẫn còn đó hình ảnh một đêm nao - hằng trăm thiếu nữ của xứ sông trăng, xúng xính trong từng chiếc áo được gọi là áo dài… cách điệu và biến tấu.
Không hiểu do chợt dưng được chọn - hay bởi thứ trang phục, tuy „không xa nhưng chưa thật gần“ được mang ra trình diễn - mà những người mẫu nghiệp dư(1)lại nối bước nhau trong vẻ ủ dột và sừng sững ?
Nếu hiểu thời trang là một loại hình văn hóa, thì chiếc áo dài - liệu có thực sự cần tiếp tục kinh qua một quá trình biến tấu hoặc cách điệu triền miên như thời gian gần đây, mới đủ để vinh danh là „chiếc áo dài truyền thống“ ?
Non một thế kỷ định hình và qua nhiều thế hệ những bàn tay hoa, chiếc áo dài mới đạt đến một chuẩn mực tối ưu như ngày nay trong nghệ thuật tạo dáng(2). Không chỉ giúp tăng sức quyến rũ cho từng đường nét, chiếc áo còn khéo làm phai nhạt đi ít nhiều nhược điểm, nếu có - về mặt thể hình của người phụ nữ, do tạo hóa lắm lúc cũng không tránh khỏi xao xuyến nên trót lơ đãng trong khâu tạo nắn.
Ai đó chẳng đã từng than phiền - phụ nữ là một „sản phẩm lầm lỗi“ của thượng đế. Vậy ngẫu nhiên chăng, chiếc áo với hai tà mỏng manh ra đời là để biến một lỗi lầm trở nên đáng yêu, bởi đã khéo hài hòa cái chất trữ tình Eva nguyên thủy, nẩy sinh từ yêu cầu hiện thực song „bất khả“ của cuộc sống. Từ đấy, luôn đi kèm với loại quần hai ống - dài và rộng, giập chéo vào nhau(3)cũng bằng chất liệu vải mềm - chiếc áo tự bao giờ đã thoát rời cái kén thời trang xa xỉ để trở thành một sản phẩm quốc hồn quốc túy.
Một làn gió thoang thoảng, một chút nắng phai phai - bấy nhiêu đủ khiến hai tà bay lượn, vừa phong kín ấp-e vừa khơi gợi khép mở. Chiếc áo chẳng đã thừa sức xô giạt trời mây, lùa nghìn tâm sự len vào ký ức làm ngơ ngẩn lòng mỗi chúng ta trong những chiều xưa ấy ?
Chiếc áo còn khá kén chọn đối tượng trao gởi nên với dáng vóc thon thả, phụ nữ Việt Nam chừng như là khách hàng tối thượng, chủ nhân độc quyền của thứ trang phục rất riêng của dân tộc mình. Sự độc quyền vô hình chung đã nhân hóa chiếc áo truyền thống thành một thứ biểu tượng gọi hồn, đánh thức bao nỗi khát khao hướng về ở những ai hơn một lần mãi ngắm. Chiếc áo tự thân luôn ủ ấp một nỗi niềm : gợi nhắc vô vàn kỷ niệm, hoài cảm một hình bóng cũng như lưu luyến một quê nhà…
Đã thế màu sắc và chất liệu vải áo còn có tính năng định vị nhân cách, phản ánh tiết trời cùng lúc gởi trao nhiều sứ mệnh. Vâng, một thỏa ước không trói buộc - nhưng nếu thiếu sự cân nhắc, trong chọn lựa chất liệu và màu áo hay chọn lựa bất tuân yếu tố dung hợp với quan hệ tiếp xúc, nơi đến nơi đi… ắt sẽ nẩy sinh từng mối nghi hoặc qua ánh mắt của mọi người. Liệu có thể khoác chiếc áo dài hoa rực rỡ trên đường đến viếng cố nhân ở chốn thâm sơn cùng cốc hoặc thổn thức tiễn đưa …người đi, ừ nhỉ người đi thật… trong thứ gấm vóc bội phần lộng lẫy giữa mùa đông buốt giá ?
Và có gì đến phải ngạc nhiên, giữa lòng một thành phố hồng nắng phương Nam „người“ đi mà chợt mát… nếu không vì áo lụa của ai kia ?
Nói cách khác, chiếc áo mỗi khi được lồng vào một „không-gian THƠ“ hay „khung cảnh LỄ“ sẽ có dịp phát huy hết được tác dụng tiềm ẩn của nó. Một sự đồng hóa hiển nhiên giữa màu áo với khung cảnh, với thời gian và sự rung động đầy tình :
Có phải em về, mang theo… tà áo trắng
Để khỏi phai màu như em nói chăng em ! (4)
Giá trị của chiếc áo vì thế, đâu chỉ giới hạn trong sự thăng hoa vẻ đẹp ngoại hình ?
Ngoài tác dụng hoàn thiện một dáng dấp, tái tạo niềm tin cho những mảnh đời trót nhỡ, chiếc áo còn có mảnh lực trấn an từng thân phận hồng nhan mà bến bờ yêu đương ngỡ đã vưột xa tầm với. Thướt tha khoác chiếc áo vào, thì dẫu – „ngãi đắng, gừng cay hay muối mặn gầy hao, da diết…“ vẫn là em ! Chiếc áo dễ mang đến cho người mặc thứ cảm giác như đã „hư vô hóa“ mọi nỗi truân chiên có thực, nhằm bắt nhịp ung dung để tồn tại cùng với cuộc sống quanh mình.
Đấy có là yếu tố hướng thượng đã lặng lẽ nâng chiếc áo lên tầm „một thứ xiêm y mầu nhiệm“ có một không hai trên cõi đời này ?
Tuổi mới lớn nào không cảm nhận có sự chuyển hóa bất ngờ, khi ướm thử lần đầu chiếc áo : nói năng từ tốn, đi đứng khoan thai, vui đùa chừng mực… Riêng với những ai đã qua rồi cái ngưỡng của tuổi đôi mươi hay duyên phận trót thắm ở phương trời đâu đó - nếu vẫn mơ, hẳn mơ một ngày về cố xứ ngập ngừng khoác lại chiếc áo ngày xưa. Chỉ bấy nhiêu thôi, bằng như tự mình đánh thức tận cuối trời Quên cả một quãng đời thanh xuân tươi đẹp !
Song giờ đây với những nhát kéo ngẫu hứng cùng năm bảy sự chắp „giàu sự đầu tư chạy theo thị hiếu“ hơn là giữ lại bản sắc và tôn trọng tính mực thước của phong tục tập quán. Chiếc áo chợt dưng biến dạng - lúc bất cập khi thái quá - không nặng về hình thức phẩm phục cung đình thì cũng hở hang dung tục(5). Vô tình, chúng ta đã đánh đồng tính truyền thống với xu hướng thời thượng : liệu chiếc áo dài truyền thống Việt Nam sẽ còn giữ được sức thu hút, đắm chìm và chiêm ngưỡng ?
Phá vỡ những gì vốn thuộc về truyền thống là điều không dễ ai muốn hay muốn mà được. Cách điệu một sản phẩm cũng thế, đâu chỉ đơn thuần thay đổi hay lai hóa mẫu mã mà phải thay đổi thế nào, có bảo lưu truyền thống, nhắm tới sự thiện mỹ hay ích dụng. Bằng không, giá trị của sự cách điệu sẽ chẳng hơn kém gì một chuỗi thao tác vô hồn, đánh mất tính trang trọng và thuyết phục.
Đành rằng, không thể phủ nhận tính tích cực của các nghệ nhân trong quá trình đa dạng hóa kiểu dáng cho chiếc áo. Tuy nhiên, cần phải rạch ròi giữa hành vi tiếp thị mẫu mã từng thứ thời trang của riêng mình (những nhà thiết kế) với việc sử dụng „chiếc áo dài truyền thống“ như một thương hiệu cầu chứng. Hạ thấp giá trị quốc hồn của một biểu tượng văn hóa vốn là sở hữu chung của cả dân tộc, liệu có được sự chấp nhận dễ dàng về phía đại chúng ?
Muộn màng quá chăng, tham vọng đáng yêu… „muốn nói cho thế giới biết“ của nhà tạo mẫu ?
Không, không những được nói đến - chiếc áo, tự lâu lắm rồi đã cầm chân và hóa đá biết bao du khách. Nay, mọi sự đánh giá đầy mỹ ý liệu có được nhân rộng - mỗi khi, hương đồng gió nội của thứ trang phục „giữ ngọc gìn vàng khép kín mi nhau“ của bao thời vang bóng - sau một chuỗi thử nghiệm biến tấu và cách điệu, đã… ít nhiều bay đi ?
Chú thích:
(1) những nữ sinh Huế .
(2) tiền thân chiếc áo dài bắt nguồn từ chiếc áo dài lãnh tương tự áo tứ thân, áo dài Le Mur (mẫu của họa sĩ Cát Tường,1930) nối vai ráp tay ôm sát thân, rồi áo dài tay raglan ráp xéo vai để tránh nếp nhăn khi mặc (đầu thập niên 60)
(3) giúp „khéo giấu“ khoảng cách giữa đôi chân (đặc biệt với phụ nữ đã làm mẹ) làm tăng phần đài các, trang trọng cho dáng đi.
(4) thơ Vương đưc Lệ
(5) tà áo cắt hoặc quá ngắn quá hẹp, vai áo phồng hoặc hở sát nách, cổ áo khoét sâu, hở toàn ngực và lưng trông khó bắt mắt gần như kiểu áo Trần thị Lệ Xuân, vốn đi ngược truyền thống và đã bị đào thải (khoảng thập niên 50).
Bài viết Nguyễn Văn Sa
Ngưởi đăng hoang vu
Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một loại y phục cá biệt, khi nhìn cách phục sức của họ, chúng ta nhận biết họ thuộc quốc gia nào. Người Nhật Bản có chiếc áo Kimono, người Trung Hoa đời Măn Thanh có chiếc áo Thượng Hải mà quí bà quí cô thường gọi là áo "xường xám", người Đại Hàn, người Phi, người Thái v.v. Người Việt Nam, chúng ta hănh diện về chiếc áo dài, được trang trọng nâng lên ngôi vị quốc phục, cũng có người gọi một cách hoa mỹ hơn: "chiếc áo dài quê hương".
Tài liệu đượcnhặt răi rác một số ít các tài liệu về chiếc áo dài được ghi chép rất vắn tắt trong các sách sử. Ngoài ra, cũng còÌ£n có một ít tài liệu tìm thấy trên sách báo cũ, nhưng không ghi rỡ xuất xứ. Tài liệu ghi trong sách cũ tuy vắn tắt, nhưng đáng tin cậy.
Dân tộc Việt Nam có một chiều dài lịch sử trên bốn ngàn năm theo như sử sách đă ghi, trong đó có một ngàn năm bị Bắc thuộc, tám mươi hai năm bị Pháp đô hộ, tiếp theo là cuộc nội chiến tương tàn! Một dân tộc mà bị dân tộc khác đô hộ trên ngàn năm quả là quá lâu. Bao nhiêu tài sản của quốc gia, sử sách quí giá, tài liệu về lịch sử v.v... đă cướp đi hoặc tiêu hủy hết. Mục đích của kẻ thống tri. là triệt tiêu nền văn hóa của ta để đồng hóa. Mặc dầu bị ngoại xâm, chiến tranh tàn phá liên miên, nhưng dân tộc ta luôn có sự đề kháng tinh vi để trường tồn. Sử gia Đào Duy Anh chép: "Theo sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài về bên tả (tả nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Điên dạy cho dân quận Cửu chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu. Theo những lời sách chép đó thì ta có thể đoán rằng trước hồi Bắc thuộc dân ta gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người Trung quốc mới mặc áo gài về tay phải." (Việt nam Văn Hóa Sử, Đào Duy Anh, trang 172). Mặc dầu cuộc sống chung đụng và bắt chước theo người ngoại quốc, nhưng tổ tiên ta vẫn khôn khéo duy trì nét đặc thù của nền văn hóa, không đánh mất bản sắc dân tộc.
Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao, vì thiếu tài liệu kiểm chứng. Mới đây, nhân đọc cuốn kể chuyện "Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn" của ông Tôn Thất Bính, (Nhà Xuất Bản Đà Nẵng, 1997) có bài "Những Trang Đầu của Lịch Sử Áo Dài" tác giả chép như sau:
"Chiếc áo dài tha thướt xinh đẹp hiện nay phải qua một quá trình phát triển. Nó được hình thành từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nguyên chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe người Nghệ an truyền câu sấm: "Bát đại thời hoàn trung nguyên" (tám đời trở về trung nguyên), thấy từ Đoan Quốc Công đến nay vừa đúng tám đời bèn xưng hiệu lấy thể chế áo mũ trong Tam tài đồ hội làm kiểu... lại hạ lệnh cho trai gái hai xứ đổi dùng áo quần Bắc quốc để tỏ sự biến đổi, khiến phụ nữ bận áo ngắn hẹp tay như áo đàn ông thời Bắc quốc không có thế.
Thế là do tinh thần độc lập, muốn dân chúng trong địa phận mình cai trị mang y phục riêng để phân biệt với miền Bắc, Nguyễn Phúc Khoát hiểu dụ:
"Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ tuân theo quốc tục, nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cỡi biên, trong ngoài như nhau, chính trị và phong tục cũng nên thống nhất. Nếu còÌ£n có người mặc quần áo kiểu người khách (Trung quốc, TTB chú) thì nên đổi theo thể chế của nước nhà. Đổi may y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen the, là, trừu, đoạn, còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng nhất thiết không được quen thói cũ dùng càn. Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được. Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm hoặc vải đen, hay vải trắng tùy nghi. Còn các bức viền cổ và kết lót thÌì đều theo như điều hiểu dụ năm trước mà chế dùng."
Như vậy từ thế kỷ XVIII, chiếc áo dài đă được ra đời, dù ban đầu còn thô sơ, nhưng kín đáo. Nó là sản phẩm mang màu sắc dung hạp Bắc Nam. Cũng ở thời Nguyễn Phúc Khoát, phụ nữ đă biết trang điểm, thêu thùa hoa lá quanh cổ áo để tăng vẻ đẹp, hàng vải khá tốt và tinh xảo. Các loại áo đoạn hoa bát ty, sa, lương, địa, the là hàng hoa được mặc vào ngày thường, áo vải, áo mộc bị chê là vải xấu.
Chúa Nguyễn Phúc Khoát đă viết những trang lịch sử đầu cho chiếc áo dài vậy." (Theo Lê Qúi Đôn Phủ biên tạp lục, trong cuốn "Kể chuyện Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn, của Tôn Thất BÌinh, trang 29.)
Chúa Nguyễn Phúc Khoát hùng cứ ở xứ Đàng Trong, sau khi chiếm trọn nước Chiêm thành, mở mang bờ cõi về phương Nam, theo Lê Quý Đôn, đă có được thời kỳ thịnh vượng bình yên. Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu là Vũ Vương, có triều nghi xây hai điện Kim Hoa, Quang Hoa, có các nhà Tụ Lạc, Chính Quang, Trung Hoà, Di Nhiên, đài Sướng Xuân, các Dao TrÌì, các TriềuĐương, các Quan Thiên, đÌình Thụy Vân, hiên Đồng Lạc, an Nội Viên, đình Giáng Hương, điện Trường Lạc, hiên Duyệt Vơ v.v., có cơ chế chính trị, hành chánh, xă hội có kỷ cương, nhưng chưa có quốc hiệu. Tuy nhiên, người ngoại quốc tới lui buôn bán tại cửa Hội an thường gọi là "Quảng Nam quốc". Để chứng tỏ tinh thần độc lập, Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đă chú trọng đến vấn đề cải cách xă hội, phong tục mà điều quan trọng là sự cải cách về y phục.
Nếu căn cứ theo tài liệu kể trên thìÌ chiếc áo dài Việt nam đă ra đời vào thế kỷ XVIII, trong thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 1765) (?).
Từ đó đến nay chắc chắn chiếc áo dài Việt Nam cũng đă thay hình đổi dạng để thích nghi với trào lưu tiến hóa và sự trường tồn của dân tộc. Sách Đại Nam thực lục tiền biên cũng có chép: "Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục". Có lẽ vào thời xa xưa đàn bà Việt Nam mặc áo thắt vạt và mặc váy. Ta đọc đoạn sử sau đây: "Đến đời Minh Mệnh có lệnh cho đàn bà đường ngoài phải mặc quần, nhưng chỉ những người giàu sang ở thành thị tuân theo,chứ ở nhà quê thì đến nay đàn bà cũng vẫn mặc váy." (Việt Nam Văn Hóa Sử, Đào Duy Anh, trang 173).
Mặc dầu bị ngoại xâm và bị đô hộ lâu dài, nhưng tổ tiên ta vẫn khôn khéo duy trì một xă hội có kỷ cương, tôn ti trật tự. Cứ nhìn vào trang phục và màu sắc để phân biệt giai tầng trong xă hội. Sách Vũ Trung Tùy Bút chép:
"Đời xưa học trò và người thường, khi có việc công thì mặc áo xanh lam (thanh cát), lúc thường thì mặc áo màu thâm (chuy y), người làm lụng thì mặc áo mùi sừng (quÌ sắc). Từ đời Lê về sau thì sắc trắng ít dùng. Cứ trạng thái y phục gần nhất của người nưóc ta thì các quan hay mặc áo xanh lam, học trò cùng những chức viên, tổng lư và hạ lại thường dùng mùi sừng và mùi đen, người nhà quê và người làm lụng thì thường dùng mùi nâu. Người giàu sang thì mặc the lụa gấm vóc, còn người nghèo hèn thì chỉ dùng vải to ... vua quan thì có phẩm phục, quân lính thì có nhung phu.c, thường dân thì có lễ phục".
Trong Việt Nam Sử Lược của học giả Trần Trọng Kim viết: "Vua Lê Lợi, ngày ấy dấy quân khởi nghĩa chống giặc Tàu ở đất Lam sơn. Ngài dùng chiếc áo vải màu lam là màu áo biểu tượng để kháng giặc". Vì thế vua Lê Lợi được mệnh danh là "Anh hùng áo vải Lam Sơn".
Qua các đoạn sử vừa trích dẫn ở trên, ta thấy y phục là một biểu tượng của quốc gia dân tộc. Trải qua bao biến thiên của đất nước, chiếc áo dài cũng đă được cải tiến. Vào khoảng thập niên 1930, nhóm văn sĩ trong Tự Lực Văn Đoàn đă chủ xướng cuộc cải cách văn hóa, tư tưởng mới cho thế hệ trẻ. Trong nhóm này có hai họa sĩ du học từ Pháp về, đó là các ông Nguyễn Cát Tường và Lê Phổ, dùng hai tờ báo Ngày Nay và Phong Hóa làm phương tiện truyền bá của nhóm. Hai họa sĩ đă vẽ và chỉnh trang kiểu áo dài phụ nữ gọi là áo "Le Mur Cát Tường" cổ cao, không có eo. Ông Nguyễn Cát Tường viết trong tờ Phong Hóa, có đoạn: "Muốn biết nước nào có tiến bộ, có kỷ thuật hay không? Cứ xem y phục người nước của họ, ta cũng đủ hiểu." (Phong Hóa số 86, tháng 2 1934).
Một nhân vật nữ khác không thể không nhắc đến, đó là bà Trịnh Thục Oanh, một hiệu trưởng của trường nữ Trung học Hà Nội, đă làm thêm một cuộc cải cách táo bạo hơn, bà nhấn eo chiếc áo, ôm sát theo đường nét mỹ miều duyên dáng của phái nữ.
Đến ngày nay, chiếc áo dài của quí bà quí cô là một tác phẩm mỹ thuật tuyệt vời. Nó đă trở thành một thứ y phục độc đáo của phụ nữ Việt nam. Tại cuộc hội chợ quốc tế Osaka, năm 1970 tại Nhật bản, chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam đă lên ngôi và đem lại vinh dự cho phái đoàn VNCH. Khách quốc tế trầm trộ thán phục trước các vạt áo lă lơi như cánh bướm trước gió. Khách bình phẩm:
- Hơi mỏng!
- Nhưng rất kín đáo, đủ sức che mắt thánh!
Một nhiếp ảnh gia quốc tế của Việt nam cũng đă hănh diện về hấp lực của chiếc áo dài tại hội chợ, nên có nhận xét:
-Nó có sức chở gió đi theo.
Những lời nhận xét trên không có gì quá đáng. Chiếc áo dài Việt nam chỉ thích hợp cho thân hình kiều diễm, ẻo lả, mảnh mai của phụ nữ Việt nam. Nó vừa kín đáo, vừa e ấp, vừa khêu gợi. Nó khai thác được đường nét tuyệt mỹ của thân thể. Thi sĩ Xuân Diệu thú nhận:
Những tà áo lụa mong manh ấy,
Đă gói hồn tôi suốt trọn đời.
Chiếc áo dài hiển nhiên là một loại "quốc phục". Khách khứa đến thăm, chủ nhà trịnh trọng bận chiếc áo dài như là một chiếc áo lễ để tiếp khách. Tại học đường nó là chiếc áo học trò ngây thơ, tung tăng như cánh bướm, gói trọn mộng đẹp của tương lai. Một chiếc khăn vành có tác dụng như một "vương miện", thêm vào chiếc áo choàng bên ngoài sẽ trở thành bộ y phục "hoàng hậu" cho cô dâu khi bước lên xe hoa. Trong buổi dạ tiệc, chiếc áo dài Việt nam cũng sẽ lộng lẫy, độc đáo, không thua bất kỳ bộ trang phục của các quốc gia nào khác trên thế giới.
Tại miền quê Quảng Nam, những người buôn thúng bán bưng, mặc dầu nghèo khổ, cũng luôn luôn bận chiếc áo dài khi ra chợ. Nếu áo rách, sờn vai thì chắp vào chỗ rách một phần vải mới, gọi là áo "vá quàng". Dầu là áo rách, áo vá quàng, vẫn tăng giá trị:
Đố ai kiếm được cái vảy con cá trê vàng,
Cái gan con tép bạc, mấy ngàn tôi cũng mua.
Chẳng thương cái cổ em có hột xoàn,
Thương em mặc chiếc áo vá quàng năm thân.
Áo may cái thuở anh mới thương nàng,
Đến nay áo rách lại vá quàng thay tay.
(Ca dao)
Chiếc áo dài, một đề tài phong phú để dành cho các thi sĩ dệt thơ. Trong bài "Áo Trắng" Huy Cận viết:
Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
Nở bừng ánh sáng, em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng
......
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.
...
Dịu dàng áo trắng trong như suối,
Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay.
(Huy Cận)
Thi sĩ Đông Hồ cũng đă tình nguyện bán thơ mình để "Mua Áo" cho cô gái xuân, lời thơ nhẹ nhàng phơi phới yêu đương, có chiều lă lơi mà trong sạch, nũng nịu đến dễ thương:
Chiếc áo năm xưa đă cũ rồi,
Em đâu còn áo mặc đi chơi.
Bán thơ nhân dịp anh ra chợ.
Đành gởi anh mua chiếc áo thôi.
Hàng bông mai biếc màu em thích,
Màu với hàng, em đă dặn rồi.
Còn thước tấc, quên! Em chưa bảo:
Kích tùng bao rộng, vạt bao dài?
Ô hay! Nghe hỏi mà yêu nhỉ!
Thước tấc anh còn lựa hỏi ai.
Rộng hẹp, tay anh bồng ẳm đó,
Ngắn dài, người mới tựa bên vai!
(Đông Hồ, "Cô Gái Xuân")
Thi sĩ Phan Long cũng trải hồn mình qua bài cảm tác "Chiếc Áo Dài Tà Áo quê Hương" sau đây:
Em yêu mến chiếc áo dài,
Thướt tha duyên dáng đẹp hoài thời gian.
Ngày xuân nắng trải tơ vàng,
Khoe tà áo mới ngập tràn tuổi thơ.
Lớn theo lứa tuổi học trò
Tình che vạt trước gió lùa vạt sau.
Những ngày đẹp măi bên nhau,
Vạt vui in dấu vạt sầu còn vương.
Đẹp sao tà áo quê hương,
Áo dài màu trắng nhớ thương năm nào.
(Phan Long)
Cái tài tình của chiếc áo dài Việt Nam qua cách cấu trúc chẳng những là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, nhưng bên trong còn ẩn tàng ý nghĩa dạy dỗ về đạo làm người. Dân tộc Việt nam phải phấn đấu không ngừng chống nạn ngoại xâm để trường tồn, và bảo vệ những giá trị truyền thống về văn hóa, kỷ cương gia đình Dầu muốn hay không thì dân tộc ta, cũng như các dân tộc Á châu khác đă chịu ảnh hương sâu đậm của Tam Giáo và học thuyết Khổng Mạnh. Gia đình, xă hội được xây dựng trên nền tảng tam cương, ngũ thường. Tổ tiên ta răn dạy con cháu thật chặt chẻ về đạo làm người, chẳng những trên sách vở, mà còn phải luôn luôn mang nó theo trên người. Phải chăng đây là sự dạy dỗ sâu sắc, khéo léo của tiền nhân? Nếu qủa đúng như vậy thì chiếc áo dài Việt Nam là cái gia phả vô cùng quí giá ẩn tàng sự dạy dỗ con cháu về đạo làm người. Ta phải hănh diện, nâng niu, bảo vệ, xem như một di sản văn hóa do tổ tiên truyền dạy. Ta thử xem cách cấu trúc của chiếc áo dài xưa:
Phía trước có hai tà (hay hai vạt), phía sau hai tà, tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu (cha mẹ chồng, cha mẹ vợ).
Một vạt cụt, hay vạt chéo phía trước có tác dụng như một cái yếm che ngực, nằm phía bên trong hai vạt lớn, tượng trưng cho cha mẹ ôm ấp đứa con vào lòng.
Năm hột nút nằm cân xứng trên năm vị trí cố định, giữ cho chiếc áo được ngay thẳng, kín đáo, tượng trưng cho năm đạo làm người: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.
Trong chiếc áo tứ thân, người ta thường buộc hai vạt trước lại với nhau để giữ cho chiếc áo cân đối, tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng âu yếm, quấn quít bên nhau.
Ai đã từng dắt xe đạp chở nàng áo thướt tha ở cổng trường Gia Long, ai đã từng theo trêu ghẹo các nữ sinh áo trắng trường Trưng Vương, ai đã mê mẫn đuổi theo vạt áo để đề thơ hẳn không quên những tà áo sinh viên mượt mà, tung bay trong gió thu. Từ những tà áo thật giản đơn đến những tà áo lộng lẫy từ những tà áo tô điễm cho các dịp lễ hội, đám cưới, đám tang, đến những tà áo thơ ngây dưới sân trường, tất cả đều có thể được mô tả bằng một danh từ chung: ÁO DÀI.
Cho đến nay, chưa ai rõ nguồn gốc đích thực của chiếc áo dài, chỉ biết rằng thủy tổ của nó, vốn làm bằng da thú và lông chim, xuất hiện trước thời Hai Bà Trưng (năm 38 42 trước Tây lịch) qua các hình khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ (5000 năm trước Tây Lịch). Theo truyền thuyết, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng, trang sức thật lộng lẫy khi cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân nhà Hán. Cũng tương truyền, do tôn kính Hai Bà, phụ nữ Việt Nam tránh mặc áo hai tà mà may thay bằng áo tứ thân với bốn thân áo tượng trưng cho bốn bậc sinh thành (của hai vợ chồng). Vả lại, khi đó kỹ thuật còn thô sơ, vải được dệt thành từng mảnh khổ nhỏ nên phải ghép bốn mảnh lại mới may đủ một áo, gọi quen là áo tứ thân. Áo gồm hai mảnh đằng sau chắp lại giữa sống lưng (gọi là sống áo), mép của hai mảnh được nối vào nhau và dấu vào phía trong. hai mảnh trước được thắt lên và để thòng xuống thành hai tà áo ở giữa, nên không phải cài khuy (cúc, nút) khi mặc. Bình thường, gấu áo được vén lên, chỉ khi có đại tang (tang chồng hay cha mẹ) mới thả xuống và mép vải để lộ ra ngoài thay vì dấu vào trong. Đấy là hình ảnh chiếc áo dài tứ thân mộc mạc, khiêm tốn.
Sau khi xua quân đánh đuổi quân Hai Bà, tướng Mã Viện áp đặt một chế độ cai trị hà khắc nhằm đồng hóa nền văn hóa Việt. Hơn 1000 năm dưới sự đô hộ của Trung Hoa, chiếc áo dài, áo tứ thân cũng nỗi trôi theo mệnh nước nhưng không bao giờ bị xóa bỏ. Áo tứ thân vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là miệt quê, cho đến ngày hôm nay.
Vào thời vua Gia Long (1802 1819), chiếc áo dài tứ thân được biến cải thành áo ngũ thân, rất phổ thông trong giới quyền quý và dân thành thị. Áo ngũ thân cũng dược may như áo tứ thân, nhưng vạt áo bên phải phía trước chỉ được may bằng một thân vải, còn vạt áo bên trái được may bằng hai thân vải như vạt áo đằng sau. Ngoài ra, áo năm thân có khuy áo như đàn ông, lúc mặc có thể cài khuy như áo dài ngày nay hoặc thắt vạt như áo tứ thân. Về ý nghĩa, bốn thân áo chính tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và thân thứ năm (vạt con) tượng trưng cho người mặc áo; năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo Khổng Giáo: Nhân (lòng thương người, nhân từ), Lễ (biết trên, dưới), Nghĩa (nghĩa khí), Trí (sự sáng suốt, trí tuệ), Tín (uy tín). Rõ ràng, chiếc áo dài ngũ thân diễn đạt nhân sinh quan của Việt Nam nhưng không khỏi sự ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều năm đô hộ.
Khi triều đình Huế ký hòa ước Patenôtre nhượng quyền cai trị nước vào tay Pháp năm 1884, văn hóa Tây Phương bắt đầu du nhập vào Việt Nam, đi đôi với việc dạy chữ Quốc Ngữ thay chữ Nho. Cuộc sống bỗng biến đổi theo đà đua đòi của văn hóa Tây Phương, nhất là ở những đô thị lớn.
Sau khi chính phủ Pháp mở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, một lô cải cách cho chiếc áo dài truyền thống đã được một số người có tâm huyết với chiếc áo dài đưa ra. Các màu nâu, đen thường được thay bằng bằng các sắc màu tươi sáng hơn, gây sôi nổi trong dư luận quần chúng thời ấy. Năm 1934, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã khích động phong trào cải cách: "...Các nhà đạo đức thường nói: Quần áo chỉ là những vật dụng để che thân thể ta khỏi bị gió mưa, nắng lạnh, ta chẳng nên để ý đến cái đẹp, cái sang của nó làm gì...Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân, song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ, ta cũng đủ hiểu...."
Trong thập niên 1930, Cát Tường đưa ra thị trường kiểu áo dài mới Le mur. Kiểu Le mur được vẽ theo kiểu áo đầm Tây Phương với nối vai và tay phồng, cổ lá xen, cài khuy trên vai, mặc với quần trắng, đeo bóp, che dù, v.v... Sau đó, họa sĩ Lê Phổ cải tiến áo Le mur và mẫu áo dài này được hoan nghênh trong Hội chợ Nữ Công Đà Nẵng. Đây là một kết hợp giữa áo Le mur và áo tứ thân, rất gần gũi với chiếc áo dài tân thời ngày nay: nối vai và tay không phồng lên, cổ kín, cài nút bên phải, thân ôm sát người, hai tà áo mềm mại bay lượn. Áo dài Lê Phổ được may bằng vải màu mặc với quần trắng, tóc búi lỏng hay vấn trần hoặc vấn khăn nhung. trong suốt gấn 30 năm sau đó chiếc áo dài Việt Nam không thay đổi bao nhiêu, ngoại trừ cổ áo, gấu áo, và eo áo: cổ áo thì lúc cao, lúc thấp, lúc rộng, lúc hẹp; gấu áo thì lúc vén cao, lúc hạ thấp; eo áo thí lúc nhỏ lúc to. Những thay đổi này đi đôi với những thay đổi nho nhỏ cũa chiếc quần phụ nữ: chân què qua đáy giữa, lưng quần thắt giải rút rồi tới giây thung, gài nút, và sau cùng là dùng phẹc mo tuya (fermeture), ống quần thì lúc rộng lúc hẹp theo thị hiếu thẩm mỹ của từng giai đoạn một.
Mãi đến đầu thập niên 1960, nhà may Dung Đakao ở Sài Gòn đưa ra một kiểu áo dài mới: áo dài tay raglan mặc với quần xéo. Vì tay áo và thân áo được nối xéo góc khoảng 45 độ, kiểu áo dài raglan này tránh được những đường nhăn hai bên nách và vai (so với kiểu áo Lê Phổ). Chiếc quần xéo may bằng vải mềm, được xếp xéo góc khi cắt, có hông ôm sát người và hai ống lòa xòa dài qua mắt cá chân giúp cho nữ giới có những bước đi tha thước qua đôi guốc ẩn hiện dưới hai ống quần.
Sau áo dài raglan là áo dài mini raglan, vốn là áo raglan may với tà áo cao gọn ghẽ. kiểu mini raglan này được các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến cuối tháng Tư 1975.
Cảm thấy muốn tiến xa hơn, một số nhà may tại Sài Gòn đã tung ra thị trường kiểu áo dài ba tà gốm một vạt sau và hai vạt trước. Cổ áo cao, có khuy cài từ cổ xuống eo. Áo ba tà được mặc với quần ống voi, thứ quần dài có ống rộng thùng thình. Kiểu áo này không ưa chuộng cho lắm vì không thích hợp với bản chất ôn nhu cũa nữ giới Việt Nam.
Ngày nay, khi tị nạn đến xứ người, các nhà vẽ kiểu thời trang lại "thêm bớt" cho chiếc áo dài. Trong đó, có kiểu áo dài "ngắn" với hai tà áo ngắn lên quá đầu gối, áo hở cổ, áo một tay, v.v... Nhưng có lẽ khó có kiểu nào sánh được những chiếc áo mini raglan trắng nõn mà các chàng ngơ ngẫn đứng chờ trước cổng trường Gia Long, Trưng Vương ngày nào.
Tà áo dài Việt Nam
Cũng không ngạc nhiên khi một người Việt Nam trả lời rằng tà Áo Dài là một trong những hình tượng tiêu biểu ở đất nước này. Thật khó mà dịch từ "Áo Dài" sang bất cứ ngôn ngữ nào vì không ở đâu có một tà áo Dài như ở Việt Nam.
Áo Dài, trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam, Ôm sát cơ thể, có cổ cao và dài khoảng ngang gối. Nó được xẻ ra ở hông. áo Dài vừa quyến rữ lại vừa gợi cảm, vừa kín đáo nhưng vẫn biểu lộ đường nét của một người thiếu nữ.
Nhìn lại chiều dài lịch sử đất nước, tà áo Dài là một sáng tạo nghệ thuật mới. Nó thay thế trang phục cổ truyền mà mầu sắc và kiểu dáng phải tuân theo những đòi hỏi lễ nghi và những tầng lớp xã hội. Mầu vàng chỉ dành cho những ông vua và họ được mặc áo lông bào. Mầu trắng là mầu tang còn mầu xanh dành cho các vị quan trong những dịp trang trọng. Trước nữa, đầu thế kỷ 18, phụ nữ Việt Nam mặc váy dài. Vào năm 1744, viên quan Vũ Vương cai trị phía Bắc miền Trung VN của triều Nguyễn yêu cầu thay đổi trang phục VN trên cơ sở kiểu cáo Trung Hoa. Bộ quần áo có nút thay thế cho váy và áo xẻ ngực thắt dây. Vua Minh Mạng, vị vua thứ hai của triều Nguyễn ban hành sắc lệnh cấm phụ nữ mặc váy.
áo Dài được phát hiện từ thời Pháp thuộc khi một phụ nữ Việt Nam tên Tường thay đổi chiếc áo tứ thân (áo dài có bốn mảnh) thành chiếc áo hai tà đầu tiên. Người Pháp gọi chiếc áo dài đó là Le Mur có nghĩa là "the wall" trong Anh ngữ.
Từ đó, chiếc áo Dài đã được thau đổi khá sâu sắc. Hai kiểu áo Dài được ưu chuộng là kiểu cổ tròn, tay raglan (tay liền) và kiểu tay puff (tay phồng). Ngoài ra tà áo được nối liền với phần thân qua những đường chỉ nối quanh cổ áo. Ngoài hai kiểu áo nêu trên, nhiều kiểu áo kiểu áo khác như kiểu cổ thuyền, cổ vuông, cổ chữ V, Uthích hợp với những người tương đối đầy đặn, kiểu vai phồng cho những thiếu nữ mảnh mai. Chất liệu mới cho áo Dài được kết hợp từ những tấm vải mẫu, thường được trang trí bằng những đường nét thủ công hoặc thêu thùa.
Tà áo Dài không thể gia công hoặc bán hàng loạt như những loại quần áo may sẵn khác. Mỗi mảnh được tạo ra là một công trình nghệ thuật của người thợ thủ công. Những thợ may áo Dài thường phải từ chối đơn đặt hàng trước dịp năm mới. Đôi khi người ta nhận làm chỉ 24 giờ với giá gấp đôi.
Bà James Sterson, một sứ giả Mỹ đã nói rằng: Không một đất nước nào có một trang phục dân tộc vừa đẹp, truyền thống mà lại có chiều sâu văn hóa như tà áo Dài VN.
Ngày nay, áo Dài xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Những phụ nữ Việt Kiều biểu lộ tình cảm với quê hương qua chiếc áo dài. Nhiều du khách nước ngoài đã có những ấn tượng rất tốt về tà áo Dài VN. Họ cảm thấy được tiếp rất nồng hậu khi những tà áo Dài bay bay trước gió ở phi trường. Thật tiếc cho những ai đến VN mà không mang về một chiếc áo Dài làm kỷ niệm và để khoe với những ai chưa từng đến VN.
Tà áo dài xứng đáng với mệnh danh "Nét duyên dáng Việt Nam".
Tìm hiểu cội nguồn Áo Dài Việt Nam
Có tìm hiểu dĩ vãng của chính mình thì mới quý nó được, và có quý trọng dĩ vãng thì mới tìm được hướng đi cho tương lai. Đó là lời của cố học giả Nguyễn Hiến Lê mà người viết bài này muốn gửi đến các bạn trẻ và nhưng ai quan tâm đến việc bảo vệ kho tàng văn hóa dân tộc.
Khi tìm đọc Văn học sử Việt Nam, chiếc áo dài quả đã ghi lại rất nhiều nét đan thanh không những qua ca dao tục ngữ mà còn qua điêu khắc, hội họa, kịch nghệ, văn chương và âm nhạc.
Ngược dòng thời gian tìm về nguồn cội, chiếc áo dài Việt Nam đầu tiên với hai tà áo thướt tha bay lượn đã được tiền nhân ghi khắc trên cổ vật, như trống đồng Ngọc Lũ, Hòa Bình, Hoàng Hạ... từ trên ba ngàn năm trước.
Áo dài Việt Nam quả đã có một quá trình đi sát với lịch sử dân tộc để lắm phen khóc cười theo mệnh nước nổi trôi. Trải qua cả mười thế kỷ bị Trung Hoa đô hộ một Trung Hoa vĩ đại về mọi phương diện rồi ngót một thế kỷ dưới ách thống trị của Pháp quốc gia đứng hàng đầu về thời trang quốc tế tà áo dài Việt Nam vẫn uyển chuyển tung bay, biểu dương tinh thần bất khuất, đặc tính thích nghi với hoàn cảnh, và khiếu thẩm mỹ của người Việt.
Dưới thời kỳ bị Trung Hoa đô hộ, dân ta đã bao phen bị người Tàu ra lệnh đồng hóa: Ãàn ông phải dóc tóc bím đuôi sam, đàn bà phải cắt tóc ngắn và mặc quần thay vì mặc váy, mọi người đều phải để răng trắng không được nhuộm... Nhưng những cổ vật tiền nhân để lại cho thấy người Việt xưa vẫn búi tóc, vẫn mặc áo dài và váy.
Chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả. Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng. Cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày.
Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân với váy xắn quai cồng để tiện việc gồng gánh, nhưng vẫn không làm giảm nét đẹp của người nữ.
Vẻ yêu kiều, nét duyên dáng, nết đoan trang của phụ nữ thời áo tứ thân được mô tả rõ rệt qua bài ca dao Mười Thương:
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thương quai tua dịu dàng
Bẩy thương nết ở đoan trang
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Chín thương cô ở một mình
Mười thương con mắt hữu tình với ai?
Ngoài đồng ruộng hay trong những buổi chợ, chiếc áo tứ thân có mầu nâu non, nâu già hoặc đen, mặc với váy vải thô nhuộm bùn, nhưng trong những dịp hội hè đình đám cưới hỏi, áo được may bằng hàng the, nhiễu, thao, lụa, khoác bên ngoài chiếc yếm đỏ thắm hay hồng đào và phủ lên chiếc váy lĩnh hoa chanh hoặc váy sồi có thắt lưng mầu lá mạ hay mầu cánh chả bay lượn trong gió. Các bà các cô vấn tóc trong khăn nhung hoặc vấn trần có một lọn để đuôi gà làm duyên, đội nón thương quai thao, lưng đeo bộ xà tích bằng bạc, tay đeo vòng hay xuyến, cổ đeo chuỗi hạt vàng, chân mang giày dừa, dép cong.
Bộ áo tứ thân đứng vững trên đất nước Việt Nam cả mấy ngàn năm trong khi bộ xiêm y lượt thượt của người nữ Trung Hoa chỉ còn xuất hiện trong cung điện hoặc trong những nhà quyền quý. Ãến thế kỷ thứ ba sau Tây lịch thì đàn bà Trung Hoa bỏ váy để mặc quần, khi chiếc quần xuất hiện dưới thời Gaulois bên Pháp truyền sang Cổ Ba Tư rồi vào đất Tàu. Phụ nữ Trung Hoa lại tiến xa hơn dưới thời vua Võ Vương nhà Thanh năm 1774, mặc kiểu áo xường xám không có... quần! Trong thời gian đó, truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam cho đến thế kỷ mười bảy như đã ghi trong sách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh nhắc nhở: â€... áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay đã có tục cũ...â€
Tuy nhiên, thời trang Việt Nam cũng thay đổi theo thời gian. Phụ nữ tỉnh thành chế biến kiểu áo ngũ thân từ áo tứ thân để có dáng dấp trang trọng hơn.
Áo ngũ thân cũng cắt may giống như áo tứ thân nhưng vạt trước là một vạt lớn như vạt sau, còn vạt nửa trước bên phải của áo tứ thân nay trở thành vạt con. Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo quan niệm Nho giáo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Áo ngũ thân không những tôn vinh giá trị cao quý của người nữ trong gia đình cũng như xã hội, mà còn gói ghém nhân sinh quan của dân tộc: Con người nhờ cha sinh mẹ dưỡng, khi thành thân có cha mẹ người bạn đời cùng che chở bao bọc là tứ thân phụ mẫu, luôn tôn trọng đạo làm người và giữ lòng nhân ái, ăn ở có nhân nghĩa trên kính dưới nhường, biết nơi trọng chỗ khinh, biết suy luận tính toán và giữ vững niềm tin nơi người.
Áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng là Quốc phục của phái nam.
Các bà các cô dùng mầu sắc óng ả dịu mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, trắng, hoặc lam thẫm.
Thời đó, các bà các cô giới thượng lưu hoặc nhà giàu, có những cách phô trương áo quần như mặc áo mớ ba mớ bảy tức là nhiều lớp áo mặc chồng lên nhau, nhất là về mùa Ãông. Mùa hè, họ mặc áo the mỏng phủ ngoài áo dài trắng bên trong. Các kiểu trang sức thì đeo chuỗi hạt trai, hạt ngọc, hạt cườm, hoa tai, vòng, xuyến, nhẫn... Tóc vẫn còn để dài. Khi trẻ thì xõa rồi cặp rồi búi sau gáy hoặc vấn khăn nhung, trời lạnh thì trùm khăn nhung khăn nỉ.
Từ đôi guốc gỗ thô sơ, các bà các cô có những đôi hài nhung thêu cườm hoặc chỉ ngũ sắc, hoặc những đôi dép da bóng.
Tuy nhiên, quá trình chiếc áo dài chưa chịu ngưng ở kiểu áo ngũ thân. Nhật nhật tân, hựu nhật tân, nhất là trang phục.
Sau Ãông phương, áo dài Việt Nam một lần nữa chịu ảnh hưởng Tây phương, bởi thời trang cũng đi liền với lịch sử. Nhưng cũng một lần nữa, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt lại được biểu lộ qua chiếc áo dài.
Áo Lemur ra đời vào năm 1930 lúc nhóm Tự Lực Văn Ãoàn cổ xúy cải cách xã hội, và được cổ động mạnh mẽ trên báo Phong Hóa, gây chấn động tại các đô thị, nhất là tại Hà Nội, nơi từng được mệnh danh là đất ngàn năm văn vật.
Áo Lemur cắt may hoàn toàn theo lối Tây phương nối vai ráp tay phồng, cổ bồng, cổ lá sen, cổ nhún tai bèo hoặc táo bạo hơn được khoét rộng để hở cổ. Vạt áo không nối sống nữa vì hàng vải mới sản xuất hoặc nhập cảng từ Pháp có khổ rộng hơn hàng nội hóa thời đó, nhưng vẫn giữ nguyên hai tà dài với gấu áo viền tròn nên tà áo không được mềm mại, được các cô tân thời dùng khăn â€san†bằng â€voan†mỏng quấn lơi quanh cổ để níu kéo nét dịu dàng yểu điệu. Áo mặc với quần dài trắng, chân mang giày cao gót, vai đeo bóp đầm, che dù tránh nắng. Phụ nữ thời đại cải cách này không nhuộm răng đen nữa mà để trắng, tóc vấn trần hoặc búi lỏng, rẽ ngôi lệch.
Tại Sài Gòn vào năm 1934, trong truyện dài bằng thơ Lời Tâm Sự của Thuần Phong đăng trên tạp chí Cùng Bạn, cũng có một bài thơ giễu nhẹ các cô tân thời:
Một yêu mặt trắng má tròn
Hai yêu môi mọng thoa son điểm hồng
Ba yêu mắt sáng mày cong
Bốn yêu mái tóc nực nồng nước hoa
Năm yêu mảnh áo ngắn tà
Sáu yêu quần trắng là đà gót sen
Bảy yêu vóc liễu dịu mềm
Tám yêu giọng nói vừa hiền vừa vui
Chín yêu học thức hơn người
Mười yêu, yêu cả đức tài hình dong!
Những hình ảnh lố lăng quá trớn của một số phụ nữ chạy đua theo thời trang và kiểu áo Lemur mới mẻ đã được Vũ Trọng Phụng mô tả tỉ mỉ trong tác phẩm trào lộng thời đại Số Ãỏ. Một số các bà thủ cựu đã không ngần ngại tẩy chay kiểu áo quá tân thời này, thậm chí có bà đã xé toang vạt áo Lemur khi gặp một cô ăn mặc táo bạo trên đường phố Hà Nội.
Bốn năm sau khi áo Lemur xuất hiện và chết yểu, vào năm 1934, họa sĩ Lê Phổ đã cải tiến Lemur, loại bỏ những đường nét Tây phương táo bạo để dung hòa với kiểu áo ngũ thân cũ, không nối vai nối tay, không tay phồng cổ hở mà vẫn cổ kín vạt dài không viền tròn nhưng ôm sát thân người để hai tà áo mềm mại tự do bay lượn.
Chiếc áo dài canh tân này được hoan nghênh nhiệt liệt trong Hội Chợ Nữ Công Ãà Nẵng năm 1934 với gian hàng phụ nữ có các bà các cô đứng bán mứt bánh và đồ thêu đan, đoan trang hiền thục dịu dàng với áo mầu quần trắng tóc búi lỏng hoặc vấn trần hay vấn khăn nhung. Tới đây, chiếc áo dài dung hòa được mới với cũ để tôn vinh những nét đẹp của người nữ và tìm được nhân dáng chính xác, để đứng vững từ đó cho đến bây giờ.
Suốt cả ba thập niên sau đó, chiếc áo dài không có nhiều thay đổi lớn ngoại trừ cổ áo khi cao lúc thấp, khi vuông lúc tròn, khi kín lúc hở; chiều dài cũng lên xuống khi mini lúc maxi; gấu áo cũng khi lớn lúc nhỏ; vòng eo có khi rộng lúc thắt chặt. Chiếc quần cũng thay đổi từ kiểu cẳng què qua đáy giữa, lưng từ to bản luồn giải rút đổi sang lưng nhỏ luồn dây thun rồi đổi gài nút, và sau cùng là khóa kéo kiểu Tây phương; trong khi ống quần cũng theo thời khi chân voi lúc ống túm.
Cho đến cuối thập niên 50, áo dài Việt Nam theo dòng lịch sử thay đổi từ chế độ Quân chủ sang chế độ Cộng Hòa với một nhân vật nữ: Bà Ngô Ãình Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân, phu nhân bào đệ cố Tổng Thống Ngô Ãình Diệm. Ngày 6 tháng 12 năm 1958, trong dịp khai mạc Triển Lãm Nữ Công tại Cô Nhi Viện Nữ Vương Hòa Bình ở Sài Gòn, bà Nhu xuất hiện với kiểu áo dài không cổ tay ngắn mang bao tay trắng, tóc bới cao. Một số các bà các cô trong Hội Phụ Nữ Liên Ãới vội vàng may mặc theo kiểu mới hở cổ: Cổ thuyền, cổ vuông, cổ tròn, cổ trái tim...
Nhưng bà Nhu lộng quyền thao túng nền Ãệ Nhất Cộng Hòa và gây bất mãn khắp nơi. Nhiều vụ xuống đường, tuyệt thực, tự thiêu đã xẩy ra để bầy tỏ chống đối. Chiếc áo dài cũng tham gia cuộc chống đối nhưng thầm lặng hơn, với kiểu áo dài cổ cao tận cằm đối lập kiểu áo không cổ. Sau đó, áo không cổ của bà Nhu cũng theo bà qua Tây nấp trong bóng tối mà mai một.
Ãầu thập niên 60, nhà may Dung Dakao ở Sài Gòn tung một kiểu mới: Áo dài tay Raglan mặc với quần xéo ống rộng. Kiểu áo cập nhật này giúp xóa bớt những đường nhăn hai bên nách và vai vì được ráp tay xéo vai, nên thân hình người nữ được ôm gọn trong hàng lụa một cách đầy thẩm mỹ.
Thuở đó, giới nữ sinh thích mặc ngắn gọn nên có kiểu mini raglan tay ngắn vạt nhỏ và tà áo chỉ dài tới gối, trong khi các bà thích kiểu maxi raglan tha thướt nhu mì hơn. Chiếc quần xéo may bằng hàng mềm xếp xéo góc khi cắt, ôm sát hông nhưng hai ống lòa xòa mà mỗi bước đi thấp thoáng thấy mũi giầy ẩn hiện dưới sóng lụa. Nhiều người còn cầu kỳ hơn, may quần xéo bằng hàng mỏng hai lớp trông thật yểu điệu.
Sau đó, một vài nhà may ở Sài Gòn tung kiểu áo ba tà gồm thân sau nguyên một vạt nhưng thân trước chia làm hai như kiểu áo tứ thân xưa, gài nút từ cổ xuống ngực rồi tới bụng thì để thả mặc với quần tây kiểu chân voi để cập nhật với thời trang Âu Mỹ đang có kiểu quần â€bell bottomâ€.
Cuối thập niên 60, nhiều bà đưa ra một â€mốt†hay hay là mặc nguyên một bộ áo dài và quần mầu phấn tiên, may bằng tơ lụa nội hóa trông rất dịu dàng khả ái. Một số ca sĩ lên sân khấu lại mặc nguyên bộ mầu sắc đỏ chói hay xanh ngắt viền kim tuyến sặc sỡ.
Từ kiểu Raglan có nhiều kiểu biến chế lạ mắt: Thân áo may bằng hàng dày, nhưng phía ngực và tay ráp bằng hàng ren hoặc hàng mỏng; hoặc thân áo khác mầu với hai tay, có khi là hai mầu tương phản như đen trắng, hoặc đậm nhạt, và có khi may bằng hàng rất mỏng nên phải dùng hai hoặc ba lớp, ý hẳn nhắc nhở đến ngày xưa các cụ mặc áo mớ ba mớ bảy để phô trương sự giàu có của mình.
Nữ sinh Việt Nam trước 75 đến trường đều thường là â€áo trắng học tròâ€, nhưng thứ hai chào cờ phải mặc đồng phục: Áo trắng nữ sinh Ãồng Khánh Huế, áo lam Hà Nội, áo xanh da trời Trưng Vương, áo hồng Gia Long... những mầu áo thơ mộng đã một thời lên hương qua thơ nhạc.
Một điều ghi nhận là sau khi không còn thể chế quân chủ, kể từ thời Ãệ nhất Cộng hòa (tháng 7 1954), hầu hết các cô dâu đều mặc quốc phục áo dài có khoác ngoài một áo thụng rộng may theo kiểu áo mệnh phụ hoặc áo hoàng hậu, và đội khăn vành xanh hoặc vàng. Ý hẳn đó là ngày nàng trở thành một bậc mệnh phụ và bước lên ngôi hoàng hậu trong cuộc đời của chàng vậy.
Từ cuối thập niên 60, nhà may Thanh Khánh ở Dakao đưa ra những mẫu hàng thêu hoa lá cành để may áo dài, và tiệm Saigon Souvenirs khu Thương xá Tax Sài Gòn đưa ra những mẫu hàng vừa vẽ vừa thêu trên lụa rất quý phái lịch sự. Ba nhà may nổi tiếng tại Sài Gòn trước 75 là nhà may Thanh Khánh nay mở tại Paris, Pháp nhà may Dung Dakao và nhà may Thiết Lập Pasteur nay mở tại đường Brookhurst, Garden Grove, California, Hoa Kỳ.
Như trên đã nói, chiếc áo dài Việt Nam có số phận gắn liền với lịch sử dân tộc. Khi Cộng sản xâm chiếm miền Nam vào cuối tháng Tư, 1975, chiếc áo dài cũng theo những bước chân di tản lưu vong ra ngoại quốc, trong khi chính sách đàn áp và nền kinh tế kiệt quệ trong nước đã đẩy lui chiếc áo dài vào bóng tối hoặc chôn kín trong đáy tủ và chỉ được đưa ra ánh sáng trong dịp cưới hỏi lễ lạc.
Trên bước đường lưu vong, bất cứ ở Mỹ, Phi, Âu, hay Á, chiếc áo dài được nâng niu bảo trọng hơn bao giờ. Ở đâu có người Việt tỵ nạn là ở đó có áo dài, áo lụa, áo nhung, áo tơ, áo gấm, áo vải, áo thêu, áo vẽ... kể cá áo gấm lam, áo thụng khăn đóng của quý vị tu mi nam tử. Phẩm chất, mầu sắc cũng như những hình tượng trên áo được hòa hợp với trình độ thẩm mỹ khá cao.
Trong số những nhà sáng chế kiểu áo, phải kể đến Thành Lễ Hoàng Ãình Tuyên ở Paris với những kiểu hoàn toàn mới lạ và táo bạo như áo dài hở ngực hở cổ, áo dài không có tay hoặc chỉ có một tay kiểu... độc thủ nữ hiệp, áo dài cũn cỡn ngắn trên đầu gối kiểu... lính thú đời xưa, áo dài năm lớp hàng mầu v.v... Ãặc biệt các kiểu áo dài mới của Thành Lễ đều mặc với quần cùng màu hoặc màu tương phản để tạo sự bắt mắt. Rất may, đa số các kiểu mới này đều còn giữ nguyên hai tà áo bất khuất bay lượn, nét đặc biệt của áo dài Việt Nam.
Hiện nay phong trào áo vẽ và nhuộm mầu đang lấn át những mẫu áo thêu loan phượng giao long, cúc trúc lan mai và cảnh trí thời xưa, đồng thời với sự tái xuất kiểu áo Lemur tay phồng nối vai.
Nhiều họa sĩ nổi danh tung ra vô số mẫu vẽ trên lụa: Thành Lễ Hoàng Ãình Tuyên, Thúy Uyển, Nhung ở Paris, Tiểu Linh, Frederic Thọ ở Cali, Anh Ãào, Kim Liệu ở Virginia... Người viết bài này vì yêu áo dài Việt Nam nên cũng mượn mầu sắc ghi lại những hình ảnh quê hương qua hoa lá cành mây nước trăng sao trên lụa, để mong phổ biến những vẻ đẹp của quê hương thể hiện qua tà áo, đóng góp phần nào vào việc gìn vàng giữ ngọc.
Những chiếc áo dài Việt Nam dù với mầu sắc đậm chói hay dịu mát, may bằng hàng vải thô sơ hay tơ gấm lụa là, vạt áo có ngắn cũn hay dài thượt, thân áo có nhỏ hẹp hay rộng rãi, cổ áo có kín cổng cao tường hay hở hang lộ liễu... vẫn là một kết hợp của chân thiện mỹ.
Áo dài Việt Nam không những nói lên nhân sinh quan Việt Nam mà còn gói trọn tinh thần Việt Nam: Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng chỉ tiếp nhận tinh hoa mà gạn lọc cặn bã, tô bồi thêm nét đẹp mà vẫn giữ cá tính độc lập.
Áo dài Việt Nam là niềm kiêu hãnh của người Việt Nam. Chính vì vậy mà người Việt vẫn yêu quý tà áo Việt, nhất là thế hệ trẻ lưu vong trong sứ mạng gìn vàng giữ ngọc.
Edited by: Ngoi_Sao_Nho
__________________
Mộng không thật nên đời là Ảo ảnh...
Ngôi_Sao_Nhỏ
Chỉnh sửa lần cuối bởi hoangvu ngày 29-10-2009 lúc 10:49 AM. Lý do: Bổ sung Tác giả và nguồn
Reply With Quote
Ngoi_Sao_Nho
Xem Hồ Sơ
Gởi Thư riêng đến Ngoi_Sao_Nho
Tìm thêm bài viết khác của Ngoi_Sao_Nho
View Blog
Old 26-04-2006, 05:33 PM #2
hoangvu's Avatar
hoangvu
Administrator
Top
Join Date: Oct 2003
United States
Đã Cảm ơn: 2,185
Được cảm ơn: 1,516 lần/984 bài
Blog Entries: 15
6,048 posts
Status:hoangvu is offline
hoangvu is on a distinguished road
Tweet this Post!
Default
Áo dài Việt Nam
Trên lòng chiếc cầu trắng sáu vài mười hai nhịp rực sáng ánh đèn, như vẫn còn đó hình ảnh một đêm nao - hằng trăm thiếu nữ của xứ sông trăng, xúng xính trong từng chiếc áo được gọi là áo dài… cách điệu và biến tấu.
Không hiểu do chợt dưng được chọn - hay bởi thứ trang phục, tuy „không xa nhưng chưa thật gần“ được mang ra trình diễn - mà những người mẫu nghiệp dư(1)lại nối bước nhau trong vẻ ủ dột và sừng sững ?
Nếu hiểu thời trang là một loại hình văn hóa, thì chiếc áo dài - liệu có thực sự cần tiếp tục kinh qua một quá trình biến tấu hoặc cách điệu triền miên như thời gian gần đây, mới đủ để vinh danh là „chiếc áo dài truyền thống“ ?
Non một thế kỷ định hình và qua nhiều thế hệ những bàn tay hoa, chiếc áo dài mới đạt đến một chuẩn mực tối ưu như ngày nay trong nghệ thuật tạo dáng(2). Không chỉ giúp tăng sức quyến rũ cho từng đường nét, chiếc áo còn khéo làm phai nhạt đi ít nhiều nhược điểm, nếu có - về mặt thể hình của người phụ nữ, do tạo hóa lắm lúc cũng không tránh khỏi xao xuyến nên trót lơ đãng trong khâu tạo nắn.
Ai đó chẳng đã từng than phiền - phụ nữ là một „sản phẩm lầm lỗi“ của thượng đế. Vậy ngẫu nhiên chăng, chiếc áo với hai tà mỏng manh ra đời là để biến một lỗi lầm trở nên đáng yêu, bởi đã khéo hài hòa cái chất trữ tình Eva nguyên thủy, nẩy sinh từ yêu cầu hiện thực song „bất khả“ của cuộc sống. Từ đấy, luôn đi kèm với loại quần hai ống - dài và rộng, giập chéo vào nhau(3)cũng bằng chất liệu vải mềm - chiếc áo tự bao giờ đã thoát rời cái kén thời trang xa xỉ để trở thành một sản phẩm quốc hồn quốc túy.
Một làn gió thoang thoảng, một chút nắng phai phai - bấy nhiêu đủ khiến hai tà bay lượn, vừa phong kín ấp-e vừa khơi gợi khép mở. Chiếc áo chẳng đã thừa sức xô giạt trời mây, lùa nghìn tâm sự len vào ký ức làm ngơ ngẩn lòng mỗi chúng ta trong những chiều xưa ấy ?
Chiếc áo còn khá kén chọn đối tượng trao gởi nên với dáng vóc thon thả, phụ nữ Việt Nam chừng như là khách hàng tối thượng, chủ nhân độc quyền của thứ trang phục rất riêng của dân tộc mình. Sự độc quyền vô hình chung đã nhân hóa chiếc áo truyền thống thành một thứ biểu tượng gọi hồn, đánh thức bao nỗi khát khao hướng về ở những ai hơn một lần mãi ngắm. Chiếc áo tự thân luôn ủ ấp một nỗi niềm : gợi nhắc vô vàn kỷ niệm, hoài cảm một hình bóng cũng như lưu luyến một quê nhà…
Đã thế màu sắc và chất liệu vải áo còn có tính năng định vị nhân cách, phản ánh tiết trời cùng lúc gởi trao nhiều sứ mệnh. Vâng, một thỏa ước không trói buộc - nhưng nếu thiếu sự cân nhắc, trong chọn lựa chất liệu và màu áo hay chọn lựa bất tuân yếu tố dung hợp với quan hệ tiếp xúc, nơi đến nơi đi… ắt sẽ nẩy sinh từng mối nghi hoặc qua ánh mắt của mọi người. Liệu có thể khoác chiếc áo dài hoa rực rỡ trên đường đến viếng cố nhân ở chốn thâm sơn cùng cốc hoặc thổn thức tiễn đưa …người đi, ừ nhỉ người đi thật… trong thứ gấm vóc bội phần lộng lẫy giữa mùa đông buốt giá ?
Và có gì đến phải ngạc nhiên, giữa lòng một thành phố hồng nắng phương Nam „người“ đi mà chợt mát… nếu không vì áo lụa của ai kia ?
Nói cách khác, chiếc áo mỗi khi được lồng vào một „không-gian THƠ“ hay „khung cảnh LỄ“ sẽ có dịp phát huy hết được tác dụng tiềm ẩn của nó. Một sự đồng hóa hiển nhiên giữa màu áo với khung cảnh, với thời gian và sự rung động đầy tình :
Có phải em về, mang theo… tà áo trắng
Để khỏi phai màu như em nói chăng em ! (4)
Giá trị của chiếc áo vì thế, đâu chỉ giới hạn trong sự thăng hoa vẻ đẹp ngoại hình ?
Ngoài tác dụng hoàn thiện một dáng dấp, tái tạo niềm tin cho những mảnh đời trót nhỡ, chiếc áo còn có mảnh lực trấn an từng thân phận hồng nhan mà bến bờ yêu đương ngỡ đã vưột xa tầm với. Thướt tha khoác chiếc áo vào, thì dẫu – „ngãi đắng, gừng cay hay muối mặn gầy hao, da diết…“ vẫn là em ! Chiếc áo dễ mang đến cho người mặc thứ cảm giác như đã „hư vô hóa“ mọi nỗi truân chiên có thực, nhằm bắt nhịp ung dung để tồn tại cùng với cuộc sống quanh mình.
Đấy có là yếu tố hướng thượng đã lặng lẽ nâng chiếc áo lên tầm „một thứ xiêm y mầu nhiệm“ có một không hai trên cõi đời này ?
Tuổi mới lớn nào không cảm nhận có sự chuyển hóa bất ngờ, khi ướm thử lần đầu chiếc áo : nói năng từ tốn, đi đứng khoan thai, vui đùa chừng mực… Riêng với những ai đã qua rồi cái ngưỡng của tuổi đôi mươi hay duyên phận trót thắm ở phương trời đâu đó - nếu vẫn mơ, hẳn mơ một ngày về cố xứ ngập ngừng khoác lại chiếc áo ngày xưa. Chỉ bấy nhiêu thôi, bằng như tự mình đánh thức tận cuối trời Quên cả một quãng đời thanh xuân tươi đẹp !
Song giờ đây với những nhát kéo ngẫu hứng cùng năm bảy sự chắp „giàu sự đầu tư chạy theo thị hiếu“ hơn là giữ lại bản sắc và tôn trọng tính mực thước của phong tục tập quán. Chiếc áo chợt dưng biến dạng - lúc bất cập khi thái quá - không nặng về hình thức phẩm phục cung đình thì cũng hở hang dung tục(5). Vô tình, chúng ta đã đánh đồng tính truyền thống với xu hướng thời thượng : liệu chiếc áo dài truyền thống Việt Nam sẽ còn giữ được sức thu hút, đắm chìm và chiêm ngưỡng ?
Phá vỡ những gì vốn thuộc về truyền thống là điều không dễ ai muốn hay muốn mà được. Cách điệu một sản phẩm cũng thế, đâu chỉ đơn thuần thay đổi hay lai hóa mẫu mã mà phải thay đổi thế nào, có bảo lưu truyền thống, nhắm tới sự thiện mỹ hay ích dụng. Bằng không, giá trị của sự cách điệu sẽ chẳng hơn kém gì một chuỗi thao tác vô hồn, đánh mất tính trang trọng và thuyết phục.
Đành rằng, không thể phủ nhận tính tích cực của các nghệ nhân trong quá trình đa dạng hóa kiểu dáng cho chiếc áo. Tuy nhiên, cần phải rạch ròi giữa hành vi tiếp thị mẫu mã từng thứ thời trang của riêng mình (những nhà thiết kế) với việc sử dụng „chiếc áo dài truyền thống“ như một thương hiệu cầu chứng. Hạ thấp giá trị quốc hồn của một biểu tượng văn hóa vốn là sở hữu chung của cả dân tộc, liệu có được sự chấp nhận dễ dàng về phía đại chúng ?
Muộn màng quá chăng, tham vọng đáng yêu… „muốn nói cho thế giới biết“ của nhà tạo mẫu ?
Không, không những được nói đến - chiếc áo, tự lâu lắm rồi đã cầm chân và hóa đá biết bao du khách. Nay, mọi sự đánh giá đầy mỹ ý liệu có được nhân rộng - mỗi khi, hương đồng gió nội của thứ trang phục „giữ ngọc gìn vàng khép kín mi nhau“ của bao thời vang bóng - sau một chuỗi thử nghiệm biến tấu và cách điệu, đã… ít nhiều bay đi ?
Chú thích:
(1) những nữ sinh Huế .
(2) tiền thân chiếc áo dài bắt nguồn từ chiếc áo dài lãnh tương tự áo tứ thân, áo dài Le Mur (mẫu của họa sĩ Cát Tường,1930) nối vai ráp tay ôm sát thân, rồi áo dài tay raglan ráp xéo vai để tránh nếp nhăn khi mặc (đầu thập niên 60)
(3) giúp „khéo giấu“ khoảng cách giữa đôi chân (đặc biệt với phụ nữ đã làm mẹ) làm tăng phần đài các, trang trọng cho dáng đi.
(4) thơ Vương đưc Lệ
(5) tà áo cắt hoặc quá ngắn quá hẹp, vai áo phồng hoặc hở sát nách, cổ áo khoét sâu, hở toàn ngực và lưng trông khó bắt mắt gần như kiểu áo Trần thị Lệ Xuân, vốn đi ngược truyền thống và đã bị đào thải (khoảng thập niên 50).
Bài viết Nguyễn Văn Sa
Ngưởi đăng hoang vu
VÒNG TRÒN KHÔNG KHÉP KÍN
VÒNG TRÒN KHÔNG KHÉP KÍN
Sài Gòn những ngày mưa tầm tã. Cô gái vẫn một mình café. Chẳng thất tình hay buồn bã, đơn giản là thói quen.
Ban ngày quán vắng. Chỉ có vài vị khách trú mưa, tấp vào ôm tách trà nóng. Nhìn qua ô kính, phố thật bình yên.
Từ lúc bước vào quán, cô phát hiện anh loay hoay với mảng tường lem nhem màu. Bức tường không lớn nhưng là điểm nhấn. Cái vị trí khá lí tưởng nói lên điều đó. Anh mặc áo đen, quần lủng gối, tóc cột phía sau. Anh đổ mồ hôi trong cái không gian máy lạnh và trời mưa nặng hạt bên ngoài. Miệng lầm bầm gì đó. Hình như đang mất bình tĩnh với cái công việc tạm gọi là sáng tạo nghệ thuật.
Cô quẳng ống giấy và ba lô qua một bên, tiến đến gần anh.
Anh chẳng quan tâm những gì diễn ra xung quanh. Tay lăn một chất keo trắng đục lên tường, tay kia dán những mảnh giấy báo. Màu được pha loãng dội lên mảng tường trống. Anh còn làm một đống “tiểu xảo” khác mà dân “ngoại đạo” như cô không đoán nổi kết quả.
Anh dừng tay lại, nhưng không hề nhìn lên. Anh đang tìm một vật gì đó, giống như con mèo bị đội cái nón trên đầu, xoay mòng mòng.
- Em giúp được không?
- Tìm cây cọ số mười.
- Nó phía bên kia. Để em lấy cho.
Lần này thì anh nhìn lên, phát hiện ra điều gì đó.
Anh nhận lấy cây cọ và không quên lời cảm ơn. Cũng rất biết điều, đâu đến nỗi ngông quá.
Cô hỏi tiếp:
- Anh làm có một mình thôi sao?
- Chủ quán muốn thế. Họ muốn tác phẩm mang dấu ấn của riêng tôi.
Cô gái đủ hiểu đây là một nghệ sĩ tài danh hoặc là gã có nét riêng biệt mà chủ quán thích. Không thoải mái khi làm công việc này. Những người cá tính không bao giờ thích làm theo những yêu cầu của người khác. Họ có những tiêu chuẩn riêng, không giống ai. Điều đó làm họ nổi tiếng hoặc chìm nghỉm chẳng bao giờ ngóc đầu lên được.
- Này anh, đây sẽ là những cái gì?
Đó là bí ẩn khi tác phẩm chưa hoàn thành. Nó có thể làm “đau đầu” với những suy đoán.
- Tôi đang cố gắng tạo ra những marche lạ, làm bức phông cho phần chính bên trên.
- Anh sẽ vẽ bằng bút marker lên trên?
Anh tròn xoe mắt. Tất cả những gì anh định làm hình như đã bị đứa con gái đoán trúng. Anh lướt qua nơi phía cô gái ngồi.
- Em có con mắt biết nhìn đó. Rồi em sẽ thi đậu vào trường em đang luyện.
Đến lượt cô gái tròn xoe mắt:
- Sao anh biết em đang luyện thi mĩ thuật?
- Vì em biết được cây cọ số mười ở một vị trí xa - Và anh nhìn vào cái ống giấy - Chỉ có dân luyện thi mới mang ống giấy, nếu học đại học, chẳng qua chỉ là cái lũ năm nhất học kì một.
Cô gái hơi khó chịu khi gã “nghệ sĩ” có vẻ khinh thường những người mới học vẽ. Anh cũng đã từng như chúng tôi mà.
Anh nghỉ tay, đợi màu khô sẽ vẽ tiếp. Trời ngớt mưa. Anh ra ngoài ngồi chung với gã giữ xe. Nhìn anh đốt thuốc trông thật hao gầy.
Quán café càng hấp dẫn khi có tác phẩm của anh. Nó đẹp một cách hào nhoáng. Nhưng cô chẳng bao giờ thấy anh quay lại đây. Anh xuất hiện và biến mất như sao băng. Anh nói qua điện thoại:
- Tôi chỉ là một gã làm công. Tôi cần tiền, cần cho cái triển lãm sắp tới. Hiện tại tôi phải tập trung cho tác phẩm ấy.
Khó khăn lắm cô mới tiếp cận được cái xưởng vẽ của anh. Cô đã từng xem nhiều cuộc triển lãm tầm cỡ, tìm đến xưởng vẽ của những họa sĩ tên tuổi, thậm chí còn biết cách họ làm việc. Với gã họa sĩ trẻ như anh thì việc quan tâm là điều không cần thiết. Chỉ là ở anh, cô phát hiện nhiều điều thú vị. Đó là những ẩn số. Cô đặt hi vọng vào cái triển lãm sắp đặt gì đó, dẫu biết không phải chuyện của mình.
- Tôi không thích sự có mặt của người khác khi tôi đang làm việc.
- Em là một trường hợp ngoại lệ?
- Có lẽ vậy! Em không phải là những đứa luyện thi bình thường. Em sẽ thành công và nổi tiếng sau này!
- Nổi tiếng? Nổi tiếng thì được cái gì? Nó có cần cho cuộc sống hay chỉ đem lại phiền toái?
Anh phớt lờ và tiếp tục những nhát bay sơn dầu lên tấm toan, vội vã.
Xưởng vẽ của anh không đến nỗi quá bề bộn. Đó là một thế giới đầy nội tâm và cảm xúc.
- Anh không muốn nhận em làm học trò sao? Giọng cô nài nỉ.
- Không cần thiết em à! Tố chất trong em đủ mạnh mẽ khi làm điều gì đó. Anh cũng đã từng có một học trò, nhưng đó là điều tồi tệ nhất. Anh không phải là một người thầy.
Ngày nào đi học về cô cũng ghé vào cái xưởng vẽ nằm cuối phố. Anh ít khi ra ngoài. Anh sống bằng những trải nghiệm cảm xúc. Bạn trai của cô thì cười khẩy trước những điều ấy. Người theo kinh tế, chỉ biết tính toán với những con số và thực dụng trong cuộc sống, và nhất là chán ngấy cái vụ café một mình của cô. Nhưng dù sao anh ta rất tốt với cô. Quan tâm quá mức làm cô mệt mỏi.
Còn anh sẽ nghĩ gì, coi cô là con bé chập chững làm nghệ thuật và rất có triển vọng? Cô sẽ chẳng bao giờ nhận ra rằng vì cô mà anh phá vỡ những điều lệ riêng. Chỉ vì câu nói “trông anh thật hao gầy khi đốt thuốc” đã làm anh dằn vặt suy nghĩ. Khi đốt một điếu thuốc, nghĩ đến cô là miệng anh đắng ngắt. Anh phá luôn cái mặc định không muốn sự có mặt của người khác trong xưởng vẽ. Sự xuất hiện của cô làm cái cảm giác cô đơn trong căn phòng xâm chiếm trong anh bao năm nay dường như đang dần gỡ bỏ. Cô dọn dẹp lau chùi những vết sơn lem anh cũng chẳng có ý kiến. Nếu là người khác, anh đã phản ứng, thậm chí đuổi họ ra ngoài. Và một điều quan trọng nữa là cô dám nhận xét rất thẳng thắn về những bức tranh của anh, dẫu anh sẽ chẳng thay đổi những gì mình tạo ra. Nhưng những lời nhận xét có vẻ mơ hồ lại làm anh phải trăn trở.
Bạn trai của cô tìm đến xưởng, nói: “Vui vẻ gì với những người chỉ biết vẽ phụ nữ không mặc đồ”, giọng điệu gã rất hậm hực. Anh im lặng cắn răng nhưng khi gã bạn trai nói cô “hư hỏng” thì anh là người cho tên có máu ghen ấy một đòn chí mạng vào mặt. Cô và bạn trai chia tay nhau. Anh là người làm chỗ dựa cho cô. Và theo lời cô nói, anh chính là “tấm khăn lau nước mắt” của mình.
Anh kể về cái triển lãm nghệ thuật sắp đặt. Một triển lãm tầm cỡ và sẽ tổ chức thật hoành tráng trong một gallery lớn. Chủ đề là “Vòng tròn”. Không đặt nặng chất liệu hay hình thức thể hiện, chỉ cần nói được những gì muốn nói.
”Vòng tròn” là câu chuyện xuyên suốt hành trình của một người tìm kiếm tình yêu. Vòng tròn khép kín và nhân vật có tìm được người mình yêu hay không. Đó là ý tưởng và cũng là anh đang đi tìm câu trả lời cho mình.
Từ tinh mơ lẫn khi phố lên đèn, hai cái bóng miệt mài với hàng đống đồ. Cô quên luôn cả việc luyện thi vẽ của mình.
Gallery sẽ như một mê cung. Để thưởng thức triển lãm người xem sẽ đi qua các điểm dừng. Mỗi nơi sẽ có bất ngờ thú vị khác nhau. Anh tin tưởng triển lãm sẽ thành công.
Anh và cô có mặt ở gallery kiểm tra lại những công đoạn cuối cùng cho triển lãm tối nay. Tất cả đều như dự kiến. Anh chợt phát hiện ở điểm dừng cuối cùng có một bông hồng nằm trong những chiếc bình thủy tinh. Thoáng giật mình, rõ ràng đây không nằm trong kịch bản triển lãm của anh. Sự xuất hiện của bông hồng ấy có thể hoàn toàn đi ngược với cái ý tưởng và hiệu quả. Anh muốn “Vòng tròn” của mình sẽ khép kín, sự xuất hiện của bông hồng sẽ làm cho vòng tròn chạy hoài không có điểm dừng.
Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa là khai mạc. Không đủ thời gian cho bất kì sự thay đổi nào. Anh kéo cô ra phía sau.
- Sao em làm thế? Em có biết hậu quả sẽ ra sao không?
- Em chỉ muốn có một điểm nhấn trong tác phẩm. Em không muốn tất cả tình yêu nằm trong vòng luẩn quẩn bế tắc.
- Cuộc đời là một vòng tròn. Nó sẽ phải đi qua các điểm A, B, C... cho đến khi gặp điểm Z để vòng tròn khép kín. Đó là những trải nghiệm về đời. Và sự lựa chọn dường như tuyệt đối.
- Có khi anh chẳng bao giờ đến được điểm Z. Hoặc đã đi qua mà không nhận ra. Và sự dừng chân của anh, có phải là những lựa chọn tối ưu khi mà anh đang cố gắng quên đi chặng đường của mình. Chặng đường mơ hồ không đường thẳng. Anh có bao giờ nhìn lại những gì đã qua, hay chỉ nuối tiếc, hay chỉ thanh thản với thời gian...?
- Nhưng em đã không hề nói trước với anh về sự thay đổi.
- Nghệ thuật phải là những gì tạo ra mang ý nghĩa nào đó, chứ không phải theo những áp đặt để tác phẩm hoành tráng.
- Em còn giảng dạy nghệ thuật với anh à? Anh không muốn sự xuất hiện của em trong triển lãm này nữa.
Mắt cô đỏ ngầu, nếu có giọt nước mắt nào rơi xuống chắc nóng bỏng tan chảy cả gò má.
* * *
Mọi người đều đánh giá cao triển lãm, nhất là sự xuất hiện của bông hồng. Nó buộc người xem dừng lại rất lâu để suy ngẫm và tìm câu trả lời cho riêng mình. Sau đó ai cũng ồ lên thích thú. Anh cũng rất bất ngờ về điều ấy. Anh chợt nghĩ đến cô. Cô đang ở đâu?
Điện thoại không liên lạc được. Anh vội vã bỏ đi khi triển lãm mới khai mạc vài giờ đồng hồ. Cánh báo chí vẫn đang tìm cách tiếp cận để tác nghiệp.
Lòng vòng thành phố, anh chợt nhớ đến nơi đã gặp cô lần đầu tiên. Cô ngồi một mình, co ro. Anh xuất hiện và nắm lấy tay cô.
- Anh đã hiểu ra tất cả rồi. Anh xin lỗi và muốn nói lời cảm ơn em!
Cô gái khẽ cúi đầu.
- Mỗi lần đến đây một mình và thấy tác phẩm của anh đã bị thay bằng một tác phẩm khác, em suy nghĩ rất nhiều. Em phải làm một cái gì đó. Mà anh thì rất gàn. Em biết anh chẳng bao giờ nghe những lời góp ý.
Anh nhìn về phía mảng tường lần trước anh vẽ. Chủ quán phải trả món tiền không nhỏ để có được tác phẩm ấy. Nhưng đó chỉ là vẻ hào nhoáng bên ngoài, dễ cuốn hút nhưng dễ bị cuốn trôi.
- Anh có biết vì sao lại có hình ảnh hoa hồng không?
- Anh đủ chín chắn để hiểu ra mà! Hãy đi với anh!
- Đi đâu?
- Đâu cũng được! Anh sẽ kéo em ra khỏi cái cô đơn café một mình. Đồng ý chứ?
Cô khẽ nhoẻn miệng. Không đợi lâu, anh kéo tay cô gái, đi.
...Nghệ thuật phải là những gì tạo ra ý nghĩa nào đó, chứ không phải theo những áp đặt để tác phẩm hoành tráng...
ĐINH MINH TOẢN
Sài Gòn những ngày mưa tầm tã. Cô gái vẫn một mình café. Chẳng thất tình hay buồn bã, đơn giản là thói quen.
Ban ngày quán vắng. Chỉ có vài vị khách trú mưa, tấp vào ôm tách trà nóng. Nhìn qua ô kính, phố thật bình yên.
Từ lúc bước vào quán, cô phát hiện anh loay hoay với mảng tường lem nhem màu. Bức tường không lớn nhưng là điểm nhấn. Cái vị trí khá lí tưởng nói lên điều đó. Anh mặc áo đen, quần lủng gối, tóc cột phía sau. Anh đổ mồ hôi trong cái không gian máy lạnh và trời mưa nặng hạt bên ngoài. Miệng lầm bầm gì đó. Hình như đang mất bình tĩnh với cái công việc tạm gọi là sáng tạo nghệ thuật.
Cô quẳng ống giấy và ba lô qua một bên, tiến đến gần anh.
Anh chẳng quan tâm những gì diễn ra xung quanh. Tay lăn một chất keo trắng đục lên tường, tay kia dán những mảnh giấy báo. Màu được pha loãng dội lên mảng tường trống. Anh còn làm một đống “tiểu xảo” khác mà dân “ngoại đạo” như cô không đoán nổi kết quả.
Anh dừng tay lại, nhưng không hề nhìn lên. Anh đang tìm một vật gì đó, giống như con mèo bị đội cái nón trên đầu, xoay mòng mòng.
- Em giúp được không?
- Tìm cây cọ số mười.
- Nó phía bên kia. Để em lấy cho.
Lần này thì anh nhìn lên, phát hiện ra điều gì đó.
Anh nhận lấy cây cọ và không quên lời cảm ơn. Cũng rất biết điều, đâu đến nỗi ngông quá.
Cô hỏi tiếp:
- Anh làm có một mình thôi sao?
- Chủ quán muốn thế. Họ muốn tác phẩm mang dấu ấn của riêng tôi.
Cô gái đủ hiểu đây là một nghệ sĩ tài danh hoặc là gã có nét riêng biệt mà chủ quán thích. Không thoải mái khi làm công việc này. Những người cá tính không bao giờ thích làm theo những yêu cầu của người khác. Họ có những tiêu chuẩn riêng, không giống ai. Điều đó làm họ nổi tiếng hoặc chìm nghỉm chẳng bao giờ ngóc đầu lên được.
- Này anh, đây sẽ là những cái gì?
Đó là bí ẩn khi tác phẩm chưa hoàn thành. Nó có thể làm “đau đầu” với những suy đoán.
- Tôi đang cố gắng tạo ra những marche lạ, làm bức phông cho phần chính bên trên.
- Anh sẽ vẽ bằng bút marker lên trên?
Anh tròn xoe mắt. Tất cả những gì anh định làm hình như đã bị đứa con gái đoán trúng. Anh lướt qua nơi phía cô gái ngồi.
- Em có con mắt biết nhìn đó. Rồi em sẽ thi đậu vào trường em đang luyện.
Đến lượt cô gái tròn xoe mắt:
- Sao anh biết em đang luyện thi mĩ thuật?
- Vì em biết được cây cọ số mười ở một vị trí xa - Và anh nhìn vào cái ống giấy - Chỉ có dân luyện thi mới mang ống giấy, nếu học đại học, chẳng qua chỉ là cái lũ năm nhất học kì một.
Cô gái hơi khó chịu khi gã “nghệ sĩ” có vẻ khinh thường những người mới học vẽ. Anh cũng đã từng như chúng tôi mà.
Anh nghỉ tay, đợi màu khô sẽ vẽ tiếp. Trời ngớt mưa. Anh ra ngoài ngồi chung với gã giữ xe. Nhìn anh đốt thuốc trông thật hao gầy.
Quán café càng hấp dẫn khi có tác phẩm của anh. Nó đẹp một cách hào nhoáng. Nhưng cô chẳng bao giờ thấy anh quay lại đây. Anh xuất hiện và biến mất như sao băng. Anh nói qua điện thoại:
- Tôi chỉ là một gã làm công. Tôi cần tiền, cần cho cái triển lãm sắp tới. Hiện tại tôi phải tập trung cho tác phẩm ấy.
Khó khăn lắm cô mới tiếp cận được cái xưởng vẽ của anh. Cô đã từng xem nhiều cuộc triển lãm tầm cỡ, tìm đến xưởng vẽ của những họa sĩ tên tuổi, thậm chí còn biết cách họ làm việc. Với gã họa sĩ trẻ như anh thì việc quan tâm là điều không cần thiết. Chỉ là ở anh, cô phát hiện nhiều điều thú vị. Đó là những ẩn số. Cô đặt hi vọng vào cái triển lãm sắp đặt gì đó, dẫu biết không phải chuyện của mình.
- Tôi không thích sự có mặt của người khác khi tôi đang làm việc.
- Em là một trường hợp ngoại lệ?
- Có lẽ vậy! Em không phải là những đứa luyện thi bình thường. Em sẽ thành công và nổi tiếng sau này!
- Nổi tiếng? Nổi tiếng thì được cái gì? Nó có cần cho cuộc sống hay chỉ đem lại phiền toái?
Anh phớt lờ và tiếp tục những nhát bay sơn dầu lên tấm toan, vội vã.
Xưởng vẽ của anh không đến nỗi quá bề bộn. Đó là một thế giới đầy nội tâm và cảm xúc.
- Anh không muốn nhận em làm học trò sao? Giọng cô nài nỉ.
- Không cần thiết em à! Tố chất trong em đủ mạnh mẽ khi làm điều gì đó. Anh cũng đã từng có một học trò, nhưng đó là điều tồi tệ nhất. Anh không phải là một người thầy.
Ngày nào đi học về cô cũng ghé vào cái xưởng vẽ nằm cuối phố. Anh ít khi ra ngoài. Anh sống bằng những trải nghiệm cảm xúc. Bạn trai của cô thì cười khẩy trước những điều ấy. Người theo kinh tế, chỉ biết tính toán với những con số và thực dụng trong cuộc sống, và nhất là chán ngấy cái vụ café một mình của cô. Nhưng dù sao anh ta rất tốt với cô. Quan tâm quá mức làm cô mệt mỏi.
Còn anh sẽ nghĩ gì, coi cô là con bé chập chững làm nghệ thuật và rất có triển vọng? Cô sẽ chẳng bao giờ nhận ra rằng vì cô mà anh phá vỡ những điều lệ riêng. Chỉ vì câu nói “trông anh thật hao gầy khi đốt thuốc” đã làm anh dằn vặt suy nghĩ. Khi đốt một điếu thuốc, nghĩ đến cô là miệng anh đắng ngắt. Anh phá luôn cái mặc định không muốn sự có mặt của người khác trong xưởng vẽ. Sự xuất hiện của cô làm cái cảm giác cô đơn trong căn phòng xâm chiếm trong anh bao năm nay dường như đang dần gỡ bỏ. Cô dọn dẹp lau chùi những vết sơn lem anh cũng chẳng có ý kiến. Nếu là người khác, anh đã phản ứng, thậm chí đuổi họ ra ngoài. Và một điều quan trọng nữa là cô dám nhận xét rất thẳng thắn về những bức tranh của anh, dẫu anh sẽ chẳng thay đổi những gì mình tạo ra. Nhưng những lời nhận xét có vẻ mơ hồ lại làm anh phải trăn trở.
Bạn trai của cô tìm đến xưởng, nói: “Vui vẻ gì với những người chỉ biết vẽ phụ nữ không mặc đồ”, giọng điệu gã rất hậm hực. Anh im lặng cắn răng nhưng khi gã bạn trai nói cô “hư hỏng” thì anh là người cho tên có máu ghen ấy một đòn chí mạng vào mặt. Cô và bạn trai chia tay nhau. Anh là người làm chỗ dựa cho cô. Và theo lời cô nói, anh chính là “tấm khăn lau nước mắt” của mình.
Anh kể về cái triển lãm nghệ thuật sắp đặt. Một triển lãm tầm cỡ và sẽ tổ chức thật hoành tráng trong một gallery lớn. Chủ đề là “Vòng tròn”. Không đặt nặng chất liệu hay hình thức thể hiện, chỉ cần nói được những gì muốn nói.
”Vòng tròn” là câu chuyện xuyên suốt hành trình của một người tìm kiếm tình yêu. Vòng tròn khép kín và nhân vật có tìm được người mình yêu hay không. Đó là ý tưởng và cũng là anh đang đi tìm câu trả lời cho mình.
Từ tinh mơ lẫn khi phố lên đèn, hai cái bóng miệt mài với hàng đống đồ. Cô quên luôn cả việc luyện thi vẽ của mình.
Gallery sẽ như một mê cung. Để thưởng thức triển lãm người xem sẽ đi qua các điểm dừng. Mỗi nơi sẽ có bất ngờ thú vị khác nhau. Anh tin tưởng triển lãm sẽ thành công.
Anh và cô có mặt ở gallery kiểm tra lại những công đoạn cuối cùng cho triển lãm tối nay. Tất cả đều như dự kiến. Anh chợt phát hiện ở điểm dừng cuối cùng có một bông hồng nằm trong những chiếc bình thủy tinh. Thoáng giật mình, rõ ràng đây không nằm trong kịch bản triển lãm của anh. Sự xuất hiện của bông hồng ấy có thể hoàn toàn đi ngược với cái ý tưởng và hiệu quả. Anh muốn “Vòng tròn” của mình sẽ khép kín, sự xuất hiện của bông hồng sẽ làm cho vòng tròn chạy hoài không có điểm dừng.
Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa là khai mạc. Không đủ thời gian cho bất kì sự thay đổi nào. Anh kéo cô ra phía sau.
- Sao em làm thế? Em có biết hậu quả sẽ ra sao không?
- Em chỉ muốn có một điểm nhấn trong tác phẩm. Em không muốn tất cả tình yêu nằm trong vòng luẩn quẩn bế tắc.
- Cuộc đời là một vòng tròn. Nó sẽ phải đi qua các điểm A, B, C... cho đến khi gặp điểm Z để vòng tròn khép kín. Đó là những trải nghiệm về đời. Và sự lựa chọn dường như tuyệt đối.
- Có khi anh chẳng bao giờ đến được điểm Z. Hoặc đã đi qua mà không nhận ra. Và sự dừng chân của anh, có phải là những lựa chọn tối ưu khi mà anh đang cố gắng quên đi chặng đường của mình. Chặng đường mơ hồ không đường thẳng. Anh có bao giờ nhìn lại những gì đã qua, hay chỉ nuối tiếc, hay chỉ thanh thản với thời gian...?
- Nhưng em đã không hề nói trước với anh về sự thay đổi.
- Nghệ thuật phải là những gì tạo ra mang ý nghĩa nào đó, chứ không phải theo những áp đặt để tác phẩm hoành tráng.
- Em còn giảng dạy nghệ thuật với anh à? Anh không muốn sự xuất hiện của em trong triển lãm này nữa.
Mắt cô đỏ ngầu, nếu có giọt nước mắt nào rơi xuống chắc nóng bỏng tan chảy cả gò má.
* * *
Mọi người đều đánh giá cao triển lãm, nhất là sự xuất hiện của bông hồng. Nó buộc người xem dừng lại rất lâu để suy ngẫm và tìm câu trả lời cho riêng mình. Sau đó ai cũng ồ lên thích thú. Anh cũng rất bất ngờ về điều ấy. Anh chợt nghĩ đến cô. Cô đang ở đâu?
Điện thoại không liên lạc được. Anh vội vã bỏ đi khi triển lãm mới khai mạc vài giờ đồng hồ. Cánh báo chí vẫn đang tìm cách tiếp cận để tác nghiệp.
Lòng vòng thành phố, anh chợt nhớ đến nơi đã gặp cô lần đầu tiên. Cô ngồi một mình, co ro. Anh xuất hiện và nắm lấy tay cô.
- Anh đã hiểu ra tất cả rồi. Anh xin lỗi và muốn nói lời cảm ơn em!
Cô gái khẽ cúi đầu.
- Mỗi lần đến đây một mình và thấy tác phẩm của anh đã bị thay bằng một tác phẩm khác, em suy nghĩ rất nhiều. Em phải làm một cái gì đó. Mà anh thì rất gàn. Em biết anh chẳng bao giờ nghe những lời góp ý.
Anh nhìn về phía mảng tường lần trước anh vẽ. Chủ quán phải trả món tiền không nhỏ để có được tác phẩm ấy. Nhưng đó chỉ là vẻ hào nhoáng bên ngoài, dễ cuốn hút nhưng dễ bị cuốn trôi.
- Anh có biết vì sao lại có hình ảnh hoa hồng không?
- Anh đủ chín chắn để hiểu ra mà! Hãy đi với anh!
- Đi đâu?
- Đâu cũng được! Anh sẽ kéo em ra khỏi cái cô đơn café một mình. Đồng ý chứ?
Cô khẽ nhoẻn miệng. Không đợi lâu, anh kéo tay cô gái, đi.
...Nghệ thuật phải là những gì tạo ra ý nghĩa nào đó, chứ không phải theo những áp đặt để tác phẩm hoành tráng...
ĐINH MINH TOẢN
Tiếng Mẹ Quê Người
Tiếng Mẹ Quê Người
Trần Kiêm Đoàn
Quê Ta Tiếng Người (The Fatherland, The Foreign Tongue. N.Y. 1995). Đây là tác phẩm viết về tâm sự của một cô gái Mỹ gốc Nhật, Susan Kumagai, thuộc về thế hệ thứ ba sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ. Cô gái Phù Tang đã thành tài và từng ấp ủ ước mơ về phục vụ quê hương. Tâm lý á châu là một khuynh hướng tâm lý chuộng chính danh và định phận. Người nào tiếng ấy rạch ròi. Nhưng đến đâu trên quê cha đất tổ, cô ta cũng bị đồng bào cô nhạo báng, châm chọc và đối xử một cách đầy xa lạ chỉ vì cô không nói đuợc tiếng Nhật, mà chỉ nói được tiếng Mỹ. Ngay tại ngôi làng tổ tiên Hukaido xa xôi của cô, nguời dân Nhật bình thường vẫn kính trọng người Mỹ nói tiếng Mỹ, nhưng lại xa lánh và kỳ thị cô gái Nhật mà lại chỉ có nói tiếng Mỹ. Sau cùng cô gái phải nghẹn ngào, vội vàng từ giã quê cha với lời than thở: “Đâu phải lỗi tại tôi!” (It's not my fault!”).
Thế thì lỗi tại ai? Susan cũng như hầu hết các em bé Việt Nam lớn lên trên đất Mỹ đang quên hẳn hay quên dần tiếng mẹ đẻ đâu phải tại lỗi các em. Các em đều lớn lên như một tờ giấy trắng mà những giòng chữ đầu tiên do cha mẹ và xã hội thay phiên nhau viết những giòng kế tiếp. Các em đã quên tiếng Việt rồi sao? Sao các em lại không biết cất tiếng chào “Thưa Cô, thưa Bác, thưa Chị, thưa Anh?”. Sao các em không có được niềm vui ngày Tết và hình ảnh con trâu trên đồng lúa, con sông xanh ở đầu làng, tiếng ru của mẹ... có gợi cho em thương nhớ gì không? Tất cả những gì đẹp và thiêng liêng trên quê hương giờ đã xa khuất bên kia trời trái đất. Suốt ngày ở trường, ba mẹ đi làm quần quật, có ai giúp cho em gợi nhớ gì đâu?
Lỗi tại ai?
Thưa, tại tôi, tại chị, tại anh, tại chú, tại bác, tại tất cả chúng ta là những người phụ huynh có trách nhiệm đang quay cuồng vật lộn với cuộc sống hàng ngày noi quê người với biết bao mặc cảm tự hào lẫn chua xót. Rất đông người Việt lớn rất nhanh với kiến thức, bằng cấp, thương mãi, nghề nghiệp, trương mục ở ngân hàng nhưng rất ít ngưới “lớn” theo kịp với đà phát triển của con cháu chúng ta trong cái xã hội Hoa Kỳ phức tạp và đa dạng này.
Để góp một phần rất nhỏ trong việc trình bày, phân tích và nhận định về sự khó khăn của con em chúng ta trong việc duy trì và sử dụng tiếng mẹ đẻ, tôi chỉ xin phép bàn đến một vài khía cạnh rất nhỏ và tiêu biểu trong lãnh vực bao la của ngôn ngữ.
Mặc Cảm Về Ngôn Ngữ
Nếu đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn thì ngôn ngữ là cửa ngõ tư tưởng và tình cảm của mỗi con người. Qua tiếng nói, người ta có thể gây cảm tình, thuyết phục hay chinh phục; hoặc biểu lộ trình độ hiểu biết và thân thế một cách dễ dàng.
Xuất thân từ một đất nước chuộng chữ nghĩa và lời nói, người Việt Nam chúng ta thường mang mặc cảm về ngôn ngữ nặng nề như một cái “khẩu nghiệp”.
Tiếng mẹ đẻ bị phân vùng Trung, Nam, Bắc, cọng thêm mặc cảm nhà quê hay thành thị đến nỗi “Chưởi cha không bằng pha tiếng”. Thêm vào đó, tác dụng của tiếng nói còn bị phụ thuộc nặng nề vào đẳng cấp xã hội như “Miệng nhà quan có gang có thép” và người dân thường thì phải chịu “thấp cổ bé miệng”.
Tự bản chất, tiếng nói là một phương tiện truyền thông như chiếc bè để qua sông. Nhưng với mặc cảm khá nặng nề về ngôn ngữ, tiếng Việt thường xuyên bị thử thách trải qua hàng nghìn năm lịch sử, với bao nhiêu cuộc bể dâu của đất nước, hết bị Tàu đô hộ, đến Tây xâm lăng, chiến tranh trường kỳ bão liệt. Không ít người Việt đã vội vàng quay lưng với tiếng nói thân yêu của mình để vội vàng chạy theo những ngôn ngữ mới chân ướt chân ráo tiếp thu được khi hoàn cảnh thay đổi.
Thời cận đại, khi tiếp xúc với văn hóa Tây phương, tiếng Tây đã trở thành một thứ ngôn ngữ “cao quý” đến nỗi cứ hễ nói tiếng Việt mà chêm vào đuợc tiếng Tây, bất luận là loại tiếng Tây nào, kể cả tiếng Tây bồi bếp, bâng quơ... cũng được liệt vào hạng “văn minh” và “thông thái”!
Trong giai đoạn này, đã có rất nhiều người Việt Nam theo “Tây học” đã công khai chối bỏ tiếng nói thân yêu của tổ quốc, để chế nhạo, khinh miệt và vùi dập ngôn ngữ Việt Nam như là một thứ tiếng thấp hèn, nghèo nàn, lạc hậu, vay mượn và thiếu sức sống (!).
Khi qua Mỹ, mặc cảm ngôn ngữ tuy không còn gay gắt trong một xã hội đa chủng vì tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ tiêu chuẩn (official language), tiếng Việt chỉ còn là phương tiện riêng tư giữ người Việt với nhau. Thế nhưng cái mặc cảm đó vẫn cứng đầu, ló mặt thường xuyên trong cuộc sống Việt-Mỹ hàng ngày. Tôi đã từng gặp trong lớp học, nơi hội hè ở nhiều nơi những tình huống buồn cười một cách xót xa khi một người Việt mới đến xứ nầy nhưng đã nói được tiếng Anh một cách lưu loát thì người ta cho đó như một điều đương nhiên chẳng ai để ý. Nhưng ngược lại, một người Mỹ học tiếng Việt lâu ngày mà nói được một câu tiếng Việt trọ trẹ thì mọi người lấy làm cảm kích và vỗ tay bôm bốp. Tiếng Việt như một con bệnh nằm liệt giường lâu ngày, nay có người tốt bụng vực dậy làm mọi người hồ hỡi.
Thái độ tiêu cực vì mặc cảm tự ti về ngôn ngữ Việt Nam đã bị thực tế hùng hồn đánh bạt. Với sức sống tự cường của hàng nghìn năm lịch sử, tiếng Việt Nam, qua những người con ưu tú, đã chững chạc vươn lên bằng một hình thức văn tự mới với những phong trào chữ Nôm và Quốc ngữ. Những công trình sáng tác và biên khảo bằng tiếng Việt thuần túy đã phôi thai, khôn lớn và trưởng thành theo sự lớn mạnh và trường tồn của lịch sử dân tộc. Nhìn về lịch sử và văn hóa dân tộc, so với tất cả các nước lân bang ở ? Châu, chúng ta có quyền tự hào về sự phong phú của gia tài ngôn ngữ Việt Nam.
Từng bước một, tiếng Việt đã chiến thắng những loại “chuyển ngữ” Tàu, Tây để đi vào lòng dân tộc. Tùy theo sự phát triển cùng yêu cầu của từng giai đoạn, tiếng Việt đã tự chứng tỏ khả năng mềm dẻo, bao la, phong phú và da dạng trong mọi lãnh vực văn chương, khoa học xã hội và khoa học thực nghiệm.
Trở lại với hiện thực tiếng Việt trên đất Mỹ, chúng ta không thể chối cãi rằng, bên cạnh tiếng Anh, mặc cảm tự ti (cũng có thể là tự tôn nhưng rất hiếm) về tiếng Việt vẫn còn ám ảnh một cách nặng nề trong cộng đồng người Việt như hồn ma Đạm Tiên cứ đeo đẳng mãi Thúy Kiều. Xuất phát từ mặc cảm tự ti về tiếng Việt trước thế mạnh của tiếng Anh, kết hợp với kinh nghiệm xót xa về sự bất đồng ngôn ngữ trên bước đường tỵ nạn, phụ huynh chúng ta ai cũng muốn con em mình cần phải học tiếng Anh càng nhiều, càng nhanh, càng tốt. Đồng thới cũng đã có rất nhiều phu huynh đã dùng sai “đơn vị đo lường” khi căn cứ trên khối lượng và tốc độ nói tiếng Anh của con em mình nói với nhau hàng ngày (không kể là nói gì và nói thế nào) để đánh giá khả năng và trình dộ học tập của con em ở trường học. Tiếng Việt do đó đã trở thành một người bạn lỗi thời “Vắng mợ thì chợ cũng đông, mợ đi trong Quảng ai trông mợ về!”.
Thái độ và phản ứng của phụ huynh đối với vấn đề tiếng Việt của com em tuy có khác nhau về hiện tượng nhưng bản chất cũng chỉ là một. Ai cũng nóng lòng mong muốn, dù phải hy sinh nhiều giá trị quý báu, cho con em mình khôn lớn, được học tập thành tài, và tạo đuợc một thế đứng vững vàng trong xã hội Mỹ. Nếu chúng ta tạm đồng ý với nhau trên quan điểm “tất cả vì thế hệ trẻ con em của chúng ta” đó, hãy thử tiến xa thêm một bước nữa để bàn về mối quan hệ giữa tiếng Việt và khả năng học tập của con em chúng ta. Vấn đề không còn nằm ở mức độ chủ quan và cảm tính vì “cha thích, mẹ thích, con thích, hay dân tộc Việt Nam thích” nữa, mà cần phải căn cứ vào những dữ liệu kh ách quan của các cuộc kiểm nghiệm và nghiên cứu về ngôn ngữ gần đây để trình bày và thảo luận.
Tiếng Việt và Trí Thông Minh.
Dù muốn hay không, người Việt trên đất Mỹ vẫn đương nhiên được xem là nhóm dân tộc thiểu số và tiếng nói vẫn thuộc về lãnh vực Song Ngữ Việt-Mỹ. Nếu chúng ta chỉ dùng tiếng Mỹ để thay thế hẳn cho tiếng Việt thì ở vào trường hợp Song Ngữ Loại Trừ (Subtractive Bilingualism), nghĩa là cái gốc vẫn là song ngữ nhưng khả năng đã mất đi tiếng mẹ đẻ; hoặc dùng song song tiếng Việt và tiếng Mỹ thì ở trường hợp Song Ngữ Cộng Hưởng (Additive Bilingualism).
Thật ra, Mỹ là quê hương của dân di cư, cho nên vấn đề Song Ngữ (Bilingual) và Đa Ngữ (Multi-lingual) đã được đặt ra gần một thế kỷ này. Rất nhiều nhà chính trị và giáo dục Mỹ từ những năm đầu của thập niên 1900 đã băn khoăn trước vấn đề: “Một đứa trẻ học cùng lúc hai thứ tiếng sẽ có kết quả tốt hơn hay dở hơn so với đứa trẻ chỉ học độc nhất tiếng Anh?”. Trong lúc thực tế đã có đến 46.5 triệu người (chiếm 17.5% toàn dân số Mỹ) có tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh hiện diện trên đất Mỹ (Wagoner 1996). Đã có tới hàng trăm cuộc nghiên cứu và qua nhiều cuộc hội nghị, thảo luận, tranh luận... ở nhiều tầm mức địa phương, quốc gia và quốc tế để tìm câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này. Bên cạnh những dư luận chống đối về sự hiện diện của chương trình song ngữ vì đặt nặng tính chất chính trị và kinh tế hơn là tính chất văn hóa hay giáo dục của vấn đề, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và giáo dục trên khắp thế giới đã mở ra nhiều chương trình giáo dục thí nghiệm khác nhau để xác định một cách khoa học và thực tiễn tác dụng của hai thứ tiếng cùng một lúc đi vào trí óc của các em. Những công trình nghiên cứu nổi tiếng và gần đây nhất được kể đến là: Tại Ontario và nhiều nơi ở Canada (do Liedtke và Nelson thực hiện năm 1968; Bain 1974; Cummins va Gulustan năm 1974). Tại Thụy Sĩ (Balkan 1970) , Do Thái (Ben-Zeev 1977), Nam Phi (Janco-Worrall 1972), Mỹ (Ben-Zeev 1977; Duncan và De Avila 1979). California (O'Malley, J.M. 1992; National Society for the Study of Education 1994, 1996, 1997). National Clearinghouse for Bilingual Education 1984, 1992, 1997)... kết quả những công trình thăm dò và nghiên cứu này đã rất thống nhất trên luận điểm cơ bản rằng: “Khả năng song ngữ hoàn toàn không có tác hại gì trong khả năng nhận thức và học tập của học sinh trong nhà trường và ngoài xã hội; ngược lại, khả năng song ngữ giúp học sinh trở thành đa dạng và phong phú hơn trong hầu hết các môn học.”
Giáo sư Kenji Hakuta của đại học Yale đã đi vào cụ thể hon bằng cách chọn nhiều hình thức trắc nghiệm cho học sinh hai nhóm Song Ngữ và Đơn Ngữ trong nhiều năm đã đi đến kết luận rằng: “ Chọn một nhóm học sinh biết nói hai thứ tiếng để thi đua với một nhóm học sinh khác chỉ biết một thứ tiếng, cùng lứa tuổi, cùng trình độ, cùng hoàn cảnh xã hội, cùng điều kiện sinh hoạt như nhóm kia. Xong rồi, chọn một biện pháp để đo khả năng nhận thức áp dụng chung cho cả hai nhóm. Kết qủa: nhóm song ngữ đạt được luôn luôn sẽ tốt hơn.” (Hakuta. Mirror of Language 1986. Tr. 35).
Cùng nhận xét như trên, hai nhà nghiên cứu về sự quan hệ giữa khả năng song ngữ và trí thông minh, tại Canada là Elizabeth Pearl và Wallace Lambert (1982) sau nhiều công trình tìm tòi đã phấn khởi nhận xét: “Một đứa trẻ có sự hiểu biết về cả hai hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa có được nhiều thuận lợi hơn là một đứa trẻ chỉ biết một ngôn ngữ và một cách sống. Về phương diện trí thức, sự hiểu biết cả hai hệ thống ngôn ngữ dường như đã lưu lại cho nó một sự phóng khoáng về trí óc, một sự ưu tú về tư tưởng và khả năng phong phú đa dạng của lý trí.
Trái lại, đứa trẻ chỉ biết một ngôn ngữ thì những yếu tố cấu tạo trí thông minh của nó đơn thuần và hạn hẹp hơn” (Lambert, W.E. và E. Anisfield. 1969. A Note On the Relationship of Bilingualism and Intelligence).
Sự Quan Hệ Mật Thiết Giữa Tiếng Việt và Tiếng Mỹ.
Phụ huynh vẫn thường suy nghĩ đơn giản là cho dù con em mình có giỏi tiếng Việt cũng chẳng có lợi gì cho việc học tiếng Mỹ tại trường. Thực tế và khoa ngôn ngữ học đã chứng minh ngược lại. James Cummins khi bàn về sự liên hệ giữa tiếng mẹ đẻ (tạm ghi ký hiệu là L1: Tiếng Việt và ngôn ngữ thứ hai, L2: Tiếng Mỹ) đã hoàn toàn bênh vực cho khuynh hướng hiện đại và thực tiễn của các nhà ngôn ngữ học khi chứng minh rằng: Có những điểm chung nhất nằm giữa L1 và L2. Những kiến thức đã học trong L1 có thể đương nhiên được chuyển qua cho L2 mà khỏi cần bắt đầu học lại. Ví dụ: trường hợp một học sinh vốn đã thông thạo tiếngViệt khi học tiếng Anh sẽ rất nhanh so với một người bạn Việt Nam khác vốn rất kém cỏi tiếng Việt cùng bắt đầu học Anh văn và ngược lại. Nói một cách cụ thể hơn, ví như khi một học sinh Việt Nam đã hiểu được khái niệm của từ “Dân chủ” trong tiếng Việt chẳng hạn, nếu khi học tiếng Mỹ thì chỉ cần chuyển thành “Democracy” mà khỏi cần phải học lại từ đầu toàn bộ ý nghĩa và khái niệm của từ nầy. Tương tự như thế, tất cả kiến thức, nghệ thuật, khái niệm học được trong tiếng Việt hoặc tiếng Anh đều có sự tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau. Quan điểm “ Sự thông thạo nằm riêng giữa hai ngôn ngữ” (The Separate Underlying Proficiency Model of Bilingual Proficiency) (Xem H1) đã không thể đứng vững trước thực tế: Có “Sự thông thạo nằm chung giữa hai ngôn ngữ” (The Common Underlying Proficiency Model of Bilingual Proficiency) (Xem H2 và H3. - Cummings: Schooling and Language Minority Student: A theoretical Framework. Tr. 23 và 24).
Thêm những bằng chứng rất thực tiễn đã diễn ra trong tập thể người Việt tại Mỹ trong những năm gần đây, đó là trường hợp thành công của đại đa số các con em “H.O” trong nhà trường của Mỹ. Rõ ràng là các em qua Mỹ vào độ tuổi trưởng thành, nên không có sự chọn lựa nào khác hơn là phải sử dụng song ngữ, nói cùng lúc hai thứ tiếng Việt và Mỹ song song. Thế nhưng trong học vấn, phần đông các em đã tận dụng được kiến thức đã học được từ trong tiếng Việt, chuyển sang tiếng Mỹ một cách vô thức hay hữu thức. Những học sinh, sinh viên Việt Nam mới qua không những “sống còn” mà sống mạnh, sống hùng trong môi trường tiếng Mỹ.
Đưa ra một vài dẫn chứng nhỏ để nói lên sự suy nghĩ của chúng tôi rằng, việc khuyến khích các em học tiếng Việt không phải là vì “thể diện” gia đình hay danh dự hão huyền hoặc muốn làm vui lòng bà con Việt Nam với nhau mà chính là vì quyền lợi lâu dài của con em chúng ta.
Bất cứ xã hội nào, cha mẹ và người thân luôn luôn là những người thầy đầu đời để giáo dục không ngừng về phong cách sống mà còn giáo dục cả một khối lượng kiến thức khổng lồ về mọi mặt. Từ một bài hát, câu hò đến những câu chuyện cổ tích, một lời nói khôi hài, một vài nhận xét khen chê trong cuộc sống sẽ là những bài học có gía trị cho con em sau này. Nếu con em chúng ta không có khả năng về tiếng Việt tức là phụ huynh đã vô tình từ khước cái vai trò thầy giáo trong buổi bình minh làm người của các em rồi đó.
Trong các công trình nghiên cứu xuất bản năm 1986, 1994 đề cập đến sự thành công và thất bại trong trường học của nhóm học sinh thiểu số, giáo sư John U. Ogbu của trường Đại Học Berkely và giáo sư Maria Eugenia Matute-Bianchi của đại học Santa Cruz đã phân tích và nhận định về nhóm thiểu số thất bại thê thảm nhất trong trường học đó là nhóm học sinh người Mễ và nhóm thiểu số thành công trong trường học đó là nhóm học sinh người Trung Hoa. Giải thích về nguyên nhân thành công của nhóm học sinh Trung Hoa trên đất Mỹ, tác giả đã đưa ra những nét tiêu biểu như sau:
1. Người Tàu đã mang theo truyền văn hóa sang đất Mỹ: Hiếu học, tôn trọng sự học vấn, tự hào về nền văn hóa dân tộc của mình.
2. Sự ảnh hưởng sâu đậm của gia đình: Cha mẹ hy sinh tất cả cho con cái ược ăn học và ngược lại con cái biết vâng lời, kính trọng và cố sống xứng đáng với tình thương của cha mẹ khi còn đi học cũng như khi đã ra đời.
3. Ảnh hưởng nền giáo dục gia đình, học sinh Trung Hoa vào trường biết vâng lời, kính trọng thầy giáo và người lớn tuổi, có tinh thần trách nhiệm nên phần đông được thầy giáo và nhân viên nhà trường qúy mến và tận tâm giúp đỡ.
4. Mặc dầu chữ Tàu và chữ Anh hoàn toàn khác biệt, ngôn ngữ gia đình thường là tiếng Tàu, cách học ở Mỹ khác hẳn ở Trung Hoa nhưng với sự thông minh, nhạy bén, và cần cù, học sinh Tàu đã làm hết sức mình để vượt qua những khó khăn để đạt những thành tựu xuất sắc trong - trường học. (Beyond Language: Schooling Language Minority Student. 1986. Tr. 73-134).
Chúng ta thấy những yếu tố căn bản giúp học sinh Tàu thành công thì cũng là những nét quen thuộc của phụ huynh và học sinh Việt Nam. Chúng ta sẽ khỏi lấy làm tiếc về sau nếu phụ huynh tăng cường nền giáo dục gia đình và giúp cho con em biết tự hào về truyền thống văn hóa Việt Nam qua việc học và duy trì tiếng Việt.
Từ “Melting Pot” và “Salad Bowl” đến kết luận.
Có nhiều học sinh và sinh viên Việt Nam chỉ thích làm người Mỹ. Vâng, điều này rất đơn giản vì chỉ cần năm năm thường trú không phạm pháp trên đất Mỹ là các em đã trở thành “người Mỹ” được rồi. Nhưng nếu các em muốn từ “Vietnamese-American” biến thành “Anglo-American” thì đó chỉ là ý nghĩ viễn mơ không biết ta mà cũng chẳng hiểu người. Lịch sử xã hội đã cho thấy rằng, cách đây hơn một nửa thế kỷ, các nhà xã hội học Hoa Kỳ đã đồng ý với thuyết “Melting Pot” nghĩa là nền văn hóa ưu việt cuả người Mỹ-Anglo sẽ đồng hóa tất cả nền văn hóa của người di dân vào đất nước này trong “cái nồi xúp nóng chảy” đó. Nhưng qua thực tế, tượng Nữ Thần Tự Do Vẫn đứng song song với Vạn Lý Trường Thành. Rặng núi Rocky Mountains không cao hơn nổi Hy Mã Lạp Sơn và những giòng sông sông Mississippi, Hoàng Hà, Cửu Long vẫn cứ theo giòng riêng tư chảy hoài ra biển, nên dân tộc nào vẫn giữ nguyên nền văn hóa của dân tộc đó trong cái đất nước tự do và hiệp sĩ này. Bởi vậy, vì thấy thuyết “Melting Pot” không có tác dụng nên một thuyết khác ra đời, đó là thuyết “Salad Bowl”. Thuyết này mô tả và chấp nhận xà hội Hoa Kỳ như dĩa xà lách: Có rau có trứng, có tiêu, muối, tỏi, ớt, hành, vị tinh, nước xốt... Mỗi thứ mang một tính chất độc đáo riêng biệt. Đây là hình ảnh biểu trưng của một xã hội Hoa kỳ gồm nhiều dân tộc khác nhau, có riêng nền văn hóa, sống chung hòa bình để góp phần xây dựng xã hội. Tôi không hiểu trong dĩa xà lách này, dân Việt Nam đóng vai gì trong đó? Là rau? Là muối? Là tiêu? Là hành? Nhưng chắc chắn chúng ta không thể nào biến thành một thứ “siêu nhân” bay vù vù một mình trên đầu các dân tộc khác như trong phim Superman được. Nếu chúng ta là muối? Thì tất nhiên chúng ta phải mặn. Nếu chúng ta là người Việt Nam? Thì phải biết nói tiếng Việt Nam. Muối không mặn: Là muối giả! Người Việt Nam không biết nói tiếng Việt: Chỉ còn là mảnh hình hài Việt Nam ngoài vỏ. Nếu chúng ta không thể xác định mình là chất gì trong dĩa xà lách Hoa Kỳ, không lẽ ta là con ruồi hay cọng rác cần phải vất đi sao?
Câu trả lời đã hiện rõ nét ngay trong câu hỏi.
__________________
Trần Kiêm Đoàn
Quê Ta Tiếng Người (The Fatherland, The Foreign Tongue. N.Y. 1995). Đây là tác phẩm viết về tâm sự của một cô gái Mỹ gốc Nhật, Susan Kumagai, thuộc về thế hệ thứ ba sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ. Cô gái Phù Tang đã thành tài và từng ấp ủ ước mơ về phục vụ quê hương. Tâm lý á châu là một khuynh hướng tâm lý chuộng chính danh và định phận. Người nào tiếng ấy rạch ròi. Nhưng đến đâu trên quê cha đất tổ, cô ta cũng bị đồng bào cô nhạo báng, châm chọc và đối xử một cách đầy xa lạ chỉ vì cô không nói đuợc tiếng Nhật, mà chỉ nói được tiếng Mỹ. Ngay tại ngôi làng tổ tiên Hukaido xa xôi của cô, nguời dân Nhật bình thường vẫn kính trọng người Mỹ nói tiếng Mỹ, nhưng lại xa lánh và kỳ thị cô gái Nhật mà lại chỉ có nói tiếng Mỹ. Sau cùng cô gái phải nghẹn ngào, vội vàng từ giã quê cha với lời than thở: “Đâu phải lỗi tại tôi!” (It's not my fault!”).
Thế thì lỗi tại ai? Susan cũng như hầu hết các em bé Việt Nam lớn lên trên đất Mỹ đang quên hẳn hay quên dần tiếng mẹ đẻ đâu phải tại lỗi các em. Các em đều lớn lên như một tờ giấy trắng mà những giòng chữ đầu tiên do cha mẹ và xã hội thay phiên nhau viết những giòng kế tiếp. Các em đã quên tiếng Việt rồi sao? Sao các em lại không biết cất tiếng chào “Thưa Cô, thưa Bác, thưa Chị, thưa Anh?”. Sao các em không có được niềm vui ngày Tết và hình ảnh con trâu trên đồng lúa, con sông xanh ở đầu làng, tiếng ru của mẹ... có gợi cho em thương nhớ gì không? Tất cả những gì đẹp và thiêng liêng trên quê hương giờ đã xa khuất bên kia trời trái đất. Suốt ngày ở trường, ba mẹ đi làm quần quật, có ai giúp cho em gợi nhớ gì đâu?
Lỗi tại ai?
Thưa, tại tôi, tại chị, tại anh, tại chú, tại bác, tại tất cả chúng ta là những người phụ huynh có trách nhiệm đang quay cuồng vật lộn với cuộc sống hàng ngày noi quê người với biết bao mặc cảm tự hào lẫn chua xót. Rất đông người Việt lớn rất nhanh với kiến thức, bằng cấp, thương mãi, nghề nghiệp, trương mục ở ngân hàng nhưng rất ít ngưới “lớn” theo kịp với đà phát triển của con cháu chúng ta trong cái xã hội Hoa Kỳ phức tạp và đa dạng này.
Để góp một phần rất nhỏ trong việc trình bày, phân tích và nhận định về sự khó khăn của con em chúng ta trong việc duy trì và sử dụng tiếng mẹ đẻ, tôi chỉ xin phép bàn đến một vài khía cạnh rất nhỏ và tiêu biểu trong lãnh vực bao la của ngôn ngữ.
Mặc Cảm Về Ngôn Ngữ
Nếu đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn thì ngôn ngữ là cửa ngõ tư tưởng và tình cảm của mỗi con người. Qua tiếng nói, người ta có thể gây cảm tình, thuyết phục hay chinh phục; hoặc biểu lộ trình độ hiểu biết và thân thế một cách dễ dàng.
Xuất thân từ một đất nước chuộng chữ nghĩa và lời nói, người Việt Nam chúng ta thường mang mặc cảm về ngôn ngữ nặng nề như một cái “khẩu nghiệp”.
Tiếng mẹ đẻ bị phân vùng Trung, Nam, Bắc, cọng thêm mặc cảm nhà quê hay thành thị đến nỗi “Chưởi cha không bằng pha tiếng”. Thêm vào đó, tác dụng của tiếng nói còn bị phụ thuộc nặng nề vào đẳng cấp xã hội như “Miệng nhà quan có gang có thép” và người dân thường thì phải chịu “thấp cổ bé miệng”.
Tự bản chất, tiếng nói là một phương tiện truyền thông như chiếc bè để qua sông. Nhưng với mặc cảm khá nặng nề về ngôn ngữ, tiếng Việt thường xuyên bị thử thách trải qua hàng nghìn năm lịch sử, với bao nhiêu cuộc bể dâu của đất nước, hết bị Tàu đô hộ, đến Tây xâm lăng, chiến tranh trường kỳ bão liệt. Không ít người Việt đã vội vàng quay lưng với tiếng nói thân yêu của mình để vội vàng chạy theo những ngôn ngữ mới chân ướt chân ráo tiếp thu được khi hoàn cảnh thay đổi.
Thời cận đại, khi tiếp xúc với văn hóa Tây phương, tiếng Tây đã trở thành một thứ ngôn ngữ “cao quý” đến nỗi cứ hễ nói tiếng Việt mà chêm vào đuợc tiếng Tây, bất luận là loại tiếng Tây nào, kể cả tiếng Tây bồi bếp, bâng quơ... cũng được liệt vào hạng “văn minh” và “thông thái”!
Trong giai đoạn này, đã có rất nhiều người Việt Nam theo “Tây học” đã công khai chối bỏ tiếng nói thân yêu của tổ quốc, để chế nhạo, khinh miệt và vùi dập ngôn ngữ Việt Nam như là một thứ tiếng thấp hèn, nghèo nàn, lạc hậu, vay mượn và thiếu sức sống (!).
Khi qua Mỹ, mặc cảm ngôn ngữ tuy không còn gay gắt trong một xã hội đa chủng vì tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ tiêu chuẩn (official language), tiếng Việt chỉ còn là phương tiện riêng tư giữ người Việt với nhau. Thế nhưng cái mặc cảm đó vẫn cứng đầu, ló mặt thường xuyên trong cuộc sống Việt-Mỹ hàng ngày. Tôi đã từng gặp trong lớp học, nơi hội hè ở nhiều nơi những tình huống buồn cười một cách xót xa khi một người Việt mới đến xứ nầy nhưng đã nói được tiếng Anh một cách lưu loát thì người ta cho đó như một điều đương nhiên chẳng ai để ý. Nhưng ngược lại, một người Mỹ học tiếng Việt lâu ngày mà nói được một câu tiếng Việt trọ trẹ thì mọi người lấy làm cảm kích và vỗ tay bôm bốp. Tiếng Việt như một con bệnh nằm liệt giường lâu ngày, nay có người tốt bụng vực dậy làm mọi người hồ hỡi.
Thái độ tiêu cực vì mặc cảm tự ti về ngôn ngữ Việt Nam đã bị thực tế hùng hồn đánh bạt. Với sức sống tự cường của hàng nghìn năm lịch sử, tiếng Việt Nam, qua những người con ưu tú, đã chững chạc vươn lên bằng một hình thức văn tự mới với những phong trào chữ Nôm và Quốc ngữ. Những công trình sáng tác và biên khảo bằng tiếng Việt thuần túy đã phôi thai, khôn lớn và trưởng thành theo sự lớn mạnh và trường tồn của lịch sử dân tộc. Nhìn về lịch sử và văn hóa dân tộc, so với tất cả các nước lân bang ở ? Châu, chúng ta có quyền tự hào về sự phong phú của gia tài ngôn ngữ Việt Nam.
Từng bước một, tiếng Việt đã chiến thắng những loại “chuyển ngữ” Tàu, Tây để đi vào lòng dân tộc. Tùy theo sự phát triển cùng yêu cầu của từng giai đoạn, tiếng Việt đã tự chứng tỏ khả năng mềm dẻo, bao la, phong phú và da dạng trong mọi lãnh vực văn chương, khoa học xã hội và khoa học thực nghiệm.
Trở lại với hiện thực tiếng Việt trên đất Mỹ, chúng ta không thể chối cãi rằng, bên cạnh tiếng Anh, mặc cảm tự ti (cũng có thể là tự tôn nhưng rất hiếm) về tiếng Việt vẫn còn ám ảnh một cách nặng nề trong cộng đồng người Việt như hồn ma Đạm Tiên cứ đeo đẳng mãi Thúy Kiều. Xuất phát từ mặc cảm tự ti về tiếng Việt trước thế mạnh của tiếng Anh, kết hợp với kinh nghiệm xót xa về sự bất đồng ngôn ngữ trên bước đường tỵ nạn, phụ huynh chúng ta ai cũng muốn con em mình cần phải học tiếng Anh càng nhiều, càng nhanh, càng tốt. Đồng thới cũng đã có rất nhiều phu huynh đã dùng sai “đơn vị đo lường” khi căn cứ trên khối lượng và tốc độ nói tiếng Anh của con em mình nói với nhau hàng ngày (không kể là nói gì và nói thế nào) để đánh giá khả năng và trình dộ học tập của con em ở trường học. Tiếng Việt do đó đã trở thành một người bạn lỗi thời “Vắng mợ thì chợ cũng đông, mợ đi trong Quảng ai trông mợ về!”.
Thái độ và phản ứng của phụ huynh đối với vấn đề tiếng Việt của com em tuy có khác nhau về hiện tượng nhưng bản chất cũng chỉ là một. Ai cũng nóng lòng mong muốn, dù phải hy sinh nhiều giá trị quý báu, cho con em mình khôn lớn, được học tập thành tài, và tạo đuợc một thế đứng vững vàng trong xã hội Mỹ. Nếu chúng ta tạm đồng ý với nhau trên quan điểm “tất cả vì thế hệ trẻ con em của chúng ta” đó, hãy thử tiến xa thêm một bước nữa để bàn về mối quan hệ giữa tiếng Việt và khả năng học tập của con em chúng ta. Vấn đề không còn nằm ở mức độ chủ quan và cảm tính vì “cha thích, mẹ thích, con thích, hay dân tộc Việt Nam thích” nữa, mà cần phải căn cứ vào những dữ liệu kh ách quan của các cuộc kiểm nghiệm và nghiên cứu về ngôn ngữ gần đây để trình bày và thảo luận.
Tiếng Việt và Trí Thông Minh.
Dù muốn hay không, người Việt trên đất Mỹ vẫn đương nhiên được xem là nhóm dân tộc thiểu số và tiếng nói vẫn thuộc về lãnh vực Song Ngữ Việt-Mỹ. Nếu chúng ta chỉ dùng tiếng Mỹ để thay thế hẳn cho tiếng Việt thì ở vào trường hợp Song Ngữ Loại Trừ (Subtractive Bilingualism), nghĩa là cái gốc vẫn là song ngữ nhưng khả năng đã mất đi tiếng mẹ đẻ; hoặc dùng song song tiếng Việt và tiếng Mỹ thì ở trường hợp Song Ngữ Cộng Hưởng (Additive Bilingualism).
Thật ra, Mỹ là quê hương của dân di cư, cho nên vấn đề Song Ngữ (Bilingual) và Đa Ngữ (Multi-lingual) đã được đặt ra gần một thế kỷ này. Rất nhiều nhà chính trị và giáo dục Mỹ từ những năm đầu của thập niên 1900 đã băn khoăn trước vấn đề: “Một đứa trẻ học cùng lúc hai thứ tiếng sẽ có kết quả tốt hơn hay dở hơn so với đứa trẻ chỉ học độc nhất tiếng Anh?”. Trong lúc thực tế đã có đến 46.5 triệu người (chiếm 17.5% toàn dân số Mỹ) có tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh hiện diện trên đất Mỹ (Wagoner 1996). Đã có tới hàng trăm cuộc nghiên cứu và qua nhiều cuộc hội nghị, thảo luận, tranh luận... ở nhiều tầm mức địa phương, quốc gia và quốc tế để tìm câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này. Bên cạnh những dư luận chống đối về sự hiện diện của chương trình song ngữ vì đặt nặng tính chất chính trị và kinh tế hơn là tính chất văn hóa hay giáo dục của vấn đề, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và giáo dục trên khắp thế giới đã mở ra nhiều chương trình giáo dục thí nghiệm khác nhau để xác định một cách khoa học và thực tiễn tác dụng của hai thứ tiếng cùng một lúc đi vào trí óc của các em. Những công trình nghiên cứu nổi tiếng và gần đây nhất được kể đến là: Tại Ontario và nhiều nơi ở Canada (do Liedtke và Nelson thực hiện năm 1968; Bain 1974; Cummins va Gulustan năm 1974). Tại Thụy Sĩ (Balkan 1970) , Do Thái (Ben-Zeev 1977), Nam Phi (Janco-Worrall 1972), Mỹ (Ben-Zeev 1977; Duncan và De Avila 1979). California (O'Malley, J.M. 1992; National Society for the Study of Education 1994, 1996, 1997). National Clearinghouse for Bilingual Education 1984, 1992, 1997)... kết quả những công trình thăm dò và nghiên cứu này đã rất thống nhất trên luận điểm cơ bản rằng: “Khả năng song ngữ hoàn toàn không có tác hại gì trong khả năng nhận thức và học tập của học sinh trong nhà trường và ngoài xã hội; ngược lại, khả năng song ngữ giúp học sinh trở thành đa dạng và phong phú hơn trong hầu hết các môn học.”
Giáo sư Kenji Hakuta của đại học Yale đã đi vào cụ thể hon bằng cách chọn nhiều hình thức trắc nghiệm cho học sinh hai nhóm Song Ngữ và Đơn Ngữ trong nhiều năm đã đi đến kết luận rằng: “ Chọn một nhóm học sinh biết nói hai thứ tiếng để thi đua với một nhóm học sinh khác chỉ biết một thứ tiếng, cùng lứa tuổi, cùng trình độ, cùng hoàn cảnh xã hội, cùng điều kiện sinh hoạt như nhóm kia. Xong rồi, chọn một biện pháp để đo khả năng nhận thức áp dụng chung cho cả hai nhóm. Kết qủa: nhóm song ngữ đạt được luôn luôn sẽ tốt hơn.” (Hakuta. Mirror of Language 1986. Tr. 35).
Cùng nhận xét như trên, hai nhà nghiên cứu về sự quan hệ giữa khả năng song ngữ và trí thông minh, tại Canada là Elizabeth Pearl và Wallace Lambert (1982) sau nhiều công trình tìm tòi đã phấn khởi nhận xét: “Một đứa trẻ có sự hiểu biết về cả hai hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa có được nhiều thuận lợi hơn là một đứa trẻ chỉ biết một ngôn ngữ và một cách sống. Về phương diện trí thức, sự hiểu biết cả hai hệ thống ngôn ngữ dường như đã lưu lại cho nó một sự phóng khoáng về trí óc, một sự ưu tú về tư tưởng và khả năng phong phú đa dạng của lý trí.
Trái lại, đứa trẻ chỉ biết một ngôn ngữ thì những yếu tố cấu tạo trí thông minh của nó đơn thuần và hạn hẹp hơn” (Lambert, W.E. và E. Anisfield. 1969. A Note On the Relationship of Bilingualism and Intelligence).
Sự Quan Hệ Mật Thiết Giữa Tiếng Việt và Tiếng Mỹ.
Phụ huynh vẫn thường suy nghĩ đơn giản là cho dù con em mình có giỏi tiếng Việt cũng chẳng có lợi gì cho việc học tiếng Mỹ tại trường. Thực tế và khoa ngôn ngữ học đã chứng minh ngược lại. James Cummins khi bàn về sự liên hệ giữa tiếng mẹ đẻ (tạm ghi ký hiệu là L1: Tiếng Việt và ngôn ngữ thứ hai, L2: Tiếng Mỹ) đã hoàn toàn bênh vực cho khuynh hướng hiện đại và thực tiễn của các nhà ngôn ngữ học khi chứng minh rằng: Có những điểm chung nhất nằm giữa L1 và L2. Những kiến thức đã học trong L1 có thể đương nhiên được chuyển qua cho L2 mà khỏi cần bắt đầu học lại. Ví dụ: trường hợp một học sinh vốn đã thông thạo tiếngViệt khi học tiếng Anh sẽ rất nhanh so với một người bạn Việt Nam khác vốn rất kém cỏi tiếng Việt cùng bắt đầu học Anh văn và ngược lại. Nói một cách cụ thể hơn, ví như khi một học sinh Việt Nam đã hiểu được khái niệm của từ “Dân chủ” trong tiếng Việt chẳng hạn, nếu khi học tiếng Mỹ thì chỉ cần chuyển thành “Democracy” mà khỏi cần phải học lại từ đầu toàn bộ ý nghĩa và khái niệm của từ nầy. Tương tự như thế, tất cả kiến thức, nghệ thuật, khái niệm học được trong tiếng Việt hoặc tiếng Anh đều có sự tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau. Quan điểm “ Sự thông thạo nằm riêng giữa hai ngôn ngữ” (The Separate Underlying Proficiency Model of Bilingual Proficiency) (Xem H1) đã không thể đứng vững trước thực tế: Có “Sự thông thạo nằm chung giữa hai ngôn ngữ” (The Common Underlying Proficiency Model of Bilingual Proficiency) (Xem H2 và H3. - Cummings: Schooling and Language Minority Student: A theoretical Framework. Tr. 23 và 24).
Thêm những bằng chứng rất thực tiễn đã diễn ra trong tập thể người Việt tại Mỹ trong những năm gần đây, đó là trường hợp thành công của đại đa số các con em “H.O” trong nhà trường của Mỹ. Rõ ràng là các em qua Mỹ vào độ tuổi trưởng thành, nên không có sự chọn lựa nào khác hơn là phải sử dụng song ngữ, nói cùng lúc hai thứ tiếng Việt và Mỹ song song. Thế nhưng trong học vấn, phần đông các em đã tận dụng được kiến thức đã học được từ trong tiếng Việt, chuyển sang tiếng Mỹ một cách vô thức hay hữu thức. Những học sinh, sinh viên Việt Nam mới qua không những “sống còn” mà sống mạnh, sống hùng trong môi trường tiếng Mỹ.
Đưa ra một vài dẫn chứng nhỏ để nói lên sự suy nghĩ của chúng tôi rằng, việc khuyến khích các em học tiếng Việt không phải là vì “thể diện” gia đình hay danh dự hão huyền hoặc muốn làm vui lòng bà con Việt Nam với nhau mà chính là vì quyền lợi lâu dài của con em chúng ta.
Bất cứ xã hội nào, cha mẹ và người thân luôn luôn là những người thầy đầu đời để giáo dục không ngừng về phong cách sống mà còn giáo dục cả một khối lượng kiến thức khổng lồ về mọi mặt. Từ một bài hát, câu hò đến những câu chuyện cổ tích, một lời nói khôi hài, một vài nhận xét khen chê trong cuộc sống sẽ là những bài học có gía trị cho con em sau này. Nếu con em chúng ta không có khả năng về tiếng Việt tức là phụ huynh đã vô tình từ khước cái vai trò thầy giáo trong buổi bình minh làm người của các em rồi đó.
Trong các công trình nghiên cứu xuất bản năm 1986, 1994 đề cập đến sự thành công và thất bại trong trường học của nhóm học sinh thiểu số, giáo sư John U. Ogbu của trường Đại Học Berkely và giáo sư Maria Eugenia Matute-Bianchi của đại học Santa Cruz đã phân tích và nhận định về nhóm thiểu số thất bại thê thảm nhất trong trường học đó là nhóm học sinh người Mễ và nhóm thiểu số thành công trong trường học đó là nhóm học sinh người Trung Hoa. Giải thích về nguyên nhân thành công của nhóm học sinh Trung Hoa trên đất Mỹ, tác giả đã đưa ra những nét tiêu biểu như sau:
1. Người Tàu đã mang theo truyền văn hóa sang đất Mỹ: Hiếu học, tôn trọng sự học vấn, tự hào về nền văn hóa dân tộc của mình.
2. Sự ảnh hưởng sâu đậm của gia đình: Cha mẹ hy sinh tất cả cho con cái ược ăn học và ngược lại con cái biết vâng lời, kính trọng và cố sống xứng đáng với tình thương của cha mẹ khi còn đi học cũng như khi đã ra đời.
3. Ảnh hưởng nền giáo dục gia đình, học sinh Trung Hoa vào trường biết vâng lời, kính trọng thầy giáo và người lớn tuổi, có tinh thần trách nhiệm nên phần đông được thầy giáo và nhân viên nhà trường qúy mến và tận tâm giúp đỡ.
4. Mặc dầu chữ Tàu và chữ Anh hoàn toàn khác biệt, ngôn ngữ gia đình thường là tiếng Tàu, cách học ở Mỹ khác hẳn ở Trung Hoa nhưng với sự thông minh, nhạy bén, và cần cù, học sinh Tàu đã làm hết sức mình để vượt qua những khó khăn để đạt những thành tựu xuất sắc trong - trường học. (Beyond Language: Schooling Language Minority Student. 1986. Tr. 73-134).
Chúng ta thấy những yếu tố căn bản giúp học sinh Tàu thành công thì cũng là những nét quen thuộc của phụ huynh và học sinh Việt Nam. Chúng ta sẽ khỏi lấy làm tiếc về sau nếu phụ huynh tăng cường nền giáo dục gia đình và giúp cho con em biết tự hào về truyền thống văn hóa Việt Nam qua việc học và duy trì tiếng Việt.
Từ “Melting Pot” và “Salad Bowl” đến kết luận.
Có nhiều học sinh và sinh viên Việt Nam chỉ thích làm người Mỹ. Vâng, điều này rất đơn giản vì chỉ cần năm năm thường trú không phạm pháp trên đất Mỹ là các em đã trở thành “người Mỹ” được rồi. Nhưng nếu các em muốn từ “Vietnamese-American” biến thành “Anglo-American” thì đó chỉ là ý nghĩ viễn mơ không biết ta mà cũng chẳng hiểu người. Lịch sử xã hội đã cho thấy rằng, cách đây hơn một nửa thế kỷ, các nhà xã hội học Hoa Kỳ đã đồng ý với thuyết “Melting Pot” nghĩa là nền văn hóa ưu việt cuả người Mỹ-Anglo sẽ đồng hóa tất cả nền văn hóa của người di dân vào đất nước này trong “cái nồi xúp nóng chảy” đó. Nhưng qua thực tế, tượng Nữ Thần Tự Do Vẫn đứng song song với Vạn Lý Trường Thành. Rặng núi Rocky Mountains không cao hơn nổi Hy Mã Lạp Sơn và những giòng sông sông Mississippi, Hoàng Hà, Cửu Long vẫn cứ theo giòng riêng tư chảy hoài ra biển, nên dân tộc nào vẫn giữ nguyên nền văn hóa của dân tộc đó trong cái đất nước tự do và hiệp sĩ này. Bởi vậy, vì thấy thuyết “Melting Pot” không có tác dụng nên một thuyết khác ra đời, đó là thuyết “Salad Bowl”. Thuyết này mô tả và chấp nhận xà hội Hoa Kỳ như dĩa xà lách: Có rau có trứng, có tiêu, muối, tỏi, ớt, hành, vị tinh, nước xốt... Mỗi thứ mang một tính chất độc đáo riêng biệt. Đây là hình ảnh biểu trưng của một xã hội Hoa kỳ gồm nhiều dân tộc khác nhau, có riêng nền văn hóa, sống chung hòa bình để góp phần xây dựng xã hội. Tôi không hiểu trong dĩa xà lách này, dân Việt Nam đóng vai gì trong đó? Là rau? Là muối? Là tiêu? Là hành? Nhưng chắc chắn chúng ta không thể nào biến thành một thứ “siêu nhân” bay vù vù một mình trên đầu các dân tộc khác như trong phim Superman được. Nếu chúng ta là muối? Thì tất nhiên chúng ta phải mặn. Nếu chúng ta là người Việt Nam? Thì phải biết nói tiếng Việt Nam. Muối không mặn: Là muối giả! Người Việt Nam không biết nói tiếng Việt: Chỉ còn là mảnh hình hài Việt Nam ngoài vỏ. Nếu chúng ta không thể xác định mình là chất gì trong dĩa xà lách Hoa Kỳ, không lẽ ta là con ruồi hay cọng rác cần phải vất đi sao?
Câu trả lời đã hiện rõ nét ngay trong câu hỏi.
__________________
Subscribe to:
Posts (Atom)