Sunday, June 13, 2010

Sàigòn, ngày lạ mặt

Trần Vũ: Sàigòn, ngày lạ mặt
By anlac • Jun 1st, 2009 • Category: Bút Ký

Nhà văn Trần Vũ sinh năm 1962 tại Sàigòn, theo học tiểu và trung học đệ nhất cấp tại tư thục Lasan Taberd. Sau giải thể 1976 chuyển sang Bùi Thị Xuân ( nữ trung học Nguyễn Bá Tòng cũ). Vượt biên đến Phi Luật Tân và định cư tại Pháp từ 1979 sau một năm ở trại tỵ nạn Palawan, Puerto Princesa City. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm truyện ngắn bằng Việt và Pháp ngữ, trong đó có Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu đã được tái bản nhiều lần.
—————————————————–
Tôi trở lại đường Trương Minh Giảng bây giờ mang tên Lê Văn Sỹ. Thận Nhiên chạy xe Dawoo phía trước, tôi lái chiếc Cub phía sau. Nắng loang loáng trên mái tóc Nhiên nhẵn thín. Nắng loá con đường giữa trưa sáng bóng các biển hiệu. Nhà may Thủy Tiên, hiệu sơn Tất Thành, Karaoké Thời Mới… Một giờ trưa, nắng toé lửa. Chúng tôi hứng trận nắng như hứng những mảnh mặt trời nguyên vẹn rớt ụp xuống mặt. Tôi muốn dừng xe uống nước, nhưng Nhiên vẫn lầm lũi chạy tiếp, thỉnh thoảng quay lại kêu: ‘‘Nhà anh Mậu khó kiếm lắm’’. Tôi nghĩ Nhiên lạc, vì chúng tôi quần tới quần lui khúc giữa Sư Vạn Hạnh và nhà thờ Ba Chuông. Trận nắng nhảy múa trước giỏ xe cub như một ảo ảnh. Tôi trông thấy lại cảnh gia đình hốt hoảng chạy ra phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi trông thấy lại cảnh chen lấn giữa tiếng súng Quân Cảnh cố vãn hồi trật tự. Thầy căng thẳng cực độ lái xe Toyota chở chúng tôi im thin thít tìm cách rời khỏi Sàigòn hỗn loạn. Cũng con đường này, qua khỏi đường rày xe lửa, nhà thờ Ba Chuông đâm lên Lăng Cha Cả, tôi bó gối sợ hãi trông thấy một thanh niên bê bết máu phóng xe Honda lao ngược chiều la lớn ‘‘tụi nó chiếm Tân Sơn Nhất rồi’’ và gương mặt Thầy nhăn nhúm tuyệt vọng. Thầy quành xe lao về hướng Khánh Hội tìm một đường sống khác. Vô ích, Thầy không biết Thầy sẽ chết 13 ngày sau đó khi lá cờ Quyết Chiến Quyêùt Thắng bay trên nóc hầm De Castrie tại Ðiện Biên Phủ một lần nữa phất lên ngạo nghễ ‘‘hãnh tiến’’ trên đường phố Sàigòn của tháng 5 im lặng. Thầy không biết, Thầy sẽ vĩnh viễn yên nghỉ tại đây, trên mảnh đất này, nơi Thầy di cư tìm đường sống tháng 9-1954.
Bà gởi tôi đi vượt biên thực hiện một hoài bảo đã có từ những ngày Hà Nội sau tản cư. Bà gởi tôi đi, nhưng tôi trở về để chứng kiến lại một lần nữa, nỗi tuyệt vọng của gia đình buổi sáng 30 tháng 4 trên con đường này. Những tuyệt vọng hãy còn loang loáng ẩn hiện trên các mặt tiền những ngôi nhà đường Trương Minh Giảng. Những lớp cửa sắt im phắc. Những cánh cổng của những ngôi nhà ban trưa đóng kín, im ỉm. Tất cả giống câm điếc, giống những mặt người không thốt thành lời, chỉ có những dấu hỏi ngầm giữa tròng mắt: ‘‘Tìm gì? muộn rồi.’’
Tôi nhìn mặt đường. Tôi nhìn hai hàng cây. Tôi nhớ rõ, chỗ này bánh bao Ông Cả Cần, chỗ kia bò nhúng dấm, Thầy vẫn đưa gia đình đến ăn những tối thứ bảy. Tôi còn nhận ra hàng hiên lớp hội họa truyền thần bà ghi tên cho tôi học vẽ bây giờ là tiệm mát xa chân với đèn ông sao xanh đỏ. Vẫn con đường này, như không thể có con đường nào khác, vẫn là những thước nhựa tôi đã dẫm lên thời bé, nhưng đã là lớp nhựa tráng tên người khác.
Lê Văn Sỹ, tôi không biết là ai, nhưng tôi biết Trương Minh Giảng đánh Trấn Tây Thành, chiếm Kampuchea. Sao Trương Minh Giảng cũng thi hành nghĩa vụ quân sự quốc tế, giải phóng nhân dân Khmer mà tên ông bị bại đi trên các cột đèn này? Còn sống chắc ông nổi cơn thịnh nộ. Còn sống, tôi với Nhiên không dám nổi cơn thịnh nộ. Thế hệ tôi thiếu dũng, kiên, cường. Thế hệ tôi sợ hãi ở mỗi ngã tư đèn xanh đèn đỏ bị công an kêu lại xử lý.
Nhiên đỗ xe. Chúng tôi đi tìm một nhà văn miền Nam.
Miền Nam? Một quốc gia biến mất. Văn chương miền Nam? cũng biến mất. Còn Dương Nghiễm Mậu? một gương mặt bí hiểm. Thế hệ tôi chưa kịp đọc ông. Chúng tôi hãy còn quá nhỏ, dù miền Nam tràn ngập sách báo, dù chúng tôi đi thuê truyện mỗi chiều, ngốn ngấu Duyên Anh, Nguyễn Thanh Trịnh, Ðinh Tiến Luyện, Từ Kế Tường, Nguyễn Ðình Toàn… Chúng tôi chưa ai đọc Gào Thét, Buồn Vàng, Ngày Lạ Mặt, Cũng Ðành,… Dương Nghiễm Mậu ở một thế giới nào đó vô cùng xa xôi mà chúng tôi không thể mường tượng. Tháng 4-75 đến quá sớm để tuổi trẻ kịp tận hưởng.
Dương Nghiễm Mậu tiếp tôi với Nhiên trong ngôi nhà lát đá mát lạnh. Không khác mấy khí hậu trong truyện ông, khô, lạnh lẽo. Mỗi tiếng động đều hàm chứa một nội dung rõ rệt, tựa như những điều muốn nói phải qua một phiến lọc khác dành riêng cho những ai có khả năng hiểu ra. Dăm bức sơn mài Dương Nghiễm Mậu làm lấy treo trên vách. Một gói thuốc Con Mèo gần cạn. Tủ sách để tượng trưng trống rỗng.
Tủ sách của một nhà văn miền Nam sau ngày “giải phóng” trống rỗng. Tôi nhìn tủ sách kỳ lạ. Thầy cũng có một tủ sách và tủ sách ấy ăn vào tuổi thơ tôi không hề biến mất. Tôi không thể nhớ tủ sách đem về khi nào, chỉ biết, từ lúc có trí khôn, tủ sách đã ở đó, chễm chệ và sừng sững. Thầy buôn bán theo truyền thống Trung Hoa, nhưng tủ sách chiếm nửa bức tường. Chiếc bóng của chúng tôi, của kẻ ăn người ở trong nhà luôn chao lượn lên khung kính phản chiếu những hình ảnh lặng lờ. Những khi tôi ngủ quên trên ghế đệm, tủ sách ngả chiếc bóng đen đè lên mình. Khi tôi thức giấc, chiếc bóng hoá trở lại thành tên khổng lồ mặt gỗ chứa thật nhiều sách rình rập canh chừng. Nhưng tôi lớn lên và nỗi sợ hãi biến mất, chỉ còn những tò mò thấp thoáng trên các tựa sách ở tầng cao khóa kín. Chính trong những năm đầu trung học đệ nhất cấp, khi chiều cao cho phép với lên phần có ổ khoá, tôi khám phá Dương Nghiễm Mậu. Sách của ông xếp cạnh sách Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng. Tuổi Nước Ðộc, Con Sâu, Trong Hoang Vu, xếp cạnh Mười Ðêm Ngà Ngọc, Sống Chỉ Một Lần, Viên Ðạn Ðồng Chữ Nổi, Hạnh Phúc Ðến Về Ðêm, Vòng Tay Học Trò, Dưới Vừng Hoa Trắng, Tiếng Chuông Gọi Người Tình Trở Về…
Tôi không bao giờ được phép xem. Với tôi là một khiêu khích. Tôi vẫn đi thuê truyện, say mê với Hitler và Những Tên Ác Qủy Y Khoa, Hitler và Mặt Trận Miền Ðông, Moshe Dayan Bức Tường Thành Do Thái, Tora Tora Tora Bay Về Trân Châu Cảng, Kamikaze Những Trận Không Chiến Dữ Dội Nhất Lịch Sử Thái Bình Dương, Về Miền Ðất Hứa …nhưng Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo vẫn là một kích thích. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu vì sao mình đã ngoan ngoãn nghe lời Thầy đến như vậy, tôi thuê truyện, nhưng chỉ thuê những cuốn sách Thầy cho phép đọc. Những cuốn sách nhà cấm, tôi nhìn tò mò, nhưng không cầm đến. Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Thế Uyên, Mặc Ðỗ, Thế Phong, Nguyễn Thụy Long,… xếp ngay ngắn sau lớp kính có ổ khoá.
Buổi trưa ngồi với Nhiên, Dương Nghiễm Mậu không nói điều gì. Ông chỉ lẳng lặng pha trà cười nhẹ nhàng, nghe Nhiên nói, nghe Nhiên kể về nỗi sôi sục huyết quản của một thi sĩ, của Nhiên và bạn bè Nhiên. Tôi khác Nhiên, tôi chỉ muốn hiểu thế giới bí mật của văn xuôi. Dương Nghiễm Mậu cười nhẹ như tàu dừa lay, gần như ông không động đậy. Ở Dương Nghiễm Mậu nụ cười diễn ra ở chuôi mắt, ở ngón tay đập cán thuốc mà nhịp nhanh chậm thay cho tiếng cười luôn luôn kín đáo. Dương Nghiễm Mậu rót trà. Ông hiểu thế hệ tôi và Nhiên không còn ai uống trà nữa, nhưng ông vẫn rót. Váng nước vàng màu mỡ gà, giữa buổi trưa nóng hực sủi tăm như số lượng dấu hỏi chất chứa trong đầu tôi từ buổi trưa tháng 5-75 Bà mở khoá cho chúng tôi đọc tất cả sách người lớn của tủ sách đồ sộ, trong vòng 48 giờ rồi Bà đem bán ký vì Công an phường đã ra lệnh tịch thu văn hoá phẩm đồi trụy của Ngụy. Tôi còn nhớ Bà bán cân ký 150 đồng ông Thiệu mỗi ký. Bà bán sạch tủ sách, kể cả sách thiếu nhi Lữ Hân Phi Lục, Phan Tân Sĩ Phú, Tintin, Lucky Luke, Astérix Obélix, chở đi mấy xe ba gác. Bà bán sạch tuổi thơ tôi trong chớp mắt. Làm sao tôi đọc hết hai mươi năm văn học miền Nam trong 48 giờ? Làm sao tôi trưởng thành kịp trong 48 tiếng để hiểu những chiếu bài mạt chược, trong phòng khách sạn rì rầm, hai người đàn ông đàn bà làm gì trên mặt nệm trong tiểu thuyết Mai Thảo. Tôi chưa đến 13 tuổi nhai ngốn ngấu Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng trên sân thượng giữa trưa nắng ngun ngút, cố mường tượng ra cô giáo Hoàng với đồi thông Ðà Lạt trong ngôi nhà gỗ thông thơm phức với tên nam sinh tên Minh sớm biết hút thuốc, có bật lửa zippo và gan dạ tán tỉnh cô giáo. Tôi ngốn ngấu Tháng Giêng Ðưa Ðám của Nhã Ca, kinh ngạc khám phá tiểu thuyết có sức chở mang gấp mười lần tivi số lượng hình ảnh Tết Mậu Thân ngoài Huế. Trưa nắng thiêu đốt. Tiếng động chiến xa T-54 ầm ĩ từ Gò Vấp đổ xuống Phú Nhuận băng lên đại lộ Hai Bà Trưng không át nổi âm thanh của 16 vỏ chai bia mỗi ngày Túy Hồng quắp rổ đi đổi cho Thanh Nam lúc còn sống trong building Cửu Long và diễn ra trong tiểu thuyết Tôi Nhìn Tôi Trên Vách. Không át nổi tiếng nhạc xập xình mỗi buổi tối cô ca ve đi làm luôn có một người đàn ông chờ sẵn, đem đến một gói Salem xanh biếc trong Thủy và T6 của Thế Phong… Tôi khám phá xã hội miền Nam ngay trong ngày xã hội đó bị xích sắt T-54 nghiến nát dưới lòng đường. Tôi chưa kịp đọc Dương Nghiễm Mậu. Tôi chỉ kịp trông thấy ông bị vất lên xe ba gác chở ra lề đường. Nhưng cũng chỉ một hai tháng sau lề đường bị truy quét tàn dư Mỹ Ngụy và ông biến mất.
Dương Nghiễm Mậu hiện ra trở lại buổi trưa Lê Văn Sỹ. Ông yên lặng quan sát tôi với Nhiên. Chúng tôi, những độc giả thiếu nhi của miền Nam cũ, cũng đột ngột hiện ra trước mắt ông. Cũng đành… dường như ông muốn nói vậy. Tôi cũng quan sát ông, quan sát cái tủ sách trống trơn của một nhà văn miền Nam. Tôi ngắm ông với cảm giác kỳ quặc là ông hãy còn trong tủ kính bị khóa, giống như ông đang là cuốn sách câm chưa được phép mở ra cho tôi xem. Nhưng Dương Nghiễm Mậu vẫn ở đó, trong sâu thẳm của một miền Nam ngã đạn.
© Copyright Trần Vũ

Di Vật

Trần Vũ: Di Vật
By HoangHac • May 29th, 2009 • Category: Bút Ký

Mỗi con người ngày nay mang trong mình một di vật. Với tôi là chiến tranh và tiểu thuyết. Chiến tranh của suốt tuổi hoa niên không bao giờ chấm dứt và tiểu thuyết của một thời đại đã biến mất. Không biết từ bao giờ tôi nghiệm ra tuổi thơ của mình vẫn chưa chấm dứt. Tiếng súng AK trong đêm tối Tết Mậu Thân còn hộc lên như nhát búa. Tiếng súng in sâu vào tâm trí mà tôi không hay.
Lần đầu tiên tôi nghe tiếng súng sát cạnh nhà. Cả ánh lửa của trái hoả tiễn vút qua cửa sổ rồi nổ ầm rung chuyển trước khi khói bốc lên cao. Căn phòng tôi ở lầu hai, trông xuống xóm Chùa. Mẹ sai chị Ni tháo chấn song sắt của ô cửa sổ trông sang hãng Sáo công ty. Mẹ dặn nếu Việt Cộng đập cửa, u dẫn các em chui qua cửa sổ, lần theo mái ngói xuống nhà ông bà Văn Chung. U Đào vâng dạ. Tròng mắt u đầy kinh hãi. Thầy vắng nhà, xuống Long An khai trương rạp hát. Nhà không đàn ông nhưng mẹ vẫn bình tĩnh thu xếp mọi thứ. Một túi quần áo, một túi gạo và tư trang gói trong khăn lụa. Mẹ sắp xếp với kinh nghiệm tản cư từ Hà Nội. Câu chuyện tản cư chúng tôi nghe không biết bao nhiêu lần, cả nhà chạy về quê nội, rồi ông bị đấu tố, trói giật cánh khuỷu ở hàng rào ngôi nhà bây giờ là uỷ ban tỉnh Vĩnh Phú. Thầy và chú Ích bị trói quỳ ở giếng, nhảy dù Tây bất ngờ nhảy xuống Phú Thọ, bắn nhau trong vườn và bà nội lạc đạn, chết trên đường tải thương. Dường như từ ngày đó, ông im lặng. Từ ngày đó thầy và mẹ không còn ủng hộ Việt Minh.
U có ủng hộ Việt Minh không? U đang đứng run rẩy, mãi u mới thưa bẩm: Thưa mợ, thế còn đồ đạc trong nhà ai trông? Mợ cho con ở lại trông chừng. Mẹ gạt: Bổn phận u là trông các em. Nhà này bỏ của chạy lấy người, u quên Phú Thọ rồi à.
U sắp sụt sùi. U từng chứng kiến bao cảnh gia đình tôi chạy loạn. Ngày xưa còn con gái vào ở cho gia đình ông, u có thương bà nội như thương mẹ bây giờ, u nghĩ gì khi vốc đất lấp mả hoang cho bà ven vệ đường? Chắc u ít kỷ niệm với đất Quảng của u bằng đất Bắc. Ít gắn bó với quê u như gắn bó với gia đình tôi. U lưu lạc phương nào làm sao từ đất Quảng Ngãi lại ra đến Phú Thọ, rồi theo thầy mẹ về thành, rồi di cư vào Nam. Sao u không theo Việt Minh mà theo về vùng tạm chiếm? Họ đấu tranh cho giai cấp của u mà. Nhiều năm sau này tôi hỏi: Sao gọi Sàigòn là vùng tạm chiếm? Phải gọi Lộc Ninh, Phước Long là vùng tạm chiếm mới đúng. U trả lời u chả biết. Và tôi cũng không biết. Nhưng năm 68 tôi hãy còn bé, tôi chưa biết đặt những câu hỏi khó như vậy. Tôi chưa biết chuyện gì xảy ra. Đất nước đang chiến tranh, tôi không hề biết. Mai Thảo đang viết tiểu thuyết, tôi không hay. Tôi chỉ biết đến u Đào và con đường từ nhà ra đến chợ Tân Định. Mỗi sáng u cầm tay giắt tôi băng qua đường, đi về hướng nhà thờ. Rồi u mua cho tôi cây kem, khi bịch bánh cay, trước khi u mỉm cười đứng ngó tôi bước chân qua cánh cổng sắt có các dì phước hung ác đứng canh. U Đào, u là ai? Cho đến bây giờ, hai mươi năm sau khi viết truyện Gia Phả, tự phong mình làm Thiếu Đế, vị hoàng đế cuối cùng của triều Trần, cho nhân vật u Đào đi ở cho tộc Trần, nuôi dưỡng Linh từ quốc mẫu Trần Thị, tôi vẫn chưa biết u là ai. Tên tuổi, làng quê, chánh quán của u, gia cảnh của u ra sao, u còn trinh hay không? Tôi chỉ biết u sống với gia đình mình từ lúc thầy còn trai trẻ, mẹ chưa về làm dâu, chúng tôi sinh nở trên tay u, trên hai cánh tay ẵm bồng của u, cho đến buổi tối Mậu Thân u tình nguyện ở lại giữ nhà.
Chúng tôi hét: Không, u đi với tụi con, u không được ở lại!
Chúng tôi níu lấy u làm như đã sắp chia cách.
Mẹ gắt: Im! Tiếng chân người đi lạo xạo ngoài cửa. Tiếng đập cửa ở các nhà chung quanh. Mẹ thì thào: Ni lên phòng ông tắt cây đèn trần. Nhanh. Chị Ni quýnh quáng trong lúc mẹ tắt cây đèn nhỏ thắp trên bàn thờ. Chúng tôi cứng người vì sợ hãi, bàn chân tôi lạnh như nước đá. Tôi lại bấu lấy u, đeo cứng lấy u không cho u nhúc nhích. Tôi chưa hình dung thế nào là Việt Cộng nhưng biết mẹ rất sợ những con người ngoài cửa. Tiếng đập cửa mỗi lúc một lớn. Tiếng quát tháo bắt mở cửa, lẫn tiếng gia đình Pharmacie Dung khẩn khoản. Pharmacie Dung sát vách nhà tôi. Mẹ bảo u cho các em chui qua cửa sổ. Mau. U Đào bắt đầu run. Chị cả giục Vũ nhanh lên! Tôi rướn người, uốn lưng luồn giữa hai chấn song. Bên trên trời đầy sao. Cả một vòm trời đầy sao bất chợt lấp lánh trên nền tím lạ thường. Phải sau này tôi mới hiểu vẻ đẹp của sự bất trắc. Nền trời khuya ửng những đám cháy hoà với các giải mây đen làm thành màu tím. Mãi sau này tôi mới nghi hoặc những tín hiệu của trời đất, các đốm sao muốn báo hiệu nguy biến, như trong chuyến hải trình vượt biên, giữa đêm tôi chợt khám phá biển chớp sao trước khi tàu chìm. Nhưng năm 68 tôi còn bé, lần đầu tiên trông thấy nền trời khuya không phản chiếu ánh điện. Gió mát từ kênh Nhiêu Lộc đưa tiếng còi hụ ở xa.
- Vũ nhanh lên! Chị cả thúc giục.
Tiếng súng nổ lúc đó. Tiếng súng nổ ran ngay trước cửa nhà. Tiếng súng nổ mạnh lắm. Lính Mỹ trên binh đinh Yên Đỗ đối diện bắn xuống mặt đường Hai Bà Trưng. Tôi nghe tiếng đạn chọc trên lớp nhựa. Tiếng đạn nạo lòng đất. Tiếng la hét, tiếng chạy huỳnh huỵch. Mẹ hốt hoảng lôi tuột tôi xuống. Cả nhà núp dưới bàn thờ. Lúc này tiếng súng liên tục. Tiếng súng đập vào hai lớp cửa sắt rung như bị nện búa. Tất cả đồ đạc lay chuyển. Không phải chúng tự chuyển động mà mỗi khi bích kích pháo rớt, tiếng ầm như sát bên cạnh, cả nhà lại nhốn nháo chạy từ vách tường bên này sang vách tường bên kia, hất đổ lọ bình, xô lệch bàn ghế.
Tiếng súng át tất cả, nổ từng tràng, từng chập rồi đứt quãng, rồi lại râm ran. Chúng tôi theo dõi gương mặt mẹ để đoán chừng an nguy. Gương mặt mẹ căng thẳng tột độ. Mẹ cũng đang theo dõi tiếng súng với hy vọng lính Mỹ tiếp tục bắn trả. Gương mặt mẹ khi ấy hẳn giống gương mặt mẹ ở Phú Thọ. Như mẹ kể lại. Mẹ đã khẩn cầu rồi vui sướng siết bao khi viên quan ba Tây chạy đến. Chậm một phút nữa là thầy và ông nội các con bị họ giết. Họ tra khảo để khảo của. Gương mặt mẹ lo lắng pha lẫn hy vọng. Hy vọng lính Mỹ tiếp tục chống trả. Sau này tất cả chị em chúng tôi đều cùng tự hỏi: Vì sao dân tộc chống Pháp giành độc lập mà gia đình chúng tôi lại mừng rỡ khi lính Tây nhảy dù xuống? Vì sao tướng Salan khi ném 3 tiểu đoàn Nhảy dù xuống Phủ Đoan, Đoan Hùng, Phú Thọ trong cuộc hành binh Lorraine đã vô tình cứu sống gia đình tôi? Vì sao Việt Minh muốn thắt cổ thầy, muốn hành quyết ông? Gia đình chúng tôi không làm việc cho Tây, mà yêu đất nước này. Ông không phải là địa chủ, nhà không có đất. Ông thừa kế hiệu thuốc Bắc của cố, mở thêm gian bán vải, ông chú có tiệm bánh trung thu. Có gì giàu sang đâu mà phải tội. Có cái gì đó trái ngược đến phi lý. Vì những con người giành độc lập là những con người tàn nhẫn, triệt hết tất cả những ai khác biệt. Chú Minh về sau giải thích như vậy. Nhưng vì sao ông cố là người Trung Hoa, gia đình tôi là một gia đình Trung Hoa chạy loạn sang Việt Nam lại can dự vào cuộc chiến này, mà thầy đứng hẳn về phía miền Nam, hy vọng Bắc tiến? Tôi không hiểu.
Năm 68 tôi chưa biết thắc mắc. Tôi chỉ là đứa bé kinh sợ mỗi khi tiếng đạn chọc vào lớp cửa sắt. Lớp sắt rung lên như tiếng nấc trong lòng tôi cố kềm hãm. Tôi chỉ biết thúc đầu gối vào mạn sườn u và ôm u chặt cứng. Tiếng đạn sẽ mãi mãi, vĩnh viễn, không bao giờ biến mất. Kể cả sau Mậu Thân. Chúng chốt xoáy trong trí óc tôi một đầu đạn vô hình. Chúng chọc thủng tấm màn lịch sử buộc phải tự tìm hiểu.
Tôi nhắm chặt mắt, bưng tai, dúi mặt vào ngực u tìm sự bảo bọc, tìm cả sự êm ái mà chỉ có u mới có thể đem đến cho tôi vì mẹ luôn cứng rắn. Đến khi u bế xốc tôi lên, tôi mở mắt nhìn thấy lửa cháy cuồn cuộn phừng phừng trên các dẫy nhà phía sau đường Đặng Tất trong xóm Chùa. Cháy, cháy, mợ ơi. Cháy. U hốt hoảng. Mẹ quát: U đưa các em xuống lầu. Mau. Ni hứng nước vào các chậu, nếu lửa lan đến nhà mình thì dội. Mẹ sắp xếp, phân bố công việc cho tất cả mọi người. K, anh cả xách túi áo quần. Chị N, chị cả kéo bịch gạo. U bế tôi xuống bếp. Sân bếp tối om. Tiếng ống nước chảy chị Ni đang hứng vào chậu kêu như thác.
Đến khi súng ngớt, chị Ni thì thầm: Họ rút đi rồi. May lính Mỹ đóng trước nhà mình. Tôi nhớ đến toà binh đinh quét vôi trắng, kế bảo sanh viện Lương Kim Vi, hằng ngày có những người lính cao lớn, ngón tay to bằng quả chuối hay ngoắc vẫy lũ trẻ chơi đánh đáo trong xóm, thảy những phong kẹo cao su. Thầy cấm không cho tôi lượm và cấm lai vãng đến gần. Toà binh đinh đồ sộ trước cửa, chỉ cần tôi lên lầu ba là nhìn thấy, ngay bên kia đường, trên sân thượng có chất bao cát. Mấy người lính gác hay đi qua đi lại trên nóc sân thượng hút thuốc. Tôi nhớ người lính da đen có đôi mắt lồi trắng dã mà chúng tôi gọi là ông kẹ. Tôi tưởng tượng ông kẹ đang bắn nhau với Việt Cộng. Tôi tưởng tượng chú Hải, chú Diệp, chú Các, chú Xá đang bắn nhau với Việt Cộng. Thầy ở đâu? Tôi nhớ thầy da diết. Tôi thèm được thầy hôn vào má, những cọng râu cứng của thầy làm tôi rùn mình. Tôi chưa biết lo lắng, nhưng tôi nhớ thầy, loáng thoáng hiểu thầy gặp nguy hiểm, tôi đọc nhẩm bài kinh Kính Mừng mà các sơ dạy trong trường để cầu nguyện cho thầy. Nhưng tôi chỉ đọc được mấy câu Kính mừng María đầy ơn phước, đức chúa trời ở cùng bà… rồi thiếp vào giấc ngủ. Trong giấc ngủ là một quãng vắng bình yên mà trí nhớ tôi không lưu trữ.
Sáng hôm sau tôi thức giấc dưới chân bàn thờ Phật, bức hình ông vẫn hiền từ bên cạnh hình bà nội chết trẻ. Tôi nằm giữa những cánh mai vàng lấm tấm rụng trên đất. Cành mai sáng mùng một còn vàng hoe bây giờ đã sớm rụng. Mùi nhang ngào ngạt. Mẹ đang khấn vái trước bàn thờ vẫn còn đầy hoa quả. Đĩa chôm chôm. Đĩa soài cát. Đĩa nhãn mọng. Quả dưa hấu to tướng và bốn cặp bánh chưng của cô Cắm gói. Tôi kêu đói. U nói để u đi chiên bánh chưng. Cả nhà túm tụm ở tầng thờ. Tôi biết đêm qua u Đào bế tôi lên trong giấc ngủ. Tôi dụi mắt nghe chị Ni nói đặc công nằm vùng uýnh binh đinh Mỹ thua rồi. Chúng tôi chạy ra cửa. Mẹ la: U không cho các em ra ngoài. U cản. Chúng tôi tiu nghỉu đứng sau hai lớp cửa sắt kín bưng. Ngôi nhà thiếu ánh sáng âm u. Trong bóng tối yên lặng tôi đếm những lỗ thủng trên tấm sắt, nắng rọi qua như những ống hơi ai luồn qua cửa, những ống hơi sáng trong vơ vẩn bụi bay theo đường ống. Tôi lấy tay chận ánh sáng, đưa qua đưa lại trước lỗ thủng trước khi áp sát vào lỗ sắt rồi xoè ra xem chiến tranh đã in lên bàn tay mình chưa. Bàn tay tôi trắng trẻo không dấu vết. Chiến tranh vẫn còn phía bên kia đường. Tôi an tâm. K đang châu mắt vào một lỗ thủng. K vừa nhìn vừa nói có mấy xác chết trước hiệu phở Bình. Tôi cũng châu mắt vào xem. Qua lỗ thủng, trên mặt đường một xác đàn ông tênh hênh không thấy mặt. Một xác khác nằm úp tay quặp dưới bụng. Một xác nữa ruột đổ ra mặt đường. Chung quanh có lớp sẫm sền sệt. Không thấy súng, chỉ có một cái khăn ca rô sọc ngang sọc dọc vất lây lất gần nắp cống. Tôi cố ngước nhìn lên binh đinh Mỹ, nhưng mấy cái lỗ đạn quá thấp, quỳ gối cũng không nhìn thấy, chỉ thấy cái bục gác trống không.
Đến trưa nhà ông Thanh Tùng chạy sang đập cửa nói đánh lớn ở kho quân cụ, bộ tư lệnh hải quân bị vây rồi. Mẹ không cho mở cửa. Cô Ốn điện thoại báo tin chú Ốn kẹt ở cổng số 4 bộ Tổng Tham Mưu chưa biết sống chết. Chú Sâm bị bắn chết ở Tổng Nha Cảnh Sát. Chú Diệp, chú Các, chú Hải ứng chiến không có tin tức. Việt Cộng đã vào Sàigòn. Chú Hênh từ dưới Chợ Lớn điện tiếp: Chị Bảo, Pá em sang với cô Cắm bị kẹt ở cầu chữ Y rồi, đánh lớn lắm, tụi nó về nhiều lắm. Chế Màn hỏi anh Pảo có tin tức gì không?
Vẫn chưa có tin của thầy. Mẹ cũng bấn, cố giữ bình tĩnh, thắp thêm nhang, sai u đong thêm túi gạo. Mẹ dặn đong ít thôi, không vác nặng, u còn phải trông các em. Rồi mẹ gọi lại cho cô Sâm chia buồn, cô Sâm là nữ quân nhân, chú Sâm vừa biệt phái về Tổng Nha mấy hôm trước Tết. Nhưng đường dây điện thoại bị đứt. Chị N bật truyền hình, đài truyền hình không phát hình. Mẹ bảo mở radio, các bản nhạc hùng trầm bổng. Chị N nghĩ Việt Cộng chiếm đài phát thanh rồi. Mẹ bảo Chưa. Nếu đài phát thanh bị chiếm họ đã phát lệnh hiệu triệu. K hỏi nhưng nếu chưa bị chiếm sao không có tin tức. Mẹ không biết. Mẹ muốn gọi cho cô Út, cô Cắm, thím Hải, hỏi thăm các chú được lệnh trình diện đơn vị, nhưng đường giây vẫn bị cắt. Súng lúc này không còn nổ phía chùa Vĩnh Nghiêm mà âm âm khu cầu Sắt. Chị em chúng tôi rúc xuống bếp. U lại chiên bánh chưng. U khuyên Mợ ăn lấy sức. Mẹ đụng đũa chiếu lệ, than thở: Không biết ông Bảo bây giờ ra sao. U an ủi mẹ: Cậu mợ ở hiền, trời Phật độ. Tuy nói vậy, nhưng u cũng rươm rướm nước mắt. Chị em chúng tôi ai cũng nhớ thầy. Sợ thầy gặp nạn. Sau Tết Mậu Thân thầy kể, chuyến xe đò của thầy đi từ Long An lên Sàigòn bị Việt Cộng chận. Việt Cộng của tỉnh đội Tân An pha đèn bấm giữa mặt thầy, may mắn xe ở đồn quân cảnh chạy ngang, Việt Cộng xả súng bắn rồi bỏ chạy, thầy nhảy xuống mương, đến khi liên đoàn Bảo An đi qua được cứu. Tội chết mất ông trung sĩ quân cảnh. Lần nào kể chuyện, thầy cũng nhắc đến ông trung sĩ thế mạng, nếu không có ông chắc thầy đã bị bắt đi.
Lúc này bích kích pháo rơi xuống phía Gò Vấp liên tục. Lửa cháy ở phía Hàng Xanh có cuộn. Tiếng hoả tiễn rơi nghe rất lạ. Ban đầu giống như có tiếng sáo, rồi tiếng gió hú, tiếng nổ làm mặt đất rung, cuối cùng mới là tiếng rít xoáy. Gia đình ông Thanh Tùng di tản, chạy ngang nhà đập cửa: Tụi nó vào tới Tân Sơn Nhứt, Tổng Tham Mưu rồi, chạy đi. Ông bà Tuấn Kiệt cũng chạy qua nhà gọi: Bà Bảo chạy đi, Việt Cộng chiếm trại Phi Long, Lăng Cha Cả rồi. Mẹ bất đầu mất điềm tĩnh. Gia đình ông bà bán hàng sơn cũng chạy, chỉ có hiệu bún bò Tân Thanh khuyên mọi người ở lại. Mẹ hối: U đã cất đồ của cụ chưa. U hấp tấp, vừa bế tôi vừa cho các di vật trên bàn thờ vào bao. Bốn tấm ảnh của cụ cố, ông nội, bà nội, chị Zính. U với tay lấy cái tráp, bên trong có một cuốn vở ghi gia phả, vài cặp kính của những người đã khuất, chiếc bậc lửa đốt dầu hôi bằng nhôm của ông và một ve rượu đế. Tôi nhìn u túm tất cả lại, kỹ lưỡng, tuy gấp gáp mà u vẫn gói thận trọng sợ vỡ khung ảnh, làm như u sợ ông la. Tôi biết cái tráp. Nhiều lần tò mò mở xem, tôi hỏi Tại sao nhà mình giữ ve rượu. Thầy nói ve rượu là di vật, không được vất. Cô Cắm nói ve rượu ông nội cháu uống dở khi chết. Ve rượu đem từ ngoài Bắc, ông nội cháu đi đâu cũng giắt theo mình. Tôi vặn nắp chai. Chiếc nắp thiếc đã rỉ, đáy ve cạn khô, nhưng hơi rượu cay đến chóng mặt. Chiếc bậc lửa bằng nhôm có khảm mấy chữ Tàu, bên dưới khắc 1920. Bây giờ Sàigòn còn chiếc bậc lửa nào chạy dầu hôi hay không? Cuốn gia phả viết bằng ba thứ chữ Hoa, Pháp, Việt. Tôi chỉ đọc được phần cuối tiếng Việt, do ông chú chép: Cố tên Lưu Kim Nhật, ông tên Lưu Phú Chương, ông chú tên Lưu Phú Quý, thầy Lưu Linh Bảo. Sao phần cháu không ghi gì. Cô Cắm cười ông chú chừa trang cho cháu sau này viết. Cái tráp chỉ là một hộp bánh biscuit. Tôi nhìn u bọc thêm lớp gấm rồi thắt bao vải. Mẹ gọi U ơi nhanh lên. Giọng K sốt ruột, u ơi người ta đi hết rồi. N đâu? Ni lên phòng xem N đâu? Chị N xuất hiện. Chị mặc đầm trắng, nón trắng, giày trắng, ví đầm, bước xuống cầu thang. Con xong rồi mẹ. Chị nhoẽn cười. Cô đi thay đồ ngay cho tôi. Mẹ gắt. Chị phụng phịu. Chị là hoa khôi Thiên Phước, chị tâm niệm phải luôn xinh đẹp trong mọi hoàn cảnh. Tôi hỏi u, con có phải thay đồ không u. U vuốt đầu: Cậu mặc như vậy được, để u mang tất cho cậu. U chòng bít tất cho tôi, trong lúc tôi lại hỏi: Con mặc pyjama ra đường hở u? U cười pyjama của cậu hách lắm.
Súng bất chợt nổ ác liệt. Súng bắn liên thanh miệt dưới Chi Lăng rồi lan ra cả phía cầu Bông. Chị Ni chạy thục mạng từ cửa vào hốt hoảng: Cô ơi lính Mỹ rút rồi. Đánh tới dưới chân cầu rồi. Mẹ quyết định chạy theo lính Mỹ. Nhưng lính Mỹ đã biến mất. Toà binh đinh bỏ không. Trống hoác. Không còn ai trên tầng thượng chỉ còn trơ dẫy bao cát. Cánh cửa sắt mở toang phơi bày mặt đường ngổn ngang ba cái xác vẫn nằm đó, cạnh đoàn người chạy loạn từ bên kia Phú Nhuận băng qua cầu Kiệu tràn xuống Hai Bà Trưng. Ánh sáng sáng trưng. Ánh sáng đến nhức mắt. Chiến tranh phơi bày tất cả dữ dằn. Những sợi dây điện đứt, mấy chiếc xe hơi kính bể nát, một tấm biển quảng cáo thuốc lá Mélia thủng lỗ chỗ. Chúng tôi đứng líu ríu nép bên mẹ và u Đào. Ánh sáng nhức mắt vì chúng tôi ở trong bóng mờ quá lâu. Nhưng sau này tôi vẫn muốn nghĩ chính hình ảnh thật của chiến tranh làm chúng tôi nhức mắt chứ không phải ánh nắng. Chiến tranh làm đau đớn đôi mắt của người Việt, chứ không phải mặt trời. Sau này tôi nghĩ vậy. Khi ấy, K để ý lá cờ vàng ba sọc treo trước nhà sáng mùng một bị ai giật mất. Chị N thắc mắc anh Trình bên Pharmacie Dung có bị Việt Cộng bắt hay không. Sao cửa sắt bên đó im lìm hay họ bị Việt Cộng dẫn đi hết rồi. Mẹ hối chúng tôi nhập vào dòng người. Mẹ dặn: U và Ni nắm tay các em không được để lạc. Trường hợp lạc đưa các em đến dưỡng đường của bác sĩ Nguyễn Duy Tài trên đường Duy Tân, không được đến đâu khác. Nói là gia đình bà Bảo Lợi thầu cung cấp ở Vũng Tàu lúc trước. U nhớ không? U lắp bắp nhưng mẹ đã bắt u nắm chắc lấy tay tôi rồi hối cả nhà chạy theo đoàn người. Tôi bỡ ngỡ nhìn đường phố tôi vẫn đi học mỗi sáng. Mới hôm qua xác pháo còn đỏ thẫm. Mới hôm qua tôi đứng bịt tai xem K châm pháo. Pháo nổ ròn rã, ròn tan. Pháo đì đùng. Tôi say mùi pháo thơm ngát, túi ngập phong bao lì xì. Bây giờ đại lộ Hai Bà Trưng rách nát. Tôi nhìn hiệu thuốc cam hàng Bạc, hiệu uốn tóc Tân Hồng Kông, tiệm Hải Ký, tiệm bánh cuốn Thanh Xuân, tiệm kem Ngọc Lan, rạp hát Kinh Thành, tất cả hiện ra, tơi tả. Tất cả dị hợm đến kỳ dị. Mấy xe mì ngả chỏng chơ, sạp bánh cuốn bị ai lôi ra lề đường, hiệu ảnh Chí Mỹ bể kính, các tấm phông vẽ đoàn cải lương Dạ Lý Hương rách loang lổ, xe nước mía đầy vết đạn. Bảo sanh viện Lương Kim Vi chật cứng người. Rồi tôi không thấy gì nữa. Người lớn chen lấn tứ phía. Những thân người to lớn húc đẩy vây lấy chị em chúng tôi. Tôi nghe tiếng u Đào van vỉ, van xin mọi người đừng dẫm lên chúng tôi. Ông ơi cho các cháu đi qua. Nhưng u cũng bị lấn. Cuối cùng u cõng tôi lên lưng, một tay xách túi gạo, u đeo bao di vật quanh cổ. Trên lưng u, tôi thấy từng cuộn khói đen bốc lên từ phía rạp Kinh Đô. Đoàn người đông vô kể, bồng bế, gồng gánh, khuân vác, đi như chạy. Chập chập súng nổ từng tràng lớn. Tiếng súng lớn súng nhỏ lẫn lộn. Mỗi chập như vậy, mọi người co rúm lại, ngồi thụp xuống. Sau tiếng nổ lớn, là những tiếng hô hoán: Hoả tiễn 122 ly rớt trúng rạp Văn Hoa cháy rồi. Cháy ở Đa Kao. Việt Cộng đột kích trại Hoàng Hoa Thám. Trực thăng bay vần vũ về phía Thị Nghè. Một người nói Đi theo hướng trực thăng bên mình. Người khác chửi Đang đánh ở Thị Nghè, đi về hướng đó cho chết hả. Tiếng trẻ nít la thét, tất cả hỗn độn.
Súng nổ chát chúa. Đám đông lại rú lên nhốn nháo. Tôi bấu cứng lấy u vì sợ. Đột ngột từ đầu đoàn chạy loạn phát lên tiếng kêu mừng rỡ: Lính Cộng Hoà! Lính Cộng Hoà!
Tôi thấy mẹ chảy nước mắt. Tôi thấy u chảy nước mắt. Tôi thấy chị Ni mắt đỏ hoe và không hiểu vì sao anh em chúng tôi cũng khóc. Vì sự xúc động của người lớn. Tôi không rõ, nhưng bây giờ tôi hiểu, tôi khóc vì mẹ và u khóc. Vì những giọt nước mắt của mẹ mang những giọt nước mắt cho tôi. Vì nỗi lo của mẹ mang nỗi lo cho tôi. Vì niềm hân hoan của mẹ giành cho tôi. Vì u thương gia đình tôi và vì u đang khóc cho gia đình tôi may mắn. U nức nở Sống rồi mợ ơi. Sống rồi mợ ơi. Mẹ gật đầu Nhà mình sống rồi. Các con nín đi, nhà mình sống rồi.
Chúng tôi vẫn khóc trong mừng rỡ. Mẹ bảo nín nhưng mẹ vẫn ứa nước mắt. Tôi vừa thút thít vừa mở lớn mắt. Những người lính Biệt Động Quân đội mũ sắt vẽ hình đầu cọp vàng bước hàng một từ hướng nghĩa địa Mạc Đỉnh Chi tiến xuống. Một đại uý đi đầu không ngớt khua tay: Đồng bào yên tâm, đồng bào yên tâm, Việt Cộng đã bị đánh bật ra khỏi quận Nhất. Tiểu đoàn chúng tôi xuống tăng cường quận Phú Nhuận. Đồng bào cứ tiến về phía trước, tiếp tục tiến về phía trước, sẽ gặp trạm y tế cứu trợ. Đừng chen lấn. Chính quyền quốc gia sẽ đánh bật Cộng Sản ra khỏi Sàigòn. Đồng bào yên tâm, đồng bào yên tâm…
Một người lính Biệt Động Quân trèo lên cột đèn tháo cờ Mặt Trận Giải Phóng. Tất cả mọi người vẫn chảy nước mắt. Khóc cho tuôn hết những sợ hãi. Đại uý Hùng. Tôi còn nhớ bảng tên ông trên nắp áo. Ông đi qua trước mặt tôi, ông không ngớt lập đi lập lại: Đồng bào đi lên phía trước, có sữa, có thuốc men, có quân cảnh bảo vệ… Tôi nhìn ông đăm đăm. Sau này tôi biết, chiến tranh đã chụp bắt tôi từ trận Mậu Thân. Mặc dù tôi chỉ là một đứa bé, chiến tranh không tha thứ. Tôi biết mãi mãi chiến tranh sẽ chế ngự linh hồn mình, tàn phá huỷ diệt tâm tính mình, nhưng tôi cũng biết, một cách tiềm ẩn, chính chiến tranh trong buổi sáng ngày hôm ấy, buổi sáng mùng hai Tết Mậu Thân, đã định hình, đã dạy cho tôi biết phân biệt những khác biệt trong chiến tranh. Có những người lính giết hại, thủ tiêu, đập đầu, như sẽ diễn ra ngoài Huế, và có những người lính mà sự hiện diện đồng nghĩa với sự sống. Tôi mang những người lính này trong lòng như một di vật.
Chúng tôi an táng chú Sâm ở Bắc Việt Nghĩa Trang, trưa mùng bảy Tết.
TRẦN VŨ

Thụy Vi: CHIẾC LÁ MONG MANH VƯỢT QUA NGÀN CON SÓNG DỮ
By anlac • May 8th, 2009 • Category: Bút Ký
(Riêng tặng hai người bạn tử tế của chúng tôi, Nguyễn Châu & Annie)
Sự hội ngộ của chúng ta hôm nay quả là một sự kỳ diệu, sự kỳ diệu này không đến từ một phép nhiệm màu nào, mà đến từ ước vọng Tự Do mãnh liệt của người Việt. Kỳ diệu vì nó đến từ sự chịu đựng, hy sinh, cố gắng vượt trên mọi thử thách, gian khổ, trong khả năng của mọi con người rấ t bình thường và yếu đuối của chúng ta. Đó là sự kỳ diệu của lòng can đảm, của đức hy sinh, của tình yêu, của lòng tin và của hy vọng. Chúng ta đã vượt bao thử thách để thế hệ con em có tương lai hơn. Chúng ta có rất nhiều câu chuyện đáng kể …….
Thưa bạn, tôi xin phép mượn đoạn văn thật cảm động trên của cô Ngọc Giao đọc trong Bửa Cơm Gợi Nhớ Hành Trình Tìm Tự Do tổ chức tại Virginia hôm tuần rồi để mở đầu cho câu chuyện tôi kể hôm nay
Bạn đã có lần nghe nói đến tiểu bang Michigan phải không? Dĩ nhiên là bạn biết đó là một tiểu bang rất lạnh, lạnh lắm… Có bạn còn hình dung trong đầu đó là một nơi heo hút, quê mùa, quanh năm đầy tuyết trắng…Vâng, thưa bạn, mùa Đông thì hầu như bầu trời là một màu xám, và thật thấp thật ảm đạm, và tuy nó có chút heo hút có chút quê mùa…nhưng những người trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại tiểu bang này lúc nào cũng gắn bó thân thiết với nhau, nhộn nhịp với những sinh hoạt hàng tuần và những lễ hội thường xuyên thật vui vẽ và ấm cúng.
Sở dĩ chúng tôi làm được như vậy, có lẽ giống như như câu nói của cô Ngọc Giao: chúng tôi đến với nhau vì lòng can đảm, đức hy sinh, và tình yêu của lòng tin và hy vọng.
Thưa Bạn, cứ hàng năm vào giữa tháng Năm thì tại thủ phủ Lansing của tiểu bang Michigan thường tổ chức diển hành “ Michigan on parade” với sự tham dự của hàng trăm đại diện cơ sở thương mãi của những địa hạt trong toàn Tiểu bang. Năm nay, chương trình tổ chức càng long trọng hơn vì thành phố kỷ niệm “LANSING 150 TUỔI” Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Michigan được danh dự góp mặt trong cuộc diễn hành hùng hậu với chủ đề CHIẾC THUYỀN TÌM TỰ DO được tổ chức vào ngày 16-5-2009 sắp tới.
Theo như ông Phạm văn Thanh, với tư cách là chủ tịch CĐNVQGM cho tôi biết, để có được niềm hãnh diện chung cho toàn thể người VIỆT NAM, ban tổ chức của CĐ đã chuẩn bị thật gấp rút và Ông Bà Nguyễn Châu & Annie là những nhân sĩ nỗi tiếng là Mạnh thường quân tại Lansing đã tình nguyện nhận lãnh công việc cực nhọc và không kém phần khó khăn này.
Chính ông Nguyễn Châu đã tự tay thiết kế và làm khung sườn cho chiếc thuyền theo đúng mẫu của những con thuyền từng thấm đẩm máu và nước mắt của hàng trăm con người năm xưa. Những con thuyền đó như những chiếc lá mong manh, như những chiếc quan tài vật vờ trên biển Đông và nó đã vượt qua hàng ngàn con sóng dữ để đưa chúng ta đến được những bến bờ tự do.
Mấy tuần nay, hành trình…đóng chiếc thuyền thật vui, bạn bè chúng tôi, những anh em trong các Hội Đoàn, mỗi cuối tuần, kẻ ở hướng Đông người ở hướng Tây, kẻ ở Detroit, người từ Grandrapids, có người tận Kalamazoo kéo đến nhà anh chi Châu & Annie thật nhộn nhịp người tay kềm người tay búa.. kiêm…tay vịn, để cùng phụ nhau làm cho xong tác phẩm mang nhiều ý nghĩa này. Thật tình mà nói, chúng tôi phụ thì ít mà hàn huyên thì nhiều, đã vậy chị Annie còn thơm thảo có món gì ngon trong tủ lạnh cứ đem ra hết đãi cho bạn bè. Được ăn được nói còn gói được đem về, anh chị em chúng tôi sướng thiệt!
Công việc đóng chiếc thuyền thì có nhiều chuyện thật tỉ mỉ nhiêu khê, nếu kể đầy đủ thì thật dài bạn ạ. Tôi chắc chắn rằng bạn sẽ thấy nó xuất hiện thật lẫm liệt trong ngày diễn hành. Mọi người sẽ chiêm ngưỡng nó với hết lòng kính phục, còn bạn và tôi khi thấy hình ảnh đó, ngoài sự ngậm ngùi có lẽ nó còn nhắc cho chúng ta nhớ: Chúng ta vì không chịu thỏa hiệp với chế độ Cộng Sản đã liều chết bỏ nước ra đi.
. thụyvi
Hầm Nắng, 7-5-2009

Trường-Kỳ-Nhạc-Trẻ

Luân Hoán: Trường-Kỳ-Nhạc-Trẻ, viết theo từng dặm đường
By HoangHac • Mar 23rd, 2009 • Category: Bút Ký

Trong lần mang sách qua tỉnh bạn ra mắt ngày 05-11-2006, trên xe ông vua Phiếm Việt Nam, ngoài tôi còn có thêm một ông bạn rất nặng ký. Trọng lượng danh tiếng lẫn cơ thể của ông, giúp chiếc Honda Accord óng ánh màu nước biển lướt thật êm trên xa lộ. Khởi hành dự trù sớm vẫn tiếp tục thực hiện muộn. Có một điều rất kỳ lạ, tôi thường ngã bệnh thật tình vào những ngày sắp đi xa, hoặc chuẩn bị tham dự một sinh hoạt nào đó. Lần này không ngoại lệ. Nhưng cuối cùng tôi cũng lên xe. Đường tốt, xe tốt, tài xế giỏi hóa ra là những viên thuốc thần kỳ, giúp tôi càng lúc càng khỏe ra theo từng chặng đường. Vừa giữ tay lái, ông chủ xe Tạ Trung Sơn vừa hướng dẫn câu chuyện giữa ba người đi vào nhiều nhánh khác nhau. Từ chuyện đời-xưa-chưa-cũ đến chuyện đời-nay-đã-qua. Đang sôi nổi cùng những kỷ niệm, hình ảnh được phả vào hơi thở như vậy, tôi bỗng nghe nằng nặng “một nỗi buồn riêng” vội nói:
– Đến trạm dừng tới, anh ghé vào cho “tè” một cái.
– Sao mau vậy ?
– Tôi bị tiểu đường mà.
Tiểu đường ? Song Thao nhắc lại, như tuồng ngạc nhiên.
Cái tiểu đường tôi nói đúng ra là “đái đường” một bệnh rất hay lây, nhất là thời còn lang thang ở quê nhà với đám bạn than xuân. Khó có thể nín khi trong bọn có thằng dừng lại bên đường, “tháo nước ra”. Song Thao hiểu ra cái tiểu đường của tôi không do thiếu chất Insulin. Nhưng thú thật, đôi lúc tôi cũng lo lo, nghĩ vu vơ về cái “tên giết người thầm lặng” này. Câu chuyện tay ba đang vui, tôi bỗng bỏ cuộc, dù vẫn lắng nghe Trường Kỳ và Song Thao nhắc nhau về những người bạn của họ thời xa xưa. Đây là lần đầu tiên tôi đi chơi xa với Trường Kỳ. Một người có danh tính không xa lạ với cộng đồng Việt Nam tại nhiếu quốc gia. Tôi quen với anh từ mươi năm nay và hãnh diện có người bạn giàu một đời sinh hoạt.
Ra đời ngày 29 tháng 3 năm 1946 tại Hà Nội, con của ông Vũ Ngọc Trân và bà Phạm Thị Trọng Yêm, được người bác vốn là soạn giả nhiều bộ sách giáo khoa Pháp văn, không tức cảnh sinh tình, mà vịn vào chữ nghĩa phổ biến của thời đại “trường kỳ kháng chiến” đặt cho cái tên có tuổi thọ đáng nể: Trường Kỳ.
Cậu bé họ Vũ dễ nuôi, nhưng sớm mất tình mẫu tử. Ngay trong ngày ngấp nghé ba tháng tuổi, cuộc tình giữa cha mẹ đã đổ vở, Trường Kỳ được đưa về làng Đồng Nghĩa tỉnh Nam Định cho ông bà nội nuôi dưỡng. Sáu năm ấu thơ đi qua, thằng cháu đích tôn, chưa hề dám đuổi một con ruồi, sống trong tình thương yêu của bố, của ông bà nội thật ấm áp, tuyệt vời. Vườn rau, chái hiên, vuông sân, bờ ao, gốc đa…thay nhau rủ rê, dìu dắt cậu đi khắp thôn, khắp làng, đi dần đến những ước mơ chập chờn, chưa định hình trong đầu óc. Cậu bé Kỳ cứ thế lớn lên cho đến ngày được trở về Hà Nội, được đưa vào trường Puginier và ở đây cùng văn hoá Pháp cho đến lớp 11è, năm 1954.
Thực hiện hiệp định Genève, đoàn quân kháng chiến chống Pháp tiếp thu thủ đô Hà Nội. Lúc bấy giờ gia đình Trường Kỳ ở trọ gần Nhà Thờ Lớn. Chủ nhà là một người mê âm nhạc, đã sắm được một cái máy chạy dĩa, quay tay. Chính cái sản phẩm kỳ diệu này đã làm cho Trường Kỳ nhập tâm những ca khúc mà ngày ấy anh chưa biết tên. Chưa đủ trí khôn và lòng đam mê để tiếp nhận đầy đủ cái đẹp, cái tuyệt vời của Thiên Thai, Trương Chi, Sông Lô…Nhưng trong tận cùng tâm thức của một cậu bé đã có sự huyền nhiệm của âm nhạc bén mầm. Những trò chơi tinh nghịch đốt dán, đánh kiếm trong nhà Chung… vốn là những thực phẩm cần thiết cho tuổi thơ thập niên 50 chóng lớn, Trường Kỳ có đủ. Anh còn có cả thời gian tập sắp hàng, để ca hát, để nhảy múa cùng Chiến Thắng Điện Biên, Qua Miền Tây Bắc, Kết Đoàn, Hò Kéo Núi…
Dù văn phòng luật sư Bonnard và Đỗ Mạnh Quát ở Hải Phòng có làm chậm chân, ông Luật sư, bố Trường Kỳ, cũng về kịp, đưa cả gia đình lên chuyến tàu cuối cùng “Ville De Hải Phòng” vào Nha Trang. Chưa kịp đi hết một góc “bãi cát trắng phau”, vừa thoát khỏi đám đông “xém bị đè bẹp dúm” khi bám tay một người cô, tên Liễu, lăn vào xem mặt Tổng thống Ngô Đình Diệm khi ông kinh lý Nha Trang, Trường Kỳ đã thoát được cái nóng của mái nhà tôn tại trại gia binh, để theo gia đình vào Sài Gòn. Sáu tháng hữu duyên cùng thành phố biển đã đi qua. Năm 1956, anh được tiếp tục theo học lớp 10è ( lớp Tư ) chương trình Pháp tại trường Aurore (Rạng Đông sau này) trên đường Phan Đình Phùng, gần ngã tư Cao Thắng. Niên khóa 1958-1959, Trường Kỳ vào trường nhà dòng Taberd. (Anh có đạo Công Giáo, chịu phép Rước Lễ Đầu tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội). Có trong tay tấm bằng Brevet (B.E.P.C, Trung Học Đệ Nhất Cấp) năm 1963, Trường Kỳ đương nhiên đi tiếp con đường học vấn. Khi đang chuẩn bị lấy Baccalauréat 1ère partie, thì đại sứ quán Pháp tại Sài Gòn có thông cáo (niên khóa 1964-1965) huỷ bỏ kỳ thi này, thay bằng một cuộc sát hạch nhẹ nhàng hơn để lấy Chứng Chỉ Tốt Nghiệp Trung Học (Certificat de Fin d’études Secondaires). Trường Kỳ rất khoái bởi anh đã biết ham chơi hơn ham học. Nhưng cuối cùng, ông cháu đích tôn nhà họ Vũ cũng phải qua cái Bacc 2è, (1966) để ghi danh vào đại học Luật Khoa. Đang nhức đầu vì các môn Dân Luật, Hình Luật, Công Pháp Quốc Tế, Kinh Tế Học… thì vừa đến lúc phải biết thế nào làm bổn phận của người thanh niên trong cuộc chiến. Không biết may hay rủi, cái kính cận mang từ thời lên tám, mỗi năm mỗi dày ra, đã giúp Trường Kỳ chỉ vui chơi ở Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ sau ba bốn bận vào ra, thì có giấy miễn dịch vĩnh viễn. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa trả cho anh trở về môi trường thích hợp hơn: sinh hoạt âm nhạc.
Song song với các trò chơi sưu tầm tem thư, sưu tập truyện bằng hình mua từ hội quán Coeur Vaillant, Trường Kỳ chơi âm nhạc bằng cách mở radio nghe đều đặn các chương trình Tuyển Lựa Ca Sĩ của đài Phát Thanh Sài Gòn. Âm nhạc từ đó, từng bước đi vào cuộc sống Trường Kỳ. Anh đã được các ông chú, bà cô đưa vào phòng trà Anh Vũ, đến rạp Kim Chung và không bỏ sót những chương trình Đại Nhạc Hội. Trường Kỳ sớm biết mê những tiếng đàn, tiếng trống của Khánh Băng, Phùng Trọng, ban nhạc The Blue Jean Boys…Cuối cùng, thời kỳ trực tiếp chạm tay vào âm nhạc cũng đến. Trường Kỳ theo học đàn accordéon từ nhạc sĩ Vũ Lung. Với cái đàn khá nặng trước lồng ngực hẹp của thân thể nhỏ con, nhưng Trường Kỳ đã cùng người bạn mới này, lần lượt đi qua các ca khúc Thoi Tơ, Dừng Bước Giang Hồ, Cumparsita, La Paloma, Come Back To Sorrrento, Blue Danube…Những tên tuổi trong giới nghệ sĩ chưa hề gặp cũng cảm thấy gần gũi hơn, nào là Phạm Duy, Văn Phụng, La Hối, Nguyễn Hiền, Canh Thân, nào là Thái Thanh, Thái Hằng, Mộc Lan, Hà Thanh, Châu Hà, Kim Tước… Giữa giai đoạn chăm chỉ rèn luyện, Trường Kỳ bỗng tình cờ có cơ hội biểu diễn lần đầu tiên trong đời. Bục diễn của anh nằm trong sân trường Lạc Hồng. Khán giả của anh là vô số học sinh cấp tiểu học cùng đầy đủ mẹ cha của họ. Trường Kỳ đã trổ tài cùng với giọng ca Phương Lan, Quốc Thắng, Kim Chi…Cuộc biểu diễn được chính Trường Kỳ cho là non tay, nhưng phần thưởng anh nhận khá lớn, đó là sự quen biết giữa anh và thần đồng Phương Lan, sau mấy lời ngợi khen của cô ca sĩ tí hon này.(Phương Lan tên thật Võ Thị Nhi).
Nhớ lại một lần biểu diễn đầu đời khác của mình trước đám đông tại số nhà 55 trên đường Cao Thắng, Trường Kỳ viết:
“… Thiên hạ tự nhiên đùa giỡn thân mật bao nhiêu thì tôi mang một đống mặc cảm và rụt rè bấy nhiêu. Có máy lạnh hẳn hoi nhưng mồ hôi tôi cứ tuôn ra dầm dề như đang phải làm một công việvc nặng nề và vất vả. Quả thật lúc đó tôi đang vất vả để tìm được sự yên tĩnh. Biết thế đếch thèm nhận lời cho xong, có quê mặt với ‘cô láng giềng’ cũng thây kệ, còn hơn ngồi một đống ù lì ở đây, quê không chịu được. Rồi cũng đến màn trình diễn của Phước Vân, và tôi bị nàng kéo lên sân khấu phụ họa. Đến nước này phải lấy hết can đảm bước lên theo nàng, mặt vẫn cúi gầm ra vẻ đăm chiêu về những bài hát sắp phải đệm cho nàng, nhưng thật sự không dám ngẩng lên nhìn vào đám khán giả đang chăm chú theo dõi. Phước Vân nhí nhảnh, cười toe toét tự nhiên, trong khi tôi thuộc hàng thứ yếu đứng lùi hẳn phía sau nàng kéo đàn phụ họa…
…Phần kéo đàn của tôi được diễn ra ngay sau đó, tim tôi đập thình thịch trong khi được giới thiệu là một tay kéo accordéon nhiều triển vọng ! Tôi nhủ thầm, bố khỉ !
… Sao thiên hạ lại im phăng phắc như thế này, mọi tiếng cười đùa ngưng bặt khi tôi dạo những notes nhạc đầu tiên của bài Dừng Bước Giang Hồ sau một vài giây luống cuống. Chẳng phải thiên hạ chờ đón màn trình diễn của tôi, thật ra lấy làm ngạc nhiên khi thấy xuất hiện giữa khung cảnh ‘văn minh’ này một cây đàn thuộc loại cổ điển, không hợp thời trang chút nào với một tay nhạc sĩ cũng thuộc loại… ‘bán cổ điển’ qua bộ y phục, mặc dù rất ‘kẻng’ nhưng không thuộc loại của ‘dân chơi’…”
Từ một cậu bé nhút nhát, thường “cúi gầm mặt khi đối diện với người lạ” thằng “Kỳ Đen” rủ thằng “Kỳ Lùn” tiến đến những biệt danh “Vua Nhạc Trẻ”, “Lãnh Tụ Hippy” không phải là những tình cờ ngẫu nhiên. Đó là cả một quá trình sinh hoạt văn nghệ với nhiều bộ môn, thơ, truyện, âm nhạc… rất phong phú của Trường Kỳ. Nhưng âm nhạc, tài nghệ tổ chức, lẫn ký giả văn nghệ mới chính là những trọng điểm giúp cho cậu thanh niên không lớn con, không xấu trai này thành danh.
“Với bản tính hiền hòa, cởi mở, năng động, Trường Kỳ biết cách kết nối thành công những tài năng có chung một một chí hướng, một sự yêu mê nghệ thuật lại với nhau. Trong gần suốt hai thập niên 60, 70 anh cùng một số bạn trong giới nghệ sĩ như Jo Marcel, Tùng Giang, Nam Lộc, vv…đã đứng ra tổ chức thành công nhiều cuộc trình diễn ca nhạc qui mô tại những địa điểm rộng lớn ở thủ đô Sài Gòn. Bước khởi đầu vào sân chơi âm nhạc rộng lớn của Trường Kỳ và các bạn chính thức mở màn trong năm 1964. Thị dân SàiGòn, nhất là lớp trẻ của một thời tự do hẳn khó quên những: Đại Nhạc Hội Nhạc Trẻ Taberd liên tiếp từ năm 64 đến năm 1973 ( trừ năm 68 ), Đại hội Nhạc Trẻ Quốc Tế Ngoài Trời 1971 (tại sân Hoa Lư), Đại Hội Nhạc Trẻ Thảo Cầm Viên từ 71 đến 74,….Ngoài ra còn các chương trình nhạc trẻ hàng tuần “Hippies À Go Go” được tổ chức tại những vũ trường ỏ Sài Gòn từ năm 67 đến 71 như : Chez Jo Marcel , Queen Bee và Ritz”
Gia tài ca khúc nhạc trẻ thời bấy giờ tại Việt Nam còn khá nghèo nàn so với sự ra đời thật náo nhiệt của những ban, nhóm chơi nhạc kích động như: (danh xưng này được đổi thành Nhạc Trẻ do chính Trường Kỳ nêu ra và được dùng từ năm 1965): Les Fanatiques, Les Vampires, The Teddy Bears, The Daltons, Les Faucons Noirs, Les Tridents, The Rockin’ Stars, The Black Caps, The Hard Stones, The Dreamers, The Spotlights, Phượng Hoàng, The Strawberry Four, The Bee Gees, The Apple Three, The Cats’ Trio, The Hammers, The Dreamers, The Crazy Dogs, The Teen Sound, The Peanuts Company, The Enterprise, The New Flintsones Corporation, The Hard Stones, The Fighters, The Starling Show, The Blue Stars, The Free Ones, vv…Vì lẽ này, Trường Kỳ liền xắn tay áo chuyển ca khúc ngoại quốc thành lời Việt, đồng thời cho phát hành những bộ sưu tậpTình Ca Nhạc Trẻ đánh số từ 1 đến 7 trong khoảng thời gian 1972-1973. Những ca khúc Trường Kỳ viết lời Việt được in thành từng bản rời phát hành rộng rãi và thu thanh trên các băng nhạc Tình Hồng (thực hiện cùng Nam Lộc 1973), Tình Ca Nhạc Trẻ, Thế Giới Nhạc Trẻ (ca sĩ trình bày gồm: Elvis Phương, Duy Quang, Minh Xuân, Minh Phúc, Thanh Lan, Julie, Thanh Mai, Paolo…) Được đón nhận nhiều nhất là các bản: Tình Yêu Trong Đời (Sealed With A Kiss), Rồi Mai Đây (Lo Mucho Te Quiero), Thú Yêu Thương (The Godfather), Khi Ta Hai Mươi (All I Have To Do Is Dream), Thương Nhớ Trong Mưa (The Rhythm Of The Rain), Mùa Tình Yêu (Le Temps De L’Amour), Mùa Đông Em Đi (I Started A Joke), Điện Thoại Tới Anh (Téléphone-moi)… Kể từ Tình Ca Nhạc Trẻ 2, còn có thêm những nhạc phẩm được gọi là Việt Hóa của nhiều nhạc sĩ khác như : Phạm Duy, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Nam Lộc, Tuấn Dũng, Trung Hành, Cao Giảng, vv…Ngoài ra anh còn viết lời cho một số sáng tác của Tùng Giang như : Biết Đến Thuở Nào, Cuộc Tình Xưa, Ta Hôn Nhau Trong Công Viên, vv…
Danh tiếng của Trường Kỳ mỗi ngày một nổi, bởi cùng với âm nhạc, anh biết chen vào lãnh vực báo chí. Nghề làm ký giả, tưởng chỉ đóng vai trò phụ nhưng chính cái viết lách tùy hứng này đã giúp tên tuổi Trường Kỳ đứng vững đến hôm nay. Cũng như nhiều bạn trẻ sính văn nghệ, Trường Kỳ làm thơ và thành lập thi văn đoàn lấy tên Hội Hoa Cương. Không rõ anh chơi thơ được bao lâu. Bài Xuân Nhớ Em của anh đăng trên nhật báo Ngôn Luận, có thể nói lên được tuổi thọ của thi văn đoàn do anh lập
“Giữa buổi xuân về tôi nhớ em/ bóng ai nhặt lá chắp bên thềm/ mối sầu hiu quạnh buồn xa vắng/ gửi én đem về xuân nhớ em/ gió chiều rung nhẹ hạt sưong xuân/ rũ áo thời gian lấm bụi trần/ dừng gót phiêu lưu bên quán vắng/ xuân về dâng lệ mắt giai nhân”
Nghề thơ không thành công nhưng nghề viết phóng sự của Trường Kỳ sớm có đất dụng võ. Anh dùng tên Johnny Kỳ cho một số bài phóng sự âm nhạc của mình trên báo Kịch Ảnh từ năm 1964. Bài viết đương nhiên được ông chủ nhiệm Quốc Phong trả nhuận bút hẳn hoi. Về sau Trường Kỳ còn được mời viết ở tuần báo Màn Ảnh, rồi phụ trách trang nhạc trẻ trên nhật báo Sống của nhà văn Chu Tử. Phóng sự hoặc những bài viết có liên quan đến âm nhạc của Trường Kỳ còn xuất hiện trên nhiều tuần báo, nhật báo tại thủ đô như Tinh Hoa, Chính Luận, Tiền Tuyến…Phóng sự ăn khách của Trường Kỳ lúc bấy giờ có tên “36 Kiểu Cua Đào” đi trên tạp chí Thứ Tư.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nhạc trẻ, những trang báo của người khác chủ trương có phần không đủ chỗ cho Trường Kỳ múa bút, nên anh đã bàn với một số bạn chí thân để khai sinh một vùng đất mới, chuyên đề về âm nhạc. Báo của Trường Kỳ mang tên Nhạc Trẻ, khổ nhỏ như tạp chí, 100 trang, phát hành 300 số. Báo có tòa soạn hẳn hoi trên đường Trương Công Định. Nhưng rất tiếc, tiền rửa hình, tiền đánh máy, tiền đóng gáy, dán bìa…chỉ cho phép Nhạc Trẻ trình diện một lần duy nhất. Trong nghiệp viết của Trường Kỳ, ngoài phóng sự anh còn viết tiểu thuyết. Cuốn Tuổi Choai Choai của anh được Jo Marcel và chính anh cùng Nam Lộc góp tay thực hiện thành phim Vết Chân Hoang, một phim màu scope khá thành công. Trước phim này, Trường Kỳ và Jo Marcel cũng thực hiện được phim Thế Giới Nhạc Trẻ.
Đời sinh hoạt nghệ thuật của Trường Kỳ quả thật sôi động, phong phú, nhờ đó anh tiếp xúc, quen biết với nhiều nhân vật trong nhiều lãnh vực văn học, nghệ thuật, quân sự, chính trị như Mai Thảo, Duyên Anh, Chu Tử, Phạm Duy, Viên Linh, Lê Hoàng Hoa, Phạm Huấn, Đỗ Kiến Nhiễu, Nguyễn Cao Kỳ…Nhưng tuyệt vời nhất, đây là cơ hội ngàn vàng tạo cho gia tài tình nhân của anh trở nên vô cùng giàu có. Khởi từ tuổi mười ba, Trường Kỳ đã biết cái thú của nhà thơ Nguyễn Bính dù không có hàng dậu mùng tơi nào nơi anh cư ngụ. Anh cũng sớm nhận ra mùi hương của một thịt da, được cấu tạo có chút khác biệt với phái nam, khi anh được một cô giáo ôm tiễn chân sang trường khác. Tình yêu nằm trong khoảnh khắc dậy thì thật là tuyệt vời. Trường Kỳ đã ghi lại giúp chúng ta những náo nức, rạo rực một thời, rất tinh tế, thành thật:
“ Tôi và Phước thường rủ nhau đi xem ‘xi la ma’ ở rạp Khải Hoàn, đối diện chợ Thái Bình. Dĩ nhiên không có màn đi riêng mà phải rủ thêm chị và em gái nàng đi cùng mới được phép. Nói vậy chứ, cho đi ‘xi la ma’ riêng một mình với nàng chưa chắc tôi đã dám vì tưởng tượng ra cảnh hai cô cậu 13, 14 tuổi dắt nhau vào rạp sao nó kỳ cục quá. Dù có đi chung với chị em của nàng, nhưng tôi vẫn có dịp được ‘đụng chạm’ chút đỉnh nên lấy làm khoái chí vô cùng. Chạm vào tay nàng cũng cảm thấy ‘đã’ , có lần chơi bạo nắm tay nàng một phát và được nàng không chống cự lại càng thấy ‘đã’ vô cùng tận. Tiền quà sáng của tôi do đó thường xuyên bị cắt giảm để dành dụm đưa nàng vào bóng tối của rạp ‘xi la ma’…”
(Một Thời Nhạc Trẻ, trang 26)
Rồi những Loan, Uyên, Mai…những mối tình “mini”dẫn dắt anh chàng ham tổ chức, ham thành lập hội, nhóm (Kỳ’s Cine Club, Teenager’s Club…) ham ăn, chóng lớn trong tình trường. Nhưng không ảnh hưởng bởi Cô Giáo Thảo, Sept Nuits Merveilleuses. Trường Kỳ vẫn luôn luôn thánh thiện và anh có được nghĩa cử tốt đẹp để không thực hiện “một cuộc tình một đêm” với một nữ độc giả, cũng là một người tập tễnh làm thơ, từ Bình Dương trốn nhà, lặn lội tìm thăm anh. Đạo đức của Trường Kỳ cuối cùng giúp anh nhận được phần thưởng: gặp và yêu Thu Huyền. Ông vua nhạc trẻ đã làm kinh ngạc gia đình và bè bạn khi quyết định khép lại cuộc sống độc thân vào ngày 26 tháng 10 năm 1973. Thu Huyền vừa đủ thời gian để phát hành tác phẩm đẹp nhất của Trường Kỳ trước khi Cộng Hòa Việt Nam cáo chung. Cô bé gái ra đời ngày 31 tháng 3 năm 1975, được ông nội đặt tên Vũ Ngọc Tú Uyên.
Năm 1979, Trường Kỳ tạm để vợ con lại quê nhà, anh cùng 47 người khác lên chiếc tàu dài chừng 12m lặng lẽ ra khơi. Trong mười hai ngày, đụng đầu với ba trận bão lớn, anh và bạn đồng hành vẫn nuôi hy vọng. Họ thay nhau vẫy gọi, cầu cứu những con tàu đi ngang. Mãi cho đến chiếc tàu thứ 35 của Scotland mới chịu vớt đưa đến Tokyo. Trường Kỳ có tròn một năm sống ở thành phố Omiya, sát cạnh Tokyo. Anh đã được một cô người Nhật tên Hamada Tazudo, vợ của ca sĩ Jo Marcel, đến viếng thăm và đưa đi ngoạn cảnh đó đây. Trong thời gian này, anh dạy Anh Văn cho trẻ em tại một trường tư đồng thời làm gia sư cho người lớn tuổi. Trường Kỳ cũng đảm nhận luôn việc giảng dạy Pháp ngữ cho một số quân nhân Hoa Kỳ đồn trú tại Nhật. Việc định cư ở nước thứ ba là nỗi lo của Trường Kỳ. Thoạt đầu anh được các nghệ sĩ ở Mỹ: Jo Marcel, Nam Lộc, Phạm Duy, Khánh Ly….đứng ra bảo lãnh để sang Hoa Kỳ. Hồ sơ của anh được chấp nhận, nhưng sau một đêm suy nghĩ, anh quyết định xin qua Canada. Anh dự liệu sẽ có thể bảo lãnh vợ con sau ba năm ở xứ lạnh, hơn là kéo dài đến bảy, tám năm ở Hoa Kỳ. Một lý do khác, anh tiết lộ: “Lúc đó tôi còn trẻ, sợ không tránh khỏi những ‘cám dỗ’ ở Mỹ nên quyết định qua xứ lạnh ‘tu’ chờ vợ con cho trọn tình trọn nghĩa!.”
Tháng 11 năm 1980, Trường Kỳ đến định cư tại thành phố Montréal Canada. Sau đó bảo lãnh vợ con qua được vào năm 1983. Thở lại không khí tự do và sau một năm ổn định cuộc sống, Trường Kỳ bắt đầu viết trở lại. Anh cộng tác với hầu hết các báo Việt ngữ tại nhiều quốc gia trên thế giới, cụ thể như Thời Báo (Toronto, Canada), Thẩm Mỹ, Nghệ Thuật (Montréal, Canada) Trẻ (Nam California), Trẻ (Bắc Cali), Văn Nghệ Thời Báo, Kỷ Nguyên Mới, Việt Mercury… (Hoa Kỳ), Tivi Tuần san (Australia)… Trường Kỳ cũng cùng Tùng Giang thực hiện một tạp chí nghiêng về âm nhạc, mang tên Chào, vào năm 1982 tại Hoa Kỳ. Số thứ nhất tạp chí Chào, bìa thực hiện bởi họa sĩ Vivi, in offset 4 màu lộng lẫy. Và để giảm giá ấn phí, Chào cho thực hiện một lúc 4 mẫu bìa cho bốn số. Số 1 phát hành thuận lợi, được bạn đọc đón nhận. Nhưng sự xa cách giữa gia đình và tòa soạn (Montréal- California) đã cầm chân Chào số 2 nằm mãi trong giai đoạn thu nhận bài vở. Số tiền tưởng tiết kiệm cho ba mẫu bìa với hàng nghìn bản thành ra chi phí vô ích. Trường Kỳ cho rằng mình không có số làm chủ báo, chỉ có phận viết mướn, viết chùa cho thiên hạ. Thật ra cây bút đã giúp anh có thu nhập lợi tức khá khả quan.
Trước năm 1975, Trường Kỳ ngoài việc phát hành nhạc bản, tuyển tập nhạc trẻ, anh còn cho in các tập phóng sự: Mặt Trái Của Nữ Sinh Sài Gòn (1968), 36 Kiểu Cua Đào (1969), Tuổi Choai Choai (phóng sự tiểu thuyết, 1971).Chỉ cần đọc tên sách, chúng ta đã có thể biết những cuốn sách của Trường Kỳ rất ăn khách. Anh đánh hơi thật rõ thị hiếu của lớp trẻ thành phố, đánh những phát trúng ngay mục tiêu. Tuổi nữ sinh là thời kỳ tinh hoa nhất của mọi người thiếu nữ, ở đó còn đủ e lệ, thẹn thùng, còn đủ những ngây thơ dễ thương và cũng có cả những ranh mãnh lẫn những táo bạo khi bắt đầu biết nhớ nhung biết yêu thương, Đó là lúc mọi người thiếu nữ đều xinh đẹp, lộng lẫy bởi vì:
“em từ lục bát bước ra/ bốn bề hơi thở Nguyên Sa dịu dàng/ giường đầy hoa đã ngấm sang/ thịt da khi đổi y trang mỗi ngày/ trái tim đồng loã ngón tay/ nở thơm trên thỏi sáp bày bên hông/ máu không trở lại chính tâm/ mà bên ngực trái bềnh bồng mùi hoa/ em từ lục bát bước ra/ cõng ông Bùi Giáng xuề xòa ngả nghiêng…”
(thơ Lê Hân – Tình Thơm Mấy Nhánh , trang 28)
Đã là nữ sinh mà còn vang danh nữ sinh Sài Gòn nữa thì biết bao nhiêu hấp dẫn, gọi mời. Sự bạo dạn đến táo bạo của họ học được từ lối sống văn minh Âu Mỹ qua sách báo, qua tiếp cận cùng những người nữ ngoại nhân có mặt tại thành phố, mỗi ngày một được cập nhật. Ai không thích muốn ghé mắt vào những tảng màu, những ánh nắng nóng ấm đó ? Nếu có những bạn thanh niên:
“…Vịn Cung Trầm Tưởng dạo chơi/ theo Huy Cận ghé vào môi nắng sầu/ cùng Hoài Khanh ngồi bên cầu/ nhìn mây vuốt tóc lắc đầu trốn em/ cùng Luân Hoán nằm trùm mền/ sợ rơi giấc nhớ mất em bất ngờ…”
(thơ Lê Hân – TìnhThơm Mấy Nhánh, trang 29)
Thì cũng không thiếu những anh chàng thực tế hơn, ngổ ngáo hơn, muốn nhìn thật rõ cái Mặt Trái Của Nữ Sinh Sài Gòn, mà tìm ở đâu dễ dàng nhất, ngoài những trang phóng sự của Trường Kỳ ? Đọc những trang chữ sống động của một thanh niên ham chơi, biết chơi để xem “ở trong lòng cặp hiền lành/ sách vở nằm với hương chanh, me, nhài…/lòng em thêm nhánh tóc mai/ xâu bao nhiêu gót con trai theo cùng…” (Lê Hân. TTMN, trang 72) là hữu hiệu, thuận tiện nhất. Đã tìm hiểu xong, đương nhiêu muốn đến tay, phải theo tán tỉnh, không thể ngồi chờ sung rụng. Trường Kỳ dễ dàng nhận ra, đa số thanh niên Sài Gòn nói chung, nam sinh nói riêng, phần đông chỉ là thứ chết nhát, hoặc giả bộ hiền lành, lý tưởng như bạn anh, nhà thơ Lê Hân (sinh sau Trường Kỳ một năm, nội trú ở Đắc Lộ Sài Gòn) “yêu em, đích thực thế nào ?/chẳng lẽ chỉ biết đi vào đi ra/ yêu em, quả thực ba hoa/ nói xuôi nói ngược vẫn là có duyên/ yêu em quả thực thành tiên/ không cánh mà vẫn an nhiên phiêu bồng/ cái tâm cái trí mênh mông/ chung quanh đời một màu hồng bao la…” (TTMN-27). Lẩm cẩm như thế không biết đến bao giờ mới có một tấm tình yêu thật sự bỏ bụng. Nên Trường Kỳ cần phải viết sách huấn luyện. 36 Kiểu Cua Đào do đó đắt như tôm tươi. Sau khi đã hướng dẫn những mánh khóe chuyên nghiệp, Trường Kỳ còn thấy cần phải phơi bày tường tận cái đẹp, cái hay, cái rắc rối phức tạp của lứa tuổi mới lớn, thèm yêu. Tuổi Choai Choai từ đó ra đời trong sự chào đón nồng nhiệt của bạn đọc.
Năm 2002 tại hải ngoại, Trường Kỳ cho xuất bản tập bút ký ưng ý nhất của anh, cuốn Một Thời Nhạc Trẻ. Sách dày 384 trang bìa mầu được trình bày bởi Lê Phan Lân, một giọng ca tài tử rất được mến mộ tại Montréal. Một Thời Nhạc Trẻ được chia làm 4 chương. Mỗi chương mang một tên riêng. Chương 1: Một Thuở Ham Vui. Chương hai: Một Thời Nhạc Trẻ. Chương ba: Những Ngày Tháng Hippy. Chương kết: Một Chốn Bồng Lai.
Như tên gọi của nó, cuốn sách đề cập đến một thời âm nhạc, đặc biệt chỉ loại nhạc mà đa số người thưởng ngoạn đều còn trẻ tuổi, hoặc những người còn giữ được sự thanh xuân. Tác phẩm Một Thời Nhạc Trẻ cho chúng ta biết khái quát về những trào lưu âm nhạc hiện đại trên thế giới. Từ sự phát triển, gây ảnh hưởng đến những tên tuổi nổi bật của ca sĩ, nhạc sĩ, ban nhạc trên nhiều quốc gia. Những tên tuổi một thời đã nghe qua, được nhắc lại như: Dalida, Sylvie Vartan, Francoise Hardy, Johnny Halliday, Les Chaussettes Noirs, Charles Aznavour, Yves Montand, Elvis Presley, Sandra Dee, Ricky Nelson, Frankie Avalon…Những điệu nhạc Twist, Rock “N” Roll, Let’s Twist Again…cùng những phong trào Yéyés, Hippy…gia nhập Hòn Ngọc Viễn Đông như thế nào cũng được Trường Kỳ ghi lại khá rõ ràng. Nhưng chủ yếu của cuốn sách, là những ghi nhận về sự hội nhập cùng phát triển các hình thái âm nhạc kích động, từng được gọi là “nhạc giựt” tại Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn, trên một vùng đất nhỏ, đông dân, ngay trong thời buổi chiến tranh đã sinh nở quá nhiều ban nhạc, ca sĩ mà giá trị nghệ thuật chưa có một đánh giá nào rõ rệt.
Danh từ Nhạc Trẻ cũng do chính Trường Kỳ đề nghị đưa ra dùng thay cho tên gọi Nhạc Kích Động, hơi gần với bạo động. Nhạc Trẻ đem lại không khí tươi vui, hoạt náo, năng động. Nhưng với mắt nhìn của xã hội, nhất là trong giai đoạn có máu thịt đổ ra, tan nát từng giây phút tại các mặt trận không xa Sài Gòn bao nhiêu, không thể không có những phê phán. Phong trào nhạc trẻ Sài Gòn, theo tôi, là một hình thức phản chiến cao cấp nhất, và đã có kết quả khả quan. Cũng là thủ đô trong thời chiến, nhưng Hà Nội khác hẳn. Cái hơn của miền Nam là tự do. Nhưng những bước chân quá đà của những người thụ hưởng tự do nhiều khi rất tai hại, và tai hại đã xảy ra thật. Sự thất thủ của Sài Gòn một phần do giới lãnh đạo, nhưng quần chúng không thể hoàn toàn phủ nhận sự góp tay gián tiếp của mình. Trường Kỳ một thanh niên yêu âm nhạc, yêu tự do và đương nhiên rất cần thiết hòa bình, anh theo đuổi, thực hiện tận tình nguyện vọng, sở thích của anh đó là một ưu điểm. Nhưng không thể hoàn toàn biện minh cho anh trước những nghi ngờ. chỉ trích của một số nhân vật chính quyền lẫn báo giới. Trong Một Thời Nhạc Trẻ, Trường Kỳ đã nhắc lại đủ những điều này, thật đáng quí. Cũng phải cảm ơn Trường Kỳ cho chúng ta biết tường tận những khởi đầu của những tên tuổi trong làng nhạc Việt Nam, khởi đi từ thập niên 60, 70 như Thanh Lan, Trung Hành, Duy Quang, Ngọc Bích, Tuấn Ngọc, Đức Huy, Nam Lộc, Tùng Giang vv…
Một Thời Nhạc Trẻ là một bút ký nhưng có lẽ đúng hơn là hồi ký của một giai đoạn. Tính chất hồi ký giúp Trường Kỳ vịn vào tháng năm của cuộc đời anh để ghi lại từng diễn tiến có liên quan đến âm nhạc. Một Thời Nhạc Trẻ còn là một tập tài liệu quí giá để tìm hiểu sinh hoạt âm nhạc miền Nam trong giai đoạn chiến tranh. Tài liệu này chắc chắn sẽ hoàn hảo hơn nếu Trường Kỳ viết dưới dạng nghiên cứu hoặc nhận định có bố cục chặt chẽ, rõ ràng hơn.
Ưu điểm dễ nhìn thấy nhất ở Một Thời Nhạc Trẻ là nghệ thuật viết của Trường Kỳ: giản dị, nhẹ nhàng, trong sáng xen lẫn với nét duyên dáng, hóm hỉnh. Đọc Một Thời Nhạc Trẻ chúng ta gặp lại vô số những tiếng lóng đã được sử dụng rộng rãi một thời như: khứa lão, ghế mẫu, chịu đèn, bắt địa, bề hội đồng, bò lạc, lấy le, ngồi đồng, đi tàu suốt, áo mưa,v..v…Trường Kỳ cũng thường linh động dùng những câu thơ nổi tiếng, châm chế chút ít để hỗ trợ cho câu chữ của mình thêm duyên dáng:
“…Nhưng những lúc đi qua mà tôi đứng khuất phía sau cửa sổ là y như rằng mắt nàng liếc vào phía trong đảo tới đảo lui như có vẻ kiếm tìm. Đúng là ‘ai bảo em là giai nhân, cho lòng anh đau khổ. Ai bảo em…tà tà qua cửa sổ, cho vướng nợ thi nhân’ Hề, hề, bảo đảm chịu quá đi rồi mà còn làm bộ làm tịch…”
Lối chơi dùng từng mẫu tự từ tên gọi một số thuốc lá để đọc thành câu, xuôi ngược, có ý nghĩa trào lộng trước đây, cũng được Trường Kỳ nhắc lại, để nhìn ra một vài nét tinh nghịch của tuổi trẻ (SALEM: sao anh làm em mệt, mà em làm anh sướng/ CAPSTAN: cho anh phát súng tim anh nát, nhưng anh tin số phận anh còn/ PALL MALL: phải anh là lính, mời anh lên lầu)..Tóm lại hơi thở tươi vui chạy suốt trong mạch văn của Trường Kỳ bất cứ anh thuật lại một khía cạnh nào trong sinh hoạt của anh. Đoạn văn trích sau đây vừa mô tả thực trạng nhạc trẻ Việt Nam, vừa là tiêu biểu cho lối hành văn của Trường Kỳ:
“… Tại Việt Nam, thật sự không có một nền nhạc trẻ thuần túy mà chỉ là một sự chạy theo phong trào, phát xuất từ những quốc gia Âu Mỹ. Trong thời kỳ đầu tiên, hoàn toàn là một sự thụ động, bắt chước những ca sĩ và ban nhạc của các quốc gia này bằng cách trình bày những nhạc phẩm lời Pháp, Mỹ và Anh. Giới trẻ cũng như ban nhạc thời đó còn chạy theo thời trang của các ban nhạc ngoại quốc với quần ống túm, giầy ‘bốt’ đế cao (gọi là ‘bottine’) cùng với áo chemise bó sát người , đeo giây lưng bản bự và mặc quần để xệ dưới rốn (thường gọi là ‘taille basse’) và để tóc dài, khiến nhìn từ sau khó lòng phân biệt nam hay nữ như nhận xét của các ‘ông bô, bà via’ . Còn phái nữ thì thi nhau mặc sản phẩm của tay ‘designer’ nổi tiếng Anh quốc Mary Quant là chiếc ‘mini-jupe’ ngắn cũn cỡn, trông rất bắt mắt. Các cô cũng như các cậu phải sắm cho bằng được chiếc velo solex mới được gọi là hợp thời trang. Riêng các cậu bảnh hơn thì sắm xế Honda, Yamaha hay Suziki, thường là 50cc, bảnh hơn thì 75cc hay 150 cc. Càng nhiều phân khối bao nhiêu càng chứng tỏ là một tay chơi bấy nhiêu. Nếu có ‘ống bô’ chổng lên trời thì càng hách xì xằng hơn. Phía các cô, bảnh hơn thì chạy Cady hoặc PC50. Các nhà buôn xe gắn máy trên đường Gia Long trong những năm giữa thập niên 60 đúng là ở trong một thời kỳ vàng son, tha hồ hốt bạc của dân choai choai. Cũng như tại các quốc gia khác, thời trang luôn luôn đi kèm với ca nhạc nơi lớp trẻ để tạo nên một màn ‘phối hợp nghệ thuật’ rất hay ho”
(trang 98)
Trước và sau sự có mặt của Một Thời Nhạc Trẻ, Trường Kỳ còn cho phát hành bộ biên soạn về đời sống, sinh hoạt của giới làm nghệ thuật Việt Nam, anh đặt tên là Tuyển Tập Nghệ Sĩ. Năm 1995 tuyển tập đầu tiên ra đời. Năm 1996 một tuyển tập tương tự. Hai tuyển tập này không mang số thứ tự, nhưng bắt đầu năm 1999, anh cho Tuyển Tập Nghệ Sĩ mang kèm số 3. Và tuyển tập mang số 4 cho năm 2000, Đến năm 2001 thì không thấy xuất hiện số 5. Rồi số 7 lại có trong năm 2004. Năm nay, 2007 Trường Kỳ chuẩn bị cho in tiếp tập thứ 8 bởi một nhà in tại Đài Loan, cơ sở vừa in tập Phiếm thứ tư của nhà văn Song Thao. Sự thiếu thống nhất trong đánh số cũng là một đáng tiếc.
Với Tuyển Tập Nghệ Sĩ, Trường Kỳ lần lượt giới thiệu với chúng ta tiểu sử cùng cuộc đời ca hát của nam nữ ca sĩ Việt Nam. Những chân dung, hình ảnh sinh hoạt cũng được in kèm. Sự tìm hiểu, giới thiệu của Trường Kỳ được thực hiện qua dạng phỏng vấn hoặc anh viết những bài nhận xét khá đầy đủ. Ở Tuyển tập 1,Trường Kỳ giới thiệu những người thường dẫn chương trình ca nhạc như: Công Thành, Nam Lộc, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trần Quốc Bảo,Việt Thảo. Phần nhạc sĩ sáng tác được giới thiệu tiếp theo gồm: Nguyễn Dũng, Lữ Liên, Nguyễn Đức, Việt Dzũng, Trần Quảng Nam, Phạm Duy, Trúc Hồ, Từ Công Phụng. Rồi đến các phần ca sĩ: Ái Vân, Don Ho, Duy Quang, Elvis Phương, Hương Lan, Kenny Thái, Khánh Hà, Khánh Ly, Kiều Nga, Linda Trang Đài, Ngọc Bích, Ngọc Lan, Sơn Tuyền, Thanh Lan, Trizzie Phương Trinh, Tuấn Anh, Tuấn Ngọc, Tuấn Vũ, Vũ Khanh, Ý Lan, Anh Khoa, Anh Sơn, BạchYến, Bảo Hân, Billy Shane, Cao Lâm, Chung Tử Lưu, Công Thành, Diệu Hoàng, Giao Linh, Hạ Vy, Họa Mi, Hoàng Liêm, Hoàng Nam, Hùng Cường, Hương Thơ, Jo Marcel, Julie, Khả Tú, Kim Anh, Lệ Thu, Lê Uyên, Lucia Kim Chi, Lưu Hồng, Mai Lệ Huyền, Minh Đức, Mỹ Huyền, Mỹ Lan, Ngọc Anh, Nhật Hạ, Như Mai, Nini, Nhật Trường, Phi Khanh, Phượng Khanh, Candie Phi Phi, Phương Hồng Quế, Quang Bình, Quốc Anh, Quốc Sỹ, Quỳnh Hương, Sĩ Phú, Tuấn Đạt, Thanh Thúy, Thái Tài, Thanh Hà, Thảo My, Thiên Nga, Thiên Phượng, Thúy Vy, Trang Thanh Lan,Trung Hành, Uyển Mi,Ý Nhi, Diễm Liên, Đài Trang, Lâm Thúy Vân, Lưu Bích, Mạnh Đình, cùng một số ban nhạc, một số ca sĩ, nhạc sĩ ở nhiều quốc gia ngoài Hoa Kỳ. Tôi có cảm tưởng: Trường Kỳ dự trù chỉ thực hiện một tập là chấm dứt, bởi anh tập trung gần đầy đủ những giọng ca cùng những người có liên quan đến âm nhạc tại hải ngoại. Khuyết điểm lớn của cuốn sách là có khá nhiều trang quảng cáo biến giá trị nghệ thuật thành giá trị tài liệu. Thêm vào đó sự sắp xếp, tuy có phân chia, nhưng cũng còn khá lộn xộn.
Ở các tập kế tiếp cũng tương tự như thế. Có những nhân vật mới (có người còn trong nước) nhưng cũng không ít những khuôn mặt cũ được giới thiệu lại qua những bài viết mới. Nhìn chung, đây là một tài liệu về ca nhạc sĩ Việt Nam rất đầy đủ cho những ai muốn tìm hiểu sơ lược về một giọng ca mình ưa thích. Sự tò mò có thể được đáp ứng một phần, nếu những tâm sự của các ca sĩ với Trường Kỳ không thiếu thành thật. Vì tính cách đại chúng, bộ tuyển tập này của Trường Kỳ đóng góp nặng tay vào quĩ phong lưu của anh.
Tôi ra đời trước Trường Kỳ 5 năm, nhưng cũng có thể gọi cùng thế hệ. Tôi cũng biết yêu nhạc chút chút, vì thế tên tuổi Trường Kỳ không xa lạ với tôi. Sự khác biệt ở chỗ anh nghiêng hẳn về sinh hoạt âm nhạc, còn tôi vì hoàn cảnh địa lý, ảnh hưởng xã hội đã có suy tư về cuộc chiến nhiều hơn. Do đó những sinh hoạt của Trường Kỳ tôi không được hiểu một cách thấu đáo. Lòng ngưỡng mộ anh vì vậy cũng không nhiều. Sau khi định cư tại Montréal, cùng thành phố với Kỳ, những năm đầu, tôi chỉ thỉnh thoảng nghe giọng anh nói, đọc trên một số đài phát thanh anh cộng tác như đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, chương trình phát thanh năm ba tiếng đồng hồ tại Montréal. Tôi ít được đọc bài anh viết, vì các nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, Lê Dinh không gởi cho Thẩm Mỹ, Nghệ Thuật.Tôi cũng gần như không có cơ hội gặp anh. Trong một mùa hè, tôi theo vợ cùng cô bạn của vợ dạo chơi trong dịp vent trottoir trên đường Saint Hubert, chợt Liên thúc tay vợ tôi bảo: “Vợ Trường Kỳ”. Giọng Liên nhỏ nhưng tôi cũng nghe thấy và cũng kịp nhận ra một vóc dáng uyển chuyển, hấp dẫn, một khuôn mặt xinh xắn, duyên dáng. Liên nói tiếp với vợ tôi: “ Hấp dẫn vậy nhưng ông chồng thì nhỏ xíu hà”. Câu nói của Liên không giúp tôi hình dung về một nhân vật mà tôi lơ mơ biết từng nổi tiếng một thời. Năm tháng tiếp theo Trường Kỳ không phảng phất trong tôi cho đến một sáng mùa thu, nhà văn Song Thao rủ tôi đến Trường Kỳ chơi. Dù rất lười đi, nhưng Song Thao hứa đến đón và cái tên Trường Kỳ quả còn nhiều kỳ bí đối với tôi, nên tôi nhận lời. Thời gian này tôi ở đường Barclay, Trường Kỳ cũng ở nhà thuê trên đường Chateaubriand, số 7487.
Tôi vui vẻ bắt tay một ông trung niên xuề xòa cởi mở. Khuôn mặt bảnh hơn trong ảnh thời thanh xuân rất nhiều. Trường Kỳ thuộc loại đẹp trai với những nét rắn rỏi của đàn ông. Lòng kính cận có phần hơi dày, nhưng vẻ trí thức nhờ vậy cũng tăng lên. Tôi bắt gặp sự tinh nghịch lẫn tinh quái trên khuôn mặt hiếu khách của người bạn mới. Cuộc hội ngộ của chúng tôi hôm đó đáng tiếc quá ngắn, bởi Trường Kỳ đang có một người khách, ông Lê Thái, cựu Giám đốc Chương trình đài Phát thanh Sài Gòn (hiện nay giữ chức Giám đốc đài Tiếng Nói Việt Nam của cơ sở Thời Báo tại Canada). Ông Thái rủ Trường Kỳ và cả chúng tôi đi ăn sáng. Nhưng tôi và Song Thao từ chối.
Sau lần gặp ấy, sự quen biết giữa Trường Kỳ và tôi phát triển như thế nào tôi cũng không nhớ rõ, chỉ biết tôi được Trường Kỳ ký tặng cho các tác phẩm của anh đã in tại hải ngoại, đủ bộ. Năm 1999, khi tôi thực hiện trang Vuông Chiếu Luân Hoán trên internet, có mục giới thiệu những người sáng tác Việt Nam, không phân biệt bộ môn nghệ thuật. Tôi chợt nhớ đến những chồng báo thật hấp dẫn ở nhà Trường Kỳ, mà tôi nghĩ sẽ có nhiều tài liệu về các nhạc sĩ. Trường Kỳ cho tôi một cái hẹn qua điện thoại. Trường Kỳ đã dọn về số 7019 đường Drolet. Tôi đến nhà anh vào một buổi xế trưa mùa đông. Trời nắng đẹp, khá lạnh nhưng không có tuyết. Con đường trước nhà Trường Kỳ đang còn trống một khoản đủ để đậu hai chiếc xe. Tôi mừng trong bụng không phải tìm chỗ đậu và vất vả đi trong gió lạnh. Trường Kỳ ở nhà một mình. Chỉ có ba nhân khẩu nhưng Trường Kỳ thuê một căn nhà quá rộng. Không khoái ở phòng khách, tôi vào thăm phòng làm việc của Kỳ. Băng nhạc, sách báo cao như núi nhưng được cái thứ tự hơn tôi rất nhiều. Trên màn ảnh computer đầy nhóc những logo các chương trình Trường Kỳ sử dụng. Anh cũng có một chỗ ngả lưng ngay bên một kệ sách vừa rộng vừa cao. Phòng ấm có đầy đủ dàn nhạc, đóng cửa lại là biệt lập hẳn bên ngoài. Thật thích thú nếu có một người đẹp đến thăm. Trường Kỳ cho tôi xem hàng ngàn tấm ảnh chụp các ca sĩ. Nhìn ảnh chụp, phải công nhận ca sĩ nào của chúng ta cũng đẹp cả và nhất là thật đáng yêu, nhưng chắc khó yêu. Trong căn phòng này còn có một chiếc giường vợ chồng Trường Kỳ đặt tên là giường “nghệ sĩ”. Hầu như trên thành giường có đầy đủ chữ ký của các nghệ sĩ khắp nơi tới trình diễn hoặc du ngoạn Montreal đã từng ngủ trên chiếc giường này. Đâu cũng chừng hơn trăm chữ ký! Tôi hỏi mượn Trường Kỳ chừng năm, bảy số Thế Giới Nghệ Thuật. Tạp chí này phát hành tại Hoa Kỳ. Chủ nhiệm Lê Quốc Tuấn, Giám đốc điều hành Đặng Nguyên Phá. Phối hợp nội dung Lâm Tường Dũ. Tổng thư ký Vương Trùng Dương. Trình bày ấn loát Westminster Press. Ban biên tập chừng ba mươi người, tôi chỉ quen biết nhà thơ Du Tử Lê (bút hiệu khác Hồ Huấn Cao) và họa sĩ Hồ Thành Đức. Bài vở được in trên giấy trắng thật dày, hình ảnh những nhân vật được giới thiệu trong tạp chí đều là màu rất rõ nét. Chỉ dưới 10 tập, đã khá nặng tay. Tôi cẩn thận từ giã cái thang gác khá cao của tổ ấm Trường Kỳ. Trước khi mở cửa xe, tôi giật mình thấy cái gạt nước đang giữ chặt một vuông giấy hình chữ nhật. Đã biết là cái gì rồi, nhưng không cam lòng, tôi đứng nhìn mặt tờ Constat D’Infraction (statement of offence) thật kỹ. Thì ra chỗ tôi đậu xe dành riêng cho cư dân tại đây. Xe không có permis de station dán trong kính sau, lãnh giấy phạt là điều đương nhiên. Tôi đã ăn trên mười tô phở một lúc chớ chẳng chơi ! Bài học ngày lên thăm bác sĩ Đường Minh Hoàng và bác sĩ Tôn Nữ Liên Chi tôi đã quên, bao tạp chí trên tay đã nặng chừng như nặng hơn, tôi vứt vào ghế sau. Không có đồng tiền nào chi ra vô duyên bằng tiền nạp phạt vì đậu xe nhằm chỗ cấm. Những bảng cấm một đoạn đường dành riêng cho cư dân đã mua chỗ trước, thường chỉ treo ở đầu ngã tư hoặc ngã ba, nên tôi đã sơ ý đáng tiếc.
Những ngày tiếp theo tôi còn gọi xin tin của Trường Kỳ nhiều lần. Trường Kỳ vui vẻ cho tôi rõ những gì anh biết trong lãnh vực âm nhạc. Anh là người ưa thích và luôn luôn có dịp đi đây đi đó. Mỗi chuyến đi của anh thu về rất nhiều bút ký, anh từ từ cho đi trên Thẩm Mỹ, trên Thời Báo hoặc đọc trên các đài phát thanh. Những bài viết của Trường Kỳ không phổ biến một kiến thức cao xa nào, nhưng mang lại cho độc giả, thính giả một góc cạnh nào đó về đời thường của một nhân vật đã hữu danh, cũng rất lý thú. Câu “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” của tiền nhân, trong trường hợp Trường Kỳ chắc phải sửa lại: “Đi một ngày đàng viết mươi trang bút ký” mới thích hợp. Trước 1975, Trường Ký gắn liền với phong trào nhạc trẻ, nên có thể gọi anh là Trường-Kỳ-Nhạc-Trẻ. Sau 1975, tại hải ngoại, Trường Kỳ cũng dính liền với những gì liên quan đến âm nhạc, cụ thể hơn là giới ca sĩ. Mỗi chuyến đi đây đi đó của anh hầu như đều được tài trợ phí tổn di chuyển. Việc ăn ở đương nhiên khỏi lo. Thong dong như vậy nên qua từng dặm đường, anh đều thu giữ những vui buồn, những hình ảnh của người anh tiếp xúc, để rồi sau đó anh nhẩn nha, nhớ đâu ghi lại đó thật sinh động. Từ những câu chuyện có thể hơi lẩm cẩm để nhìn rõ hơn về một người, nhiều khi cũng rất thú vị.
Qua một lần cùng Trường Kỳ đến Toronto, tôi càng rõ cái lý thú trong những chuyến đi của anh. Không có những tiếp đón quá long trọng nhưng sự đãi ngộ của bè bạn dành cho anh thật đáng ngưỡng mộ. Có lẽ đến đâu anh cũng được những người hành nghề ca hát thương mến. Không hẳn sự o bế xuất phát từ chờ đợi được viết bài lăng xê, giới thiệu. Qua tình kính mến của cô ca sớm chớm thành danh Lâm Quỳnh Như dành cho Trường Kỳ, tôi hiểu ra, anh có được sự thương mến của nhiều người do sự chân tình, cởi mở của anh. Khả năng nhận định, đánh giá khá trung trực về một giọng ca cũng tạo cho anh thêm uy tín. Nghe cô ca sĩ Lâm Quỳnh Như của Toronto, một tuổi trẻ tài cao trong tình yêu lẫn âm nhạc, vừa vui, vừa cung kính gọi anh bằng bố thật là thích. Sự chân tình của cô bé đã trưởng thành, lòng thanh thản của một người giàu tuổi đời vẫn một say mê âm nhạc, đúng là một hạnh phúc.Những đối thoại quanh tôi đêm hôm ấy tại một quán cà phê, chưa đến giờ đầy khách, nhớ lại, như có những nốt nhạc không lời vang bên tai. Cuộc sống sẽ thêm vui từ những ca khúc, dù đa số bài ca của chúng ta chuyên chở những nỗi buồn.
Nhiều người cho rằng thời gian ở xứ người có tốc độ cao hơn tại quốc nội. “Đời lưu lạc mỗi ngày là một tuổi” chắc không quá như tôi đã viết. Nhưng nhìn qua ngó lại, thoáng một cái, ngày vui ngồi cụng ly cùng Hoàng Xuân Sơn, Song Thao, Từ Công Phụng, Lưu Nguyễn… trong tiệc cưới cháu Tú Uyên chưa qua khỏi trí nhớ, mà cháu đã có hai cậu ấm, Caillou lên năm, Chou lên ba, mau thật. Bất kể mặt trời mọc mặt trời lặn, Trường Kỳ vẫn đi và vẫn viết, có khác chăng là cơ thể anh có phần nặng ra. Trong lúc cái kính ngừng gia tăng độ dày, và tình yêu dành cho Thu Huyền đậm đà thêm. Đẹp như hình chụp trong ngày sinh nhật 60 tuổi của anh. Xin tặng muộn cho “đôi trẻ” giàu hạnh phúc một bông hồng trong những dòng chữ này. Tình thân.
Luân Hoán
(Dựa Hơi Bè Bạn 2)

Hồn Ai Trong Gió

Chu Lynh: Hồn Ai Trong Gió
By anlac • Feb 7th, 2009 • Category: Bút Ký
Anh nằm đó, nghìn thu giấc ngủ
Nhưng sao trong gió ta nghe có tiếng thì thào

Chu Lynh
Kẻ tha hương không đủ thì giờ và tâm trí trong ngày trở về để đi suốt chiều dài đất nước như ước vọng cuối đời: tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, nhìn lại ngôi trường xưa với những giấc mộng vàng thời niên thiếu, ghé thăm núi Ngự quấn khăn tang hay nhìn dòng Hương Giang khóc sướt mướt của những ngày chiến chinh máu lửa. Nỗi tự tình về quê hương đành nén lại trong lòng, bởi ngổn ngang bao điều thúc bách. Ô hay, đau thương từ quá khứ như còn đâu đây, thoảng trên con hẻm về khuya khua đôi nạng gỗ hay bên túp lều không đủ che nắng trú mưa. Và hơn hết mọi nẻo đường đất nước, một mảnh đất không xa phố thị bao nhiêu, nhưng xa hẳn thế giới đua chen, cần được những bước chân ghé thăm và những nén nhang lòng thắp lên.
Sau hơn một giờ, chiếc taxi mới thoát ra khỏi Sài Gòn. Xe đi vào xa lộ Biên Hòa, bỏ lại sau lưng một thành phố đầy khói và bụi. Hầu như mọi con đường đều chật ních xe hai bánh. Dòng xe cộ trên xa lộ thi nhau lao đi, như thể bị thúc đẩy bởi một lực vô hình phía sau. Nhà cửa ngoại ô cùng chung số phận với phố xá Sài Gòn, đua nhau mọc lên, phô trương hình dáng, khoe khoang mặt tiền tựa cô gái quê thích trang điểm, tạo nên một cảnh trí mất cân đối giữa những căn nhà lụp xụp và quán xá lấn chiếm bất cứ khoảng trống nào. Dân cư chia nhau những không gian nhỏ để tồn tại, còn lại là những tòa nhà bề thế hay những căn nhà sang trọng, nhắc nhở sự xuất hiện của những chủ nhân mới.
Không thể nhận ra con đường dẫn vào nghĩa trang, tôi bảo anh tài xế trẻ tắp vào một quán nước. Bà chủ quán đứng tuổi chăm chú nhìn tôi.
- Ông hỏi nghĩa trang thành phố thì bên kia đường, còn nghĩa trang quân đội cũ thì đi tới ngã ba đằng kia.
Trước đây mỗi lần đi ngang khu vực nầy, tôi thường lái xe chậm lại để dán mắt vào kiến trúc quy mô và nghệ thuật của nghĩa trang, và khi nhìn tác phẩm Thương Tiếc, lúc nào tôi cũng thấy bức tượng người lính sống động. Người lính ngồi lặng lẽ bên đường như một nhân chứng âm thầm của cuộc chiến. Trong tư thế nuối tiếc đồng đội, anh như còn muốn nhắc nhở khách đi đường về một thế giới thầm lặng khuất sau ngọn đồi. Nhưng nay tác phẩm đầy huyền thoại đã biến mất không một dấu tích để lại. Tôi nghe nói, người cộng sản đã đổ hận thù lên cả người lính bằng đồng, một tác phẩm điêu khắc hiếm có, bằng cách đập phá bệ tượng, giật sập và kéo lê bức tượng qua nhiều nơi.
Toàn cảnh đã đổi thay. Con đường dẫn vào nghĩa trang bị che khuất bởi hai dãy nhà mới cất, chỉ còn vài cây bạch đàn không biết sống sót từ ngày cũ hay ai đã trồng lên sau này. Khi chiếc xe chầm chậm đi vào con đường nhựa và bắt đầu lên dốc, thì khung cảnh quen thuộc bất ngờ hiện ra trước mắt tôi: Cổng Tam Quan và Ðền Tử Sĩ. Tôi nói với tài xế chạy thật chậm để thích thú thu vào ống kính con đường uy nghi thẳng tắp dẫn lên ngôi đền. Từ Cổng Tam Quan, hai con đường hai bên ôm lấy ngọn đồi theo mô hình con ong mà ngày xưa nhà thiết kế đã chọn lựa.
Con ong không thờ hai chúa, người lính chỉ chết cho một ngọn cờ
Hai hàng chữ hai bên cổng đã tróc sơn, nhìn thật rõ mới đọc được: Vì Nước Hy Sinh – Vì Dân Chiến Ðấu. Tôi bước lên từng bậc thang phủ đầy rêu phong, mà tưởng như đi giữa những cặp mắt thật xa xưa mà rất gần gũi đang nhìn tôi. Tôi đang gặp lại những đồng đội của mình. Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, Nghĩa Trang Của Những Người Lính Ðã Chết Cho Quê Hương Việt Nam.
Tôi sắp bước lên những bậc thang cuối cùng để đặt chân vào Ðền Tử Sĩ, ngự trên đỉnh đồi, ngày nào là nơi tôn nghiêm vị nguyên thủ quốc gia thường đến hành lễ trong các dịp lễ Chiến Sĩ Trận Vong, Lễ Vu Lan, ngày Quân Lực, ngày Quốc Khánh.
Tôi ngẩn ngơ trước cảnh trời đất êm ả của buổi chiều lộng gió, chưa kịp đưa máy quay lên, bỗng từ trong một góc đền hai con chó nhảy ra sủa vang. Hai con chó đã báo động. Năm bảy người bật dậy khỏi nền nhà. Họ đứng hàng ngang trước mặt tôi, nhìn vào máy ảnh và máy quay phim lỉnh kỉnh trên vai tôi. Tôi nói với họ tôi từ xa đến, muốn thăm lại ngôi mộ người bạn ở nghĩa trang nầy nhưng không thể tìm ra vị trí và mong họ giúp đỡ. Toán lính cho biết toàn khu vực nghĩa trang do bộ đội quản lý, không cho phép người ngoài vào, không được chụp hình quay phim. Khu vực nầy không có mồ mả.
Tôi cứ hỏi tới, làm thế nào tìm được ngôi mộ người bạn để cắm vài nén nhang. Thấy tôi tha thiết, một anh lính nói giọng Nam chỉ phần đất phía sau ngọn đồi.
- Chú vào đó, cứ hỏi khu vực mồ mả là người ta chỉ cho.
- Cám ơn cháu nhiều lắm.
Tôi chào toán lính, rồi bước nhanh xuống những bậc thang, e ngại họ có thể đổi ý tịch thu máy ảnh và máy quay phim. Tôi đến đây không có những thông tin chính xác về hiện tình nghĩa trang, ngoài những nguồn tin ít ỏi từ bạn bè. Tuy vậy toán lính đâu biết rằng, tôi đã quay xong khung cảnh mặt tiền nghĩa trang, chỉ còn cảnh mấy người lính ăn mặc lếch thếch nằm ngủ la liệt trên nền xi măng là tôi chưa thu vào ống kính.
Từ trên cao nhìn bao quát cảnh trí chung quanh ngọn đồi, tôi hiểu tại sao người cộng sản muốn xóa đi một di tích lịch sử đã in đậm dấu ấn trong lòng mọi người. Ở hải ngoại, người Việt đã hay tin chính quyền cộng sản sẽ giao nghĩa trang cho một công ty ngoại quốc để khai thác du lịch. Cho đến nay, chẳng hiểu vì sao họ chưa cày nát nghĩa trang này như đã làm ớ các nơi khác. Chung quanh Ðài Liệt Sĩ, người ta trồng bạch đàn, nhưng rừng bạch đàn không lớn nổi, sống thoi thóp giữa lớp cỏ ngập cả sườn đồi.
Con đường đất nhựa chấm dứt khi chiếc xe rẻ bên trái, chuyển qua đường đất bụi lồi lõm dường như từ lâu không được sửa chữa. Bên phải là bức tường mỏng dang dở bám đầy bụi ngăn cách nghĩa trang với bên ngoài. Những xưởng làm gạch ngói kéo dài mấy trăm thước, vào lúc nầy không thấy cảnh hoạt động tấp nập. Chiếc xe lướt qua một bức tượng Phật Bà bên phải.
Thấy một quán nhỏ bên đường, tôi ngừng lại hỏi. Tôi gặp ngay anh trưởng toán bảo vệ nghĩa trang. Anh ta hỏi tôi tên họ thân nhân, mất năm nào để dễ tìm kiếm. Tôi muốn nói, tôi đến đây không phải để thăm một người, mà thăm toàn nghĩa trang. Nhưng tôi đã có một tên người chết bịa ra lúc ngồi trên xe.
- Nguyễn Quốc Việt, chết khoảng năm 70 hay 71 gì đó.
– Nếu vậy, chú sẽ rất khó tìm. Ở đây chúng tôi quản lý trên mười ngàn ngôi mộ, người ta tìm mộ theo lô năm chết.
- Tôi hy vọng nhớ địa điểm, vì trước đây tôi có đến một lần. Anh ráng giúp tôi, người chết sẽ nhớ anh, người sống sẽ không quên ơn anh.
Anh chần chừ một lát rồi nói:
- Chú chờ cháu lấy xe gắn máy. Ở đây quy định xe hơi không được vào.
Tôi gặp may, nhưng không dám lộ niềm vui ra mặt. Tôi để gia đình ngồi tại quán nước, lén nhét máy ảnh vào túi jacket. Khi chiếc xe gắn máy chạy vào trung tâm nghĩa trang, tôi bảo anh dừng lại. Khuất sau những dãy nhà cửa và xưởng gạch ngoài kia, nghĩa trang như một thế giới lạc lõng nằm trong quên lãng. Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, sẽ trở thành Nghĩa Trang Quốc Gia như kế hoạch của chính phủ trước đây, vẫn còn đó nhưng khắp nơi đều một cảnh hoang tàn làm se thắt lòng người viễn xứ.
Rừng bia mộ mênh mông nằm xen lẫn với cỏ cây um tùm, phân chia từng lô bởi những con đường đất. Nghĩa trang quá rộng lớn, tầm nhìn của tôi không thể thu hết toàn cảnh. Dân cư và các lò gạch đã lấn chiếm sát vòng đai nghĩa trang. Rải rác đó đây là những ụ đất, những hố sâu, những cây cao su mới trồng lẫn trong những đám cỏ đuôi chồn mọc cao. Một số ngôi mộ đã được dọn sạch sẽ, còn lại là những mồ hoang ngập trong cỏ dại không nhang không khói, có lẽ ba mươi năm nay, chưa một ai đến viếng. Ðã có những con người từ tâm đến đây sửa sang, nhưng vẫn chưa làm nghĩa trang bớt hoang phế.
Tôi có cảm tưởng nghĩa trang đã bị lấy đi một lớp đất, để lộ những tấm đan trồi cao trên mặt đất. Có vẻ như người ta sắp làm một cái gì trên mảnh đất nầy. Hầu hết những ống cống trên đường bị lấy đi không được lấp đất lại, tựa như dấu đùn của thú rừng ăn đêm. Nhiều tấm bia bị đập bể. Có những phần mộ bị dời khỏi vị trí. Một sự phá hoại quy mô đầy tính thù hận. Ðột nhiên, đôi mắt tôi rưng rưng niềm phẫn uất.
Người cộng sản đang tìm mọi cách chiêu dụ người Việt hải ngoại về xây dựng đất nước, mời mọc đầu tư, cổ xúy hòa giải, vậy mà họ đang trút hận thù lên cả những kẻ đã nằm xuống. Người chết đã không được yên ổn dưới lòng đất. Nghĩa tử là nghĩa tận. Mồ mả các chiến binh cộng sản khắp nơi được sơn phết cẩn thận, mồ mả nơi đây bị dày xéo thật tàn nhẫn. Người cán binh cộng sản, người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, họ là ai? Tất thảy họ là những người con dân Việt bất hạnh, là nạn nhân của một chủ thuyết điên cuồng, phải được chia sẻ từng mảnh đất chôn cất, chia sẻ từng nén nhang và cả lời nguyện cầu được bình an dưới lòng đất hay nơi một thế giới nào đó không binh đao và oán thù.
Làm thế nào tìm ra lô đất chôn theo năm, nói gì tìm ra tên người thân khi lạc vào đây? Tôi đến gần anh bảo vệ và dúi vào tay anh một số tiền:
- Anh nói đúng, có lẻ tôi cần phải đến đây ba bốn ngày liên tiếp mới mong tìm được mộ người bạn tôi. Rất tiếc, chỉ còn vài ngày nữa là tôi rời khỏi nơi nầy. Vậy anh cho tôi thắp hết bó nhang cho những ngôi mộ trong khu vực nầy. Ðó là cách tôi gởi lòng thành của mình cho người bạn và luôn thể đến những người khuất mặt ở đây.
- Vâng … chú làm thế cũng được.
- Cám ơn anh đã giúp tôi tận tình. Có lẽ không bao giờ tôi có dịp đến nghĩa trang lần nữa. Mong anh cho tôi chụp vài tấm hình kỷ niệm.
- Chú đã biết rồi đó. Họ cấm chụp hình. Nhưng cháu sẽ canh chừng cho chú.
Trước khi đưa máy hình cho anh bảo vệ, tôi chụp ngay vài tấm toàn cảnh nghĩa trang, nằm dưới ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài với Vành Khăn Tang quấn quanh xa xa. Tôi nghe nói, công trình ngôi tháp xây gần xong thì miền Nam mất. Tọa lạc trên một ngọn đồi, thêm mấy cần thu lôi làm tăng thêm chiều cao, nổi bật trên rừng mộ bia, ngôi tháp dũng mãnh cao trên bốn mươi thước như thách thức thời gian, như đang chứng tỏ với con người sự hiện hữu của một thế giới vô hình.
Kiến trúc uy nghi nầy làm tôi liên tưởng đến bao nhiêu người đã bỏ tim óc và sức lực vào việc xây dựng công trình lịch sử lớn lao nầy, để hơn ba mươi năm trôi qua, ngôi tháp vẫn còn đứng vững và tiềm tàng uy lực khó hiểu, đã làm chùng lại mọi mưu toan xóa bỏ nghĩa trang. Thấp thoáng vài bóng người trong khuôn viên ngôi tháp. Tôi ao ước được vào bên trong để nhìn công trình dang dở với thanh kiếm khổng lồ cắm xuống mặt đất và vành khăn tang rộng lớn quấn quanh ngôi tháp, nhưng không nghĩ ra cách nào, vì anh bảo vệ lắc đầu từ chối.
Trong cơn gió vi vu xô dạt hàng cây bạch đàn, tôi đến từng ngôi mộ, cắm từng nén nhang vào những tấm đan xiêu vẹo, đối diện với từng hình ảnh, tên họ, đơn vị, ngày sinh, ngày mất. Dù không còn ngay ngắn vị trí, những tấm đan vẫn còn nguyên vẹn. Anh bảo vệ có vẻ quen thuộc với máy chụp hình, bấm máy kịp thời mỗi lần tôi di chuyển qua từng ngôi mộ. Hình như anh đã thông cảm việc làm của tôi nên sau đó sẵn sàng dẫn tôi đi qua các khu vực khác.
Anh cho biết, có những gia đình đã đến đưa tiền nhờ bảo vệ dọn dẹp phần mộ thân nhân của họ. Hàng năm có một số thương phế binh và cựu quân nhân sống ở các khu vực lân cận thường đến đây vào dịp Tết để tảo mộ. Còn lại những ngôi mộ khác không ai chăm sóc, ẩn sâu dưới lớp cỏ rậm, bia mộ như cố vươn lên nhắn gởi một lời ghé thăm.
Bó nhang trong tay đã hết sạch. Anh bảo vệ cho biết các khu vực khác cũng tình trạng tương tự, nghĩa là có những ngôi mộ đã được chăm sóc xen lẫn với những ngôi mộ ngập cỏ. Tôi muốn đi xa hơn, nhưng anh ta bảo, không nên đến gần toán bộ đội đóng rải rác quanh nghĩa trang. Ðành nhủ với lòng mình, dù sao tôi đã thăm lại được nghĩa trang, một việc hằng ấp ủ trước đây. Tôi lại ngồi sau chiếc xe gắn máy lao đi trên những đoạn đường bụi đỏ, chạy quanh một vòng qua các con đường bị đào xới, để ngậm ngùi thấy mọi nơi của nghĩa trang đều hoang tàn giống nhau.
Ra khỏi bức tường thành hoen ố, tôi trở lại quán nước. Tôi chưa kịp nói chuyện với gia đình về những bức ảnh vừa chụp được, thì anh tài xế nói nhỏ bên tai nên cho thêm tiền người bảo vệ để được quay phim. Tôi kéo anh bảo vệ ngồi riêng một bàn. Tôi đưa cho anh thêm một số tiền Việt và ngỏ ý muốn trở lại quay vài đoạn phim. Anh ta không phản đối nhưng khuyến cáo không nên đi quá xa khu vực ấn định. Uống chưa xong ly nước, chúng tôi trở lại nghĩa trang.
Chiều xuống, nghĩa trang không một bóng người, chỉ nghe tiếng chim kêu áo não trên một cành cây gần đó và tiếng đa đa khàn khàn từ những lùm cây trên sườn đồi khiến cảnh chiều thêm quạnh hiu. Xa xa, một làn khói xám xịt lên cao từ một lò gạch, uốn éo theo chiều gió, ngập ngừng không biết tan về đâu. Những bia mộ như hớn hở đi vào ống kính, cả cỏ dại cũng lắc lư nhảy múa hưởng ứng công việc của tôi.
Tôi cẩn thận thu cận cảnh vài tấm bia. Khi quay ống kính về phía ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài sừng sững trước mặt, tôi thực sự xúc động, cảm thấy mọi thứ trong nghĩa trang đều sống động như đang đồng cảm với tôi về cuộc viếng thăm bất ngờ nầy. Nhìn rõ những hình ảnh trên màn hình, tôi bỗng rùng mình. Nghĩa trang đang thở từ lòng đất. Từng tấm bia lướt qua trong máy đang gởi lời chào thân ái. Tôi tin những cặp mắt vô hình đang đồng loạt nhìn tôi. Phải chăng đây là khoảnh khắc giao cảm hiếm có với những người lính vô danh ngày xưa đã hy sinh mạng sống của mình, ngày nay họ đã trở thành những anh hùng trong lòng dân tộc.
Ðâu đây như có tiếng chân đều nhịp của những tháng ngày thao trường đổ mồ hôi để chiến trường bớt đổ máu. Chúng ta đang sống lại trong hàng ngũ? Những ngày xưa thân ái, anh đã gởi lại nơi đây. Anh về qua xóm nhỏ, tình quê hương đậm đà. Anh về thủ đô, lòng em rộn rã.
Những địa danh bỗng hiện ra, những trận đánh như còn sôi động đâu đây. Máu ai nhuộm thấm ngọn đồi chiến lược? Bàn tay nào giương cao lá cờ tung bay trên cổ thành? Anh đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình để bảo vệ mảnh đất miền Nam. Thế rồi anh ngã xuống, thế rồi tôi buông súng. Anh cô đơn nơi hoang địa, tôi lầm lũi cảnh tha hương.
Bao nhiêu năm chiến tranh, chỉ có một ngày đáng nhớ. Chỉ có một ngày đáng nhớ, nhưng không thể viết hết thành lời. Không thể viết hết thành lời, bởi vì thảm kịch phân ly đã vượt khỏi biển khơi.
Người nằm đó không buồn lên tiếng. Những kẻ bạc mệnh đã hiến cho lịch sử những giọt máu đào quý giá. Một thế giới câm lặng nhưng lại cho ta bao điều suy nghĩ về sinh ký tử quy của con người, về tình tự dân tộc muôn thuở của quê hương. Thế mà con người lại đem về những chủ thuyết xa lạ để sát hại ngay chính đồng bào mình. Thế giới vô sản được hô hào đoàn kết lại để chết cho một số người. Sự dối trá và tàn ác được vinh danh như một tiêu chuẩn của đạo đức.
Ôi quê hương, ta không dám hồi tưởng lại quá khứ, e không còn nước mắt để khóc cho những đau thương của dân tộc. Ta chưa dám mơ một ngày mai rạng rỡ, khi vẫn còn những ngày hôm nay đen tối.
Kẻ nơi cõi âm, người còn dương thế, không còn khoác chiến y, nhưng nỗi lòng về đất nước vẫn còn trong mạch sống. Mạch sống vẫn còn tuôn chảy, dù những năm tháng cuối đời có thể đếm được rồi, bởi mạch sống vẫn trung thành với quá khứ, vẫn lan rộng ra như một dòng nước thủy chung cho thế hệ mai ngày.
Lịch sử đang phơi bày trước mắt, không cầu kỳ hay bóp méo, như dấu tích đập phá trên bia mộ cùng khắp nghĩa trang, như ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài hùng vĩ đứng giữa trời kia, như ngôi Ðền Tử Sĩ chứng nhân trên đồi cao, như bầu trời lồng lộng, như cỏ cây đang lay động theo nhịp thở của anh từ lòng đất.
Anh nằm đó, nghìn thu giấc ngủ, nhưng sao trong gió ta nghe có tiếng thì thào
Ðột nhiên, trời tối sầm lại. Giờ của hoàng hôn đã vãn. Mặt trời đã thu về những ánh tà dương lộng lẫy, để lại một vùng ánh sáng yếu ớt sau ngọn đồi. Tiếng sấm xa xa dội lại vu vơ. Những đám mây đen ùn ùn kéo tới. Mặt trời thực sự biến mất.
Nhưng dấu hiệu báo cơn mưa chỉ diễn ra trong chốc lát, có lẻ mưa một nơi nào đó. Trời mây trở lại yên tĩnh, trống trải, hoang vu. Những con chim én như những nốt nhạc lẻ loi trên mấy hàng dây điện, bỗng vụt bay lên không. Chúng chao lượn vài vòng rồi rủ nhau bay về bên kia nghĩa trang, lúc nầy trông như bức tường thành ngăn cách hai thế giới. Một cõi âm đấy bí ẩn và một cõi trần u uất sắp vùi vào bóng tối của đêm đen gần kề.
Ngôi Ðền Tử Sĩ, ngọn tháp Nghĩa Dũng Ðài, Vành Khăn Tang, rừng bia mộ, những con đường đất đỏ còn đó. Nghĩa trang vẫn còn đó, dù trong hoang tàn.
Những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống, nhưng mãi mãi vẫn sống trong tim những người Việt Nam hằng yêu thương đất nước và giống nòi.
Virginia – 2004
Chu Lynh

Năm Này Tôi Bằng Tuổi Ba Tôi

Phan Nhiên Hạo: Năm Này Tôi Bằng Tuổi Ba Tôi
By anlac • Jan 26th, 2009 • Category: Bút Ký
1.

Một buổi chiều tháng 3 năm 1975. Phi trường Kontum loang lổ cháy, đám cỏ khô dưới chân úa vàng, mặt trời đỏ bầm đang lặn xuống sau núi. Tiếng pháo kích vẫn tiếp tục nổ rất gần. Tôi có một con dế than trong vỏ hộp quẹt. Con dế duy nhất còn lại sau những trận thư hung với dế của lũ trẻ trong cư xá. Tôi mở hộp, thả con dế xuống đám cỏ khô. Mặt đất đã bắt đầu tối, chỉ một chớp mắt, con dế lẫn mất. Nhiều năm sau tôi thường tự hỏi tại sao tôi đã hành động như vậy vào lúc đó. Có lẽ tôi đã linh cảm sự chấm dứt tuổi thơ và những ngày khổ đau phía trước, và vì vậy đã thôi không muốn cầm tù một con dế nhỏ.
Ba tôi trong buổi chiều ảm đạm đó là một hình ảnh vừa rõ ràng vừa nhập nhoạng trong trí nhớ tôi. Ông mặc quân phục thẳng nếp, dáng điệu bình tĩnh nhưng buồn rầu. Mọi người đều hoang mang và vội vã. Rồi mẹ và ba anh em tôi lên máy bay, chỉ với một chiếc valise. Hai em của tôi còn quá nhỏ và chắc chúng đã chẳng nghĩ ngợi gì. Cả tôi cũng vậy. Tôi chỉ linh cảm một điều gì không giống những cuộc chia tay trước đó, khi anh em chúng tôi bay về nhà ông bà nội ở Đà Nẵng những kỳ nghỉ hè. Chiếc phi cơ quân sự bốc lên cao, tôi còn nhìn thấy những đốm lửa cháy đỏ cuối đường phi đạo.
Tôi không nhớ ba tôi có nói những lời cuối cùng nào với tôi lúc đó, tôi đã có ôm hôn từ biệt ông không. Ông đã dặn dò gì mẹ tôi. Chúng tôi đi. Ông ở lại, rút lui theo đoàn quân ra khỏi cao nguyên, bị chặn đánh và bắn chết trong một cánh rừng gần đèo Mang Giang.
Một cuộc rút quân kinh hoàng và đẫm máu. Đó là tất cả những gì gia đình tôi biết được từ những lời kể lụn vụn, những phỏng đoán và suy luận từ nhiều nguồn tin khác nhau sau nhiều năm chờ đợi. Không có ai chứng kiến những giây phút cuối cùng của ba tôi. Tôi luôn hình dung ông chết vào buổi tối. Một cái chết chậm chậm, đau đớn vì những vết thương mất máu. Chúng tôi không bao giờ tìm thấy xác ông.
2.
Tôi đã lớn lên trong nỗi chờ đợi đăng đẳng và tiếng khóc thầm lặng của mẹ tôi. Một người không bao giờ thôi chờ đợi và hy vọng. Rồi tôi cũng lớn lên. Tôi tưởng tôi đã quên. Tôi tưởng chiến tranh không đụng chạm gì đến tôi. Tôi đã không đánh nhau và tôi cũng đã không bị tù đày. Nhưng ba tôi thì đã bị bắn chết vào những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Một ngườI đàn ông nho nhã, đọc tạp chí Văn, thẳng thắn và tận tụy với công việc. Ông đã từng đặt tôi lên bàn tiệc để tôi đọc thơ, giữa những người bạn bắt đầu ngà ngà của ông. Những câu thơ chú tôi dạy, tôi không biết tác giả: “Thừa Phủ ơi lòng ta hồng biển lửa. Khi mùa đông rớt xuống vai người. Chiếc lá vàng khô chết hồn vui…”, Ông đi vớt từng con lăng quăng cho tôi nuôi cá, dẫn tôi ra bờ sông Dakla chỉ cho thấy cây lúa, để lần đầu tiên tôi biết lúa và gạo không phải là hai loại khác nhau.
Chúng tôi đã từng sống ở đồn Mangbuk, trong căn phòng xây ngầm dưới đất. Buổi chiều những người phía bên kia chĩa loa vào kêu đích danh tên ba tôi. Lính của ông trả lời họ bằng những phát đại bác. Không có đường bộ tiếp tế vào Mangbuk. Sân bay phía trước đồn lót bằng những tấm gỉ sắt dã chiến bốc đỏ bụi mù vào những ngày khô, Một người lính làm việc trên bãi đáp bị cánh quạt máy bay chém đứt đầu. Bụi mù đã khiến ông bước thẳng đến cánh quạt trong khi cố gắng nhặt lại chiếc mũ bị gió thổi bay.Tôi gọi ông là chú Tùng. Ba tôi nói những người lính trong đồn đã dùng xôi nếp ráp đầu chú Tùng vào người lúc khâm liệm.
Khi chúng tôi dọn về ở trong thị xã Kontum, chúng tôi cũng có một hầm nổi đắp bằng bao cát như tất cả những nhà khác trong cư xá sĩ quan. Tôi đã từng thấy trực thăng Chinook cẩu những quan tài kẽm trắng bạc lủng lẳng bay ngang nhà. Tôi chưa từng thấy tận mắt người chết. Sự thật thì tôi không bao giờ dám đến nhìn những người bị xe cán như những đứa trẻ khác. Tôi sợ thấy máu.
Nhưng tôi biết thế nào là sự mất mát mà cái chết mang lại cho những ngườI sống. Những người bạn của ba tôi bỗng lâu không thấy đến nhà, rồi thì ba tôi nói họ đã tử trận. Một ngườI em gái của ba tôi không bao giờ lấy chồng sau khi người yêu của cô, một sĩ quan trẻ, chết vì xe cán phải mìn.
Cái chết đối với tôi là sự vắng mặt vĩnh viễn của những người thân, không phải những con số trên giấy tờ, không phải mô tả tiểu thuyết hay tưởng tượng thơ ca. Tôi không can dự vào chiến tranh, nhưng cũng giống như nhiều người Việt Nam khác, chiến tranh đã can dự đến tôi.
3.
Trong nhiều năm trời sau 1975, người ta đã dạy những đứa trẻ như tôi cách nhục mạ cha mẹ chúng. Người ta muốn trong trí óc tôi, ba tôi chỉ là một phần tử của cái tập hợp những kẻ bại trận. Ông chỉ là một con số trong tổng số những địch quân bị tiêu diệt. Và bằng cách đó, người ta muốn những đứa trẻ như tôi nhìn cuộc chiến tranh vớI con mắt biện chứng ráo hoảnh như thể cái chết của cha mẹ chúng là một tất yếu lịch sử. Người ta không chịu hiểu rằng chẳng có một tất yếu lịch sử nào hàn gắn được những đổ vỡ trong lòng một đứa trẻ đã bị cướp mất tuổi thơ. Tôi biết tôi không phải là trường hợp duy nhất. Tôi biết có hàng trăm ngàn, có lẽ cả triệu những đứa trẻ miền Nam sớm mồ côi cha như tôi. Một thế hệ lớn lên trong những xung đột không ngừng giữa cố gắng lãng quên và các ám ảnh ký ức, giữa sự kinh tởm chiến tranh và tinh thần bạo động, giữa ý muốn tha thứ và lòng căm thù.
Trong nhiều năm tôi cũng đã tự dạy tôi quên lãng. Nhưng tôi vẫn thường mơ thấy ba tôi. Người ta nói mơ thấy một ngườI thân bị mất tích mà người đó không nói cười gì trong giấc mơ thì đó là một ngườI đã chết. Khi còn nhỏ mỗi lần tôi mơ thấy ba, mẹ đều gặng hỏI xem ba tôi có nói cười gì trong giấc mơ không. Bao giờ tôi cũng nói có. Sự thật thì trong những giấc mơ, ba tôi là một người rất trầm lặng, vẻ mặt buồn rầu. Một người mà ngay cả trong những giấc mơ tôi cũng biết là đã ở quá xa, và không bao giờ còn trở về với anh em chúng tôi nữa.
Chúng tôi còn giữ vài tấm hình cũ của ông, nhưng khuôn mặt trong những tấm hình đó không có gì giống với ngườI đàn ông trong những giấc mơ tôi, nơi ông có vẻ là một biểu tượng hơn là một con người thật.
Sau cái chết của ba tôi, tôi đã không bao giờ còn tin vào một hạnh phúc vẹn toàn. Tôi luôn nhìn thấy cái kết thúc buồn bã ngay cả trong những giờ phút tươi sáng nhất, giống như cái kết thúc của tuổi thơ tôi ở phi trường Kontum một buổi chiều tháng 3 năm 1975.
4.
Ba tôi mất khi ông mới 35 tuổi. Ông đã hành động như tất cả những người đàn ông đàng hoàng và có trách nhiệm trong thời buổi ông cần phải làm. Một người đàn ông thời chiến vẹn toàn. Bây giờ tôi đã bằng tuổi ba tôi. Ông không còn sống để cùng tôi già, nhưng tôi sẽ không bỏ ông lại sau lưng. Cho đến tận bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn còn nằm mơ thấy ba tôi. Ông không chỉ là người đã sinh ra tôi mà còn là dấu ấn của chiến tranh và những mất mát tôi mang theo suốt đời.
Tôi luôn hãnh diện về ba tôi, cho dù lịch sử đã phản bội ông.
Phan Nhiên Hạo

Quê Hương Của Tôi

Chu Lynh: Quê Hương Của Tôi
By anlac • Oct 18th, 2008 • Category: Bút Ký

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Ca dao
Ngày rời Việt Nam, mẹ tôi đưa cho tôi một nắm đất lấy từ sau vườn. Không hiểu sao mỗi lần nhìn lại nắm đất đựng trong chiếc hộp nhựa trong suốt, tôi luôn luôn nghĩ trong nắm đất có giọt nước mắt mẹ tôi. Mẹ tôi bảo khi đến nơi lạ, nướng nắm đất lên rồi nấu nước uống, sẽ tránh được bệnh “lạ nước lạ cái”.
Tôi không làm theo lời mẹ tôi khi đến nước Mỹ. Tôi muốn giữ nguyên nắm đất quê nhà. Tôi cũng không muốn nước mắt mẹ tôi tan loảng vào thứ nước lạ. Dường như nắm đất đã đem lại cho tôi những may mắn nào đó trên bước đường tha hương, nên di chuyển đến nơi nào, tôi cũng mang theo. Lúc nào nắm đất cũng nằm cạnh hình ba tôi trên bàn thờ.
Tôi sinh ra bên kia bờ vĩ tuyến, cuộc đời nổi trôi dọc theo chiều dài đất nước. Một tuổi thơ bơ vơ nơi làng quê nghèo đói, được kết thúc bằng chặng đường cam go để vượt qua giòng Bến Hải gặp lại ba tôi. Những năm tháng miệt mài trong các trường nội trú. Nghiệp thư sinh đầy hứa hẹn đành dang dở để đi theo tiếng gọi của non sông. Hết chiến tranh, tôi bị lùa vào hơn mười trại tập trung đầy ải và thù hận của Bắc quân. Ra khỏi vòng lao lý là những ngày mưu sinh cùng cực bằng đũ phương kế để sống sót. Rồi bổng nhiên như có tấm thảm thần đưa tôi đến một thế giới khác.
Những năm tháng cuối đời tha hương, ngày lao đao với sinh kế, đêm về bồi hồi nhớ người nhớ cảnh, cái đau thân xác sao bằng cái đau trong hồn. Có khi nghĩ về cuộc đời bèo dạt của mình đã gắn liền với vận nước, như đứa bé bám vào vú mẹ đầy thương tích trên quốc lộ máu trong chiến trận Bình Long. Người mẹ cuối cùng đã chết, nhưng đứa con mồ côi phải sống. Tự thâm sâu của lòng mình, như có một chất liệu còn sót lại, không là hoài bảo ngày xưa, không là mưu cầu hôm nay, cũng chẳng phải là ước vọng ngày mai cho riêng mình: tình yêu quê hương và món nợ đất nước.
Tôi muốn về thăm mẹ tôi lần cuối trước khi bà ra đi.
Trước ngày trở về, tôi nhìn nắm đất hằng giờ, ước hẹn ngày trùng phùng một quê hương đã bỏ lại sau lưng. Quê hương chính là người mẹ đưa tôi vào đời, dẫn tôi đến trường, nhắn nhủ ngày tôi lên đường nhập ngũ, vỗ về tôi trong cơn tuyệt vọng chốn lao tù, và đôi khi trong đêm tối loé sáng mời gọi về tương lai.
Như chuyện thần thoại bí ẩn hay chuyện võ lâm hoang đường, ai đã cấy vào lòng đứa bé một hạt giống ngày cất tiếng khóc chào đời: làng quê tôi. Mảnh đất chôn nhau cắt rốn ấy đã ấp ủ tôi, nuôi tôi khôn lớn, và theo tôi suốt cuộc đời.
Làng tôi nghèo nhất vùng, không có sông, chẳng có núi, chỉ có những mảnh ruộng nhỏ. Nuôi sống dân làng vào mùa khô là những gánh củi, bó mây, lấy từ những cánh rừng rất xa. Nghề đan lát là sở trường của dân làng giúp miếng cơm manh áo vì lúa khoai không đũ ăn. Mùa đông, những ngọn gió thổi từ Lào qua lạnh thấu xương. Không có chăn mền, anh em tôi phải vùi vào lớp rơm vây quanh dưới giường. Không manh áo, lạnh run với cái quần cụt, chiều chiều ngồi ở ngạch cửa, anh em tôi ngóng chờ mẹ trở về từ cánh đồng Lâm Xuân hay từ ngôi chợ Hòa Ninh ở đâu đó thật xa.
Khi ba tôi trốn chạy Việt Minh rồi biền biệt phương Nam, thì ở quê nhà mẹ tôi tất bật với ruộng đồng nuôi đàn con thơ dại. Những khi nghe ai hát bài Bà Mẹ Quê, tôi cứ nghĩ bà mẹ trong bài hát chính là mẹ tôi vất vả trăm chiều nuôi một đàn con chắt chiu – bà mẹ quê, hôm sớm không nề hà chi – bà mẹ quê, ngày tháng không ao ước gì, nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui …
Nhưng rồi, mẹ và anh em tôi phải rời quê cha đất tổ, theo đoàn người di cư vào Nam. Tôi mang theo trọn vẹn hình ảnh ngôi làng quê và những kỷ niệm tuổi ấu thơ.
Anh em tôi gặp lại ba tôi mừng mừng tủi tủi, khi ông trở về từ một cuộc hành quân dài ngày ở Quảng Trị. Một đời cho gia đình, thế mà ba tôi đành biệt âm trong Nam mấy năm trời, sau này tôi mới biết, nếu ở lại quê nhà, ba tôi sẽ bị quy chụp là phản động, làm sao thoát được những màn đấu tố man rợ của Việt Minh. Đối với tôi, ba tôi là hình ảnh của lòng chung thủy, là cây đại thụ của gia đình. Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, trong cơn đau nát ruột của căn bệnh, với trí nhớ khác thường, ba tôi đã kể lại cho tôi nhiều chi tiết về giòng họ, để có cuốn gia phả đầy đũ ngày hôm nay.
Từ miền Trung xuôi về Nam như đi trong khung trời mới thênh thang, nhưng dường như vẫn có gì trống vắng, như thể nửa phần hồn tôi đã để lại quê nhà.
Ngày đi học ở Tam Kỳ, một hôm tôi bỏ học theo một đứa bạn cùng lớp, lang thang vào một ngôi làng. Lạc đường, mỏi chân, đói bụng, hai đứa ghé vào một ngôi nhà tranh. Nghe tiếng chó sủa, một bà cụ già chầm chậm chống cửa lên. Khi biết chúng tôi đi lạc, bà kêu một đứa cháu dẫn đường.
Trước khi đi, bà lấy cây sào chọc trái đu đũ chín cho chúng tôi ăn. Bà nhìn hai đứa bé đói ăn sạch trái đu đũ. Tôi ngước mắt nhìn lên khuôn mặt bà. Ôi chao, khuôn mặt bà sao giống khuôn măt bà cố ngoại tôi ngày tiễn gia đình tôi vào Nam. Da nhăn nheo, mái tóc bạc, mắt xa xăm, nhưng sao nét mặt đầy nhân hậu. Phải chăng, đó là nét nhân hậu trên mọi khuôn mặt những người mẹ Việt Nam.
Năm lớp ba Tiểu Học ở Mộ Đức, để đến trường, tôi phải đi bộ mỗi ngày gần bốn cây số đường làng. Ngôi trường mái ngói chỉ một gian dành cho hai lớp học chung nằm giữa ruộng mía. Giơ tay xin thầy đi tiểu là tôi lọt giữa ruộng mía ngọt lịm tha hồ mà cạp.
Thầy Ba thương tôi nhất lớp vì tôi không can dự vào việc chia phe đánh lộn. Tan học, thầy bắt tôi đi theo thầy một đoạn trên đường về, đôi khi mưa gió, tôi được nép sát vào lòng thầy. Một hôm, sau bài tập đọc Ngày Nay Học Tâp, Ngày Mai Giúp Đời, thầy xoa đầu tôi và hỏi tôi lớn lên có muốn làm tổng thống không. Cho đến bây giờ, đã học qua bao nhiêu thầy, đối với tôi, thầy Ba là người thầy tôi ngưỡng mộ nhất, vì thầy đã gieo vào lòng tôi ý niệm giúp đời ngay từ khi còn nhỏ.
Tôi không được làm tổng thống như thầy mong muốn, nhưng tôi hãnh diện đã đứng trong hàng ngũ cầm vũ khí bảo vệ mảnh đất quê hương mình. Ước gì tôi được về lại Mộ Đức tìm thăm mộ thầy để thắp một nén nhang của đứa học trò thầy thương nhất lớp. Thầy Ba, chẳng bao giờ con quên được thầy, dù đã hơn năm mươi năm trôi qua.
Tết Trung Thu ở Sa Kỳ, trường tổ chức rước đèn. Trên đường quê leo lét những ngọn đèn dầu, đoàn người với những lồng đèn Trung Thu đủ loại, xen kẽ những con ngựa giả đi một vòng ngôi làng. Đi qua mỗi nhà, lại thấy dân chúng và trẻ con thích thú nhập vào giòng người.
Trở về lại trường, học sinh reo lên khi nhìn một dảy thúng kẹo của quân đội mang đến. Đứa nào cũng căng đầy túi bánh kẹo. Chiến tranh ở một nơi nào đó, còn xứ Sa Kỳ này vẫn thanh bình êm ã. Không phải ngôi làng tôi, nhưng sao tôi yêu thương mảnh đất này như chính nơi mình đã sinh ra.
Năm 1962, trường Thiên Hữu ở Huế tổ chức đi xe đạp xuyên tỉnh. Hơn ba mươi học sinh vượt đường dài sáu mươi cây số, ghé Quảng Trị một đêm, sáng hôm sau đi xe đò ra Bến Hải. Đứng bên này cầu Hiền Lương, tôi nhìn lá cờ thật dày cứng đơ bên kia sông, trong khi lá cờ vàng bên này uốn lượn trong gió ban mai. Nhìn về xa xăm, tôi tự hỏi, làng tôi đâu đó cuối chân trời, bây giờ ra sao? Bà cố tôi còn sống hay đã đi vào lòng đất?
Mấy anh lính chèo đò đưa học sinh ra gần giữa sông. Lảng vảng gần giữa giòng vài chiếc thuyền nhỏ. Một người lính cho hay, đó là thuyền của những nhân viên hợp tác xã miền Bắc, nhưng họ là những tên do thám thay nhau dò chừng phía Quốc Gia. Tôi hỏi người lính làm sao có thể về thăm quê tôi, anh trả lời: “Họ sẽ cho em về, nhưng không bao giờ em được trở lại miền Nam”…
Tôi thầm thì với nắm đất, như thì thầm với bà con nội ngoại ngày xưa đã nuôi tôi khôn lớn…
Số phận tôi luôn luôn sống xa gia đình. Ngay từ ấu thơ, tôi đã không có vòng tay ba tôi. Di cư vào Nam, tôi ở với gia đình được vài năm, sau đó ba tôi gởi vào các trường nội trú. Khi lớn lên, ba mẹ tôi vào lập nghiệp mãi tận rừng già Bình Long, tôi vẫn ở lại Huế đi kèm trẻ để có phương tiện tiếp tục học hành. Bước vào quân ngũ, tôi đóng quân những đơn vị xa nhà. Những ngày về phép đối với tôi quý như vàng. Tôi thích lẩn quẩn bên gia đình vui đùa, ăn uống, chụp hình kỷ niệm. Đôi khi tôi tự hỏi, sao các anh em khác luôn luôn được sống bên cạnh ba mẹ, mà tôi lại chịu cảnh xa gia đình. Có phải vì thế mà tôi thường hay tủi thân mỗi khi nhìn thấy một gia đình ấm cúng.
Đời lính ngang dọc, đi qua những ngôi làng, tôi thường liên tưởng đến ngôi làng nghèo đói của mình. Tiếng chó sủa về đêm, tiếng khóc trẻ thơ, ruộng bắp sắp đến ngày hái, những ống quần xăn cao trên cánh đồng vào mùa cấy lúa, những ánh mắt ngây thơ hay những khuôn mặt nhăn nheo là những hình ảnh dễ làm tôi xúc động. Một đôi khi, nhớ tuổi thơ, ao ước một ngày nào đó được về lại quê mình, tôi thường rướm rướm nước mắt như một đứa bé.
Lúc còn dưới mái học đường hay khi đã vào lính, tôi thường nắn nót chép lại những bài hát về quê hương. Tôi thích những bài hát nói về xóm nghèo, cánh đồng, cây đa đầu làng, những con đường xưa lối cũ, hát lên là nghe rung động từng đường gân thớ thịt…
Tôi ngắm nhìn nắm đất quê hương, muốn một lần tạ tội với tổ tiên bởi mình đã không được làm gì để ngăn giòng thác bạo lực…
Một miền Nam đang sống no ấm với ruộng đồng, bỗng nhiên những kẻ lạ mặt đến ép buộc tiếp nhận những điều họ không bao giờ cần đến, và bị tước đoạt đi những thứ họ đang cần cho cuộc sống. Tàn phá và gieo chết chóc được biện minh cho những nhu cầu xây dựng một thiên đường xa vời. Trong đầu óc non nớt, đứa bé như tôi chỉ thấy sự tàn ác và phi lý. Người lính chết ngoài trận địa, nhưng bom đạn cũng không tha người dân quê. Nhà cháy, cầu sập, những thi thể máu me của người dân lành đã tạo ra những câu hỏi nhức nhối cho cậu bé còn trên ghế nhà trường. Tôi chưa hiểu được những nguyên nhân gây nên chiến tranh, nhưng tôi mơ hồ những thôn tính miền Nam được điều khiển từ một nơi nào đó rất xa. Có lẽ những đêm đấu tố ở làng Thọ Linh anh em tôi chứng kiến trước ngày di cư vào Nam như là những cảnh báo một miền Nam yên lành sẽ đến phiên mình.
Cuộc đổi đời bắt đầu từ ngày 30 tháng tư năm 1975, đã tạo ra một thảm kịch toàn diện. Kẻ ra đi chia lìa thân thuộc, để tìm hơi thở tự do bất chấp sống chết trong rừng sâu hay biển rộng. Người ở lại bị tước đoạt gia sản, bị kiểm soát lối sống và cả giòng tư tưởng. Những người vô sản từ rừng núi nào đó chui ra thành phố, trong phút chốc nghiểm nhiên thành những tay giàu có, mà hai mươi năm trước đây chính họ đã mở chiến dịch đấu tố.
Một khuôn mẫu tổ chức kỳ lạ vay mượn từ một nơi xa lạ, bỗng nhiên áp đạt vào một xã hội được xây dựng từ hằng ngàn năm nay. Nền móng bị xới tung, thay vào đó những luật lệ kỳ quái, những lời dạy bảo của những con người rừng rú không cần chữ nghĩa. Gia đình, đạo đức, truyền thống, tình tự dân tộc trở thành vô nghĩa. Cướp bóc, tận diệt, dối trá trở thành những tiêu chuẩn đạo đức của một chủ thuyết lạ lùng không có huyết thống nào với dân tộc. Cùng khắp miền Nam phủ trùm nỗi sợ hãi, khiến có người hăng say phất cờ mọi nẽo phố chứng tỏ đồng tình, rút vào rừng sâu làm kẻ tiền sử, hay đành phó mặc số phận cho chủ nhân mới định đoạt.
Có phải họ là những sứ giả đến từ địa ngục? Họ say sưa triệt phá xã hội hiện tại, hứng thú thiết lập xã hội mới, sẽ đi về đâu có lẽ họ cũng chưa hình dung được. Họ gọi đó là xã hội chủ nghĩa. Từ đây, bào thai mới tượng hình hay cụ già cong lưng trên thửa ruộng cần phải được thay máu mới. Họ gọi máu đó là tư tưởng Mác Lê. Theo lời họ, thiên đường cộng sản với thế giới đại đồng, một ngày không xa nữa, chỉ cần đưa tay ra là có thể đón lấy.
Tôi hăm hở trốn chạy cái thiên đường đó, bỏ lại gia đình, quê hương, ngôi làng. Tôi không nghĩ mình sẽ có ngày trở lai. Ngày rời quê hương, tôi không biết mình may mắn hay bất hạnh. Ngôi làng tôi, quê hương tôi dường như đã thuộc về quá khứ.
Nhìn nắm đất, tưởng như đây là nắm đất thành Sion mà dân Do Thái mơ về, những ngày lưu đày bên bờ sông Babylone.
Suốt một tuần lễ chăm sóc mẹ tôi vừa thoát cơn bệnh thập tử nhất sinh, hầu như tôi không có thì giờ để nhìn sự đổi thay của đất nước. Cho đến khi về Sài Gòn chuẫn bị về quê, tôi mới giật mình. Xứ sở này đang thay đổi với tốc độ chóng mặt. Chiều hướng thay đổi rõ ràng không nhắm vào những công ích xã hội hay những người nghèo khổ, mà như chỉ phục vụ tầng lớp cầm quyền.
Ngoài đường xe cộ đũ loại lao đi như bị một lực phía sau thúc đẩy, để phóng đến những mục tiêu nào đó thật xa không định hình được. Nhà cửa nguy nga mọc lên phô diễn quyền uy của những chủ nhân mới. Trên đường phố, trong chợ, nhan nhản hàng giả bày bán công khai. Sự gian dối trong buôn bán hay giao tiếp như một nhu cầu để sống còn.
Trong câu chuyện với những người tiếp xúc, tôi không gặp được mấy người lưu tâm đến sinh tồn của đất nước. Đôi khi họ mù mờ về những thông tin trong nước mà người hải ngoại biết rất rõ. Giới trẻ hối hả lao vào những dịch vụ mới lạ có thể đem về lợi tức nhanh chóng. Có lẽ bởi không còn khả năng nhồi nhét lý thuyết không tưởng vào giới thanh niên, để sống còn, người cộng sản đành dùng sách lược cuối cùng, là tạo ra một lớp người chỉ biết kiếm tiền và hưởng thụ để tiêu diệt mọi mầm mống thay đổi hay phản kháng.
Trong một quán phở ỏ ngoại ô Sài Gòn, một em bé đến mời tôi mua vé số. Trên ngực còn phù hiệu học sinh, cô bé khoảng mười tuổi, hơi nhỏ con, mắt rất sáng nhưng tiếng nói lại quá nhỏ. Tôi lấy một tấm vé và đưa cho em tờ hai mươi đô. Em ngơ ngác không dám nhận, em nói chưa bao giờ thấy loại tiền này, chỉ xin một ngàn đồng tiền Việt. Tôi hỏi thăm em vài câu trong lúc vét hết mớ tiền Việt trong túi.
Cha em đạp xích lô vừa bị tai nạn đang nằm bệnh viện, mẹ em bỏ gánh hàng rong vào nuôi người bệnh. Hai đứa em nhỏ gởi ông bà nội. Tan học là em ra đại lý nhận vé số đi bán, mỗi ngày kiếm được mấy lít gạo cho gia đình.
Cầm mấy trăm ngàn trong tay mà môi em run run, mắt em ươn ướt. Em lí nhí cám ơn, rồi lặng lẽ ra đi. Trước khi khuất vào một con hẻm, em còn ngoái lại nhìn tôi thật lâu. Ước gì có một tay nhiếp ảnh nhà nghề lúc này. Ông ta sẽ làm mờ đi mọi thứ chung quanh, điều chỉnh máy vào đôi mắt của em, để có tấm hình về một sản phẩm của xã hội. Trong đôi mắt em, có nét đẹp của lòng hiếu thảo, có nét ngây thơ của thiên thần, thiên thần bị đọa đày xuống trần gian Việt Nam. Có khác chi tấm ảnh đã phổ biến rộng rãi trên truyền thông, vào giai đoạn thế giới đã cạn nguồn từ tâm với những người tỵ nạn khốn khổ: tấm hình đứa bé ngồi sau hàng kẻm gai trại tỵ nạn Hồng Kông trước ngày đóng cửa.
Tận cùng một con hẻm ở quận Ba, tôi gặp một cựu viên chức chế độ miền Nam. Ông nguyên là giáo sư Sử Địa. Ông quanh quẩn trong căn phòng với sách vở, dạy dỗ con cháu, chiều chiều làm bạn với bông hoa. Ông thường không trả lời các câu hỏi, chỉ thở dài. Ông nói ông không muốn dạy địa lý cho con cháu, e rằng không thể cầm phấn mà vẽ lại bản đồ Việt Nam. Ông cũng không muốn dạy lịch sử, e rằng không còn đũ sức nói hết pho sử của những tên gian hùng thời đại. Ông lại thở dài. Ông chỉ dạy con cháu đạo lý làm người.
Cuối cùng, ông cũng có cái nhìn rốt ráo về những người đang cai trị: đừng mong cảm hoá người cộng sản. Nói rồi ông lại thở thật dài.
Tôi ra về, bị ám ảnh về tiếng thở dài sau năm 1975. Một cán bộ cao cấp của Mặt Trận Giải Phóng bị lột sạch công lao, bị tước đoạt mọi quyền làm người, chỉ được tự do … đi lại trong nhà, không một phản ứng nào ngoài tiếng thở dài. Một điệp viên nhị trùng sau khi hoàn tất sứ mạng trong lòng đối phương, tưởng rằng sẽ trở thành anh hùng đi vào lịch sử, đâu ngờ phải ký tên vào bản cam kết im lặng cho đến khi bước qua thế giới bên kia. Đành thở dài cho hết kiếp. Một cán bộ “Câu Lạc Bộ Kháng Chiến”, ngao ngán tình đồng chí, bị cô lập, ôm mớ huy chương trong tay mà thở dài.
Tôi đi giữa phố phường, bàng hoàng nhìn lớp son phấn mới, bỗng thấy mình như một Từ Thức từ cảnh tiên trở về, không phải ngỡ ngàng nhìn quê hương không còn người xưa cảnh cũ, mà nghĩ đến hai câu thơ của nhà thơ Trần Dần
Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ
Tôi trở về ngôi làng yêu dấu của tôi. Mới đó mà đã năm mươi năm như bóng câu qua cửa. Câu hỏi lẩn quẩn trong đầu tôi suốt chặng đường dài xuyên Việt: làng tôi, ai còn ai mất?
Đón tôi ở nhà ga Minh Lệ, những người bà con vẫn với cái giọng miền quê ngồ ngộ, họ ôm chầm lấy tôi như vừa tìm lại đứa con thất lạc nửa thế kỷ nay. Tôi đã về lại giữa vòng tay của thân thuộc và xóm làng. Một vài đứa em lặng lẽ lau nước mắt. Bút nào tả hết cái tình người cùng quê cha đất tổ, chỉ có những người trong cảnh ngộ mới hưởng được thứ hạnh phúc đẫm nước mắt này.
Việc đầu tiên là nhờ mấy cậu dẫn tôi tìm lại căn nhà ba mẹ tôi. Tất cả đã thay đổi. Mảnh đất hiện do một người người cậu tàn tật ở, với căn nhà tranh xiêu vẹo, khác xa với căn nhà ba gian xinh xắn ngày xưa, cột bằng gỗ lim, mái bằng cây vọt, với hai cây mít sây trái sau nhà.
Chỉ còn vết tích cây khế cuối vườn, ai đã cưa đến tận gốc, nhưng vẫn còn mọc ra những nhánh con xum xuê. Tôi đứng lặng người nhìn cây khế mà nhớ đến ba mẹ tôi đã đổ bao mồ hôi gầy dựng cơ ngơi này.
Tôi nhắm mắt lại hồi tưởng những ngày thơ dại. Ôi chao, đây là mảnh đất tôi đã sinh ra, lớn lên giữa vòng tay nội ngoại. Một tuổi thơ nghèo đói nhưng êm ái biết dường nào. Cho đến khi Việt Minh về làng mở những cuộc đấu tố ngay trước nhà thờ, bắt trẻ con học nhảy những vũ điệu Trung-Xô, thì tuổi thơ tôi là những ngày nơm nớp sợ hãi. Co ro trong đống rơm dưới giường, anh em tôi cứ mơ tưởng ba tôi trở về đem mấy mẹ con đến một nơi nào đó.
Tôi đã về lại với những dấu tích xưa. Nhưng dường như những dấu tích ấy đang bị phủ lên một màu sắc kỳ lạ. Toàn thể ngôi làng được phân từng lô nhỏ vì dân làng sinh nở đông đảo, cây lúa được cấy sát vách nhà vì không đũ đất. Lủy tre xanh, con đường um tùm cây dứa xuyên qua làng dẫn đến một đầm nước nổi tiếng nhiều ma trơi, hai cây ngô đồng trước nhà thờ, nơi diễn ra những cuộc đấu tố cuối cùng, tất cả đã biến mất. Cái nghèo dường như còn nghèo hơn năm mươi năm trước. Cảnh vật cũ không còn nữa mà là một bức tranh xa lạ. Ngôn ngữ dân làng dùng trong giao tiếp mang một âm điệu khó nghe. Cung cách nói năng như phải tuân theo một khuôn mẫu nào đó.
Chỉ còn một thứ quen thuộc: tiếng chuông nhà thờ. Nhưng là tiếng chuông mời gọi tín đồ đến sám hối, nghe ra không là tiếng chuông loan báo điềm lành tương lai. Những kẻ tội đồ của dân tộc sao không đến tòa giải tội, mà nạn nhân lại cầu xin Chúa thứ tha? Thôi thì nghe theo lời một linh mục, việc Chúa làm người thế gian không tài nào hiểu được.
Buổi sáng từ giả, đứng trên mảnh đất thân yêu, nước mắt lưng tròng, tôi mơ hồ làng quê tôi đã mất. Chiếc túi đang mang trên vai đựng máy chụp hình, máy quay phim, trở thành vô dụng. Thôi thì tất cả hình ảnh thu được bằng mắt hôm nay hảy để vào một góc trong tâm tưởng.
Quê hương tôi, sau ngày im tiếng súng, tưởng đã thấy hòa bình, lại vỡ ra từng mảnh. Mẹ lên núi tìm xương con mình, con bỏ trường bỏ lớp bươi rác kiếm ăn, cha đi hết trại giam nầy đến trại tập trung khác. Mảnh vỡ văng bốn phương trời, qua các nhà chứa trên đất Miên, đến hòn đảo xứ Tàu làm nô lệ, trôi dạt mãi tận phương Tây mà sống sót, và một mảnh vỡ bất hạnh đã chìm xuống tận biển sâu làm những oan hồn lịch sử. Bên kia biển Thái Bình, ruột đã đau chín chiều, về đây lòng bỗng quặn thắt.
Nhưng người Việt Nam sẽ không là người Do Thái bên bờ sông Babylone, than khóc thành thánh Sion. Người Việt Nam nặng nợ với non sông biết mình sẽ phải làm gì để mời gọi con cháu dự phần vào việc xây dựng tương lai Việt Nam. Một Việt Nam cho dân tộc Việt Nam, với màu lúa chín vàng rực, không là màu máu đang nhuộm lên đất nước này.
Tôi có một người bạn đến cư ngụ tại tiểu bang Massachussetts, lúc mà đốt đuốc ngày đêm mới tìm được vài người Việt Nam. Anh cảm thấy lạc lõng từ ngoài đường phố, nơi làm việc đến khi về nhà. Một hôm ghé vào tiệm thuốc tây, anh chợt nghe phía sau kệ hàng tiếng hai mẹ con nói chuyện. Tiếng nói nghe quen quen. Lại gần, anh sững sốt nhận ra họ nói tiếng Việt.
Bà mẹ trẻ chưa đến ba mươi, đứa bé gái khoảng sáu bảy tuổi. Anh lặng lẽ theo sau họ một khoảng cách thật lâu, cho đến khi hai mẹ con hốt hoảng biết có người theo dõi. Anh luýnh quýnh, thú thật bao nhiêu năm nay không được gặp một người nào nói tiếng mẹ đẻ của mình. Đối với anh, nghe họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt như thấy lại được quê hương.
Lần đầu tiên trong đời, tôi tổ chức mừng sinh nhật cho mình. Tôi không mời một ai ngoài con cháu. Nhìn mấy đứa cháu ngoại quanh quẩn bên mình, tôi cảm nhận một thứ hạnh phúc lạ lùng vượt lên những hạnh phúc riêng tư đời thường. Ðứa nhỏ nhất bốn tuổi, đứa lớn nhất đã lên tám. Sau cái chết tức tưởi của đứa con đầu lòng, hôm nay tưởng chừng Thượng Ðế đã bù đắp lại cho tôi bằng những đứa cháu xinh ngoan. Chúng nói tiếng Mỹ như suối chảy ở trường học, chúng ăn đồ ăn Mỹ mỗi ngày, chúng hưởng tiện nghi dồi dào của xã hội, nhưng chúng vẫn nói tiếng Việt mỗi khi sà vào lòng tôi.
Hôm nay tôi cũng hưởng được thứ hạnh phúc tuyệt vời như người bạn khi nghe bên tai những đứa cháu líu lo tiếng mẹ đẻ – tiếng của quê hương ngàn đời, từ lúc chào đời đến khi về với lòng đất. Trong nỗi đau chín chiều nơi xứ lạ quê người, tôi vẫn còn quê hương bên mình.
Nén hương lòng cho người đã sinh ra con
October 14, 2008
Chu Lynh