Monday, May 31, 2010

Người bạn cũ

Người bạn cũ
Thạch Lam

Tôi với Khanh - người bạn duyên nợ trăm năm - đang ngồi cùng bàn câu chuyện làm ăn, ấm nước chè giải khát pha đã hầu nhạt. Chuông đồng hồ điểm mười một giờ; ngọn đèn lụt dần, dầu hỏa trong bầu do một tay rót có điều độ chỉ cháy được đến thế là hết. Cảnh tịch mịch một đêm khuya ở tỉnh nhỏ thật buồn bã, khiến tôi lại nhớ đến những đêm náo nhiệt, đầy ánh sáng ở Hà Nội.

Khanh sửa soạn sắp ẵm con đi nghỉ, thì bỗng có tiếng gõ cửa rồi vú già vào.

- Thưa cậu, có người đàn bà nào hỏi cậu.

Tôi thất ý bảo:

- Sao vú không nói tôi vắng, bảo người ta lúc khác hãy đến có được không?

- Thưa, người ấy có việc cần, con không dám tự ý.

Tôi ngạc nhiên ngửng lên nhìn vợ, thì Khanh cũng đang ngạc nhiên nhìn tôi, đôi lông mày lá liễu đã bắt đầu díu lại. Tôi bảo vú già:

- Vú ra hỏi ai đã.

Người vú vừa quay đi thì Khanh đã sầm ngay mặt lại lườm tôi mà rằng:

- Đàn bà, con gái, nửa đêm còn hỏi với han gì? Sao cậu không sai vú già tống khứ đi cho rồi.

Ngay lúc ấy, người vú trở vào:

- Thưa cô Lệ Minh đấy, cậu ạ.

Tôi ngẩn người ra. Lệ Minh, người bạn đồng chí gặp gỡ ở Hà thành ba năm về trước, sao nay cô lại về đây? Cô đến bí mật thật. Không biết cô đến tìm tôi có việc gì trong lúc đêm khuya khoắt này? Đến nhà tránh nạn chăng? Trong một buổi mà tấm lòng nhiệt huyết còn sôi nổi, tôi đã hứa lúc nào cũng sẵn lòng giúp cô trong bước khó khăn. Lời hứa đó, và cái kỷ niệm một thời thiếu niên hăng hái thoáng qua trí nhớ khiến tôi băn khoăn; một mối lo ngại bỗng nhiên đến ám ảnh tâm trí làm tan nát cái yên tĩnh tôi đã giữ gìn trong mấy năm nay.

Vú già vẫn đứng đợi. Tôi bảo Khanh:

- Mợ vào trông em nó ngủ trước. Tôi phải ra có việc.

Rồi vội bước để tránh câu bấc chì mà tôi có thể đoán được, tôi ra ngoài tiếp khách. Trông khách mà kinh ngạc, không biết có phải Lệ Minh người cũ không. Áo sa chùm ngoài áo cánh trắng càng làm rõ cảnh nghèo khổ ẩn ở trong; hai túi nhét đầy những thứ lạ gì, há hốc miệng như kêu đói; một giải lưng lụa đã ám màu xơ xác thoáng qua sợi sa thưa.

Tôi lại nhớ đến Lệ Minh ngày xưa, óng ả biết bao trong chiếc áo vải rồng, đi đâu cũng cổ động dùng nội hóa mà chính cô hiến cái gương diễm lệ.

Ngay đến dung nhan cô xét cũng khác xưa, đôi mắt tinh nhanh buổi trước bây giờ lờ đờ như bị ám sau cái màn lo nghĩ; đôi gò má hây hây nay không biết vì tuổi hay vì phiền não ở đời, đôi má kia đã thành ra hóp lại, hai gò má nổi cao, phải chăng như để tiêu biểu cho kẻ số phận vất vả long đong. Tôi ngại ngùng, lâu chưa nói được câu hỏi han, cô cũng ra vẻ sượng sùng, e lệ; một lát, cô khẽ nói:

- Mạnh Quân chắc thấy em khác trước lắm.

Nào tôi có trách gì cô! Trong một phút nhìn sự thực, tôi hiểu chính tôi thay đổi nhiều lắm, mà tự ghen với người nữ đồng chí. Cái thân trưởng giả nửa mùa tôi nay đã nghiễm nhiên thành một người tòng sự công sở, họa chăng có lo lắng cho vợ con đủ ấm no là mãn nguyện. Cái đời nghĩa hiệp lãng mạn đã thuộc về thời quá khứ, cô đến đây thật là tiếng sét trong quãng bình minh. Rồi không biết tự nhủ mình hay nhủ ai, tôi đáp:

- Vâng, người đời ta mỗi lúc một khác.

Lệ Minh như không để ý đến câu triết lý ngớ ngẩn ấy:

- Em đến đây muốn phiền ông anh một việc, chả biết ông anh có sẵn lòng không?

Tôi hơi chột dạ. Không hiểu nhà nữ đồng chí này lại muốn bày ra chuyện gì. Song cũng gượng đáp:

- Việc gì, cô cứ cho biết.

Lệ Minh bắt đầu thuật lại quãng đời vừa qua:

- Anh em bây giờ mỗi người một nơi, người nào lo phận người ấy. Còn em thế cô, một thân lang thang nay đây mai đó, chẳng làm được việc gì, rồi một buổi chán nản, yếu hèn, em đã đem thân gửi một nhà lái buôn.

Nghe thấy cô có chồng tôi như đỡ được một gánh nặng, dằn lòng nghe nốt câu chuyện. Chuyện cô cũng giống như chuyện trăm nghìn gia đình éo le khác. Gã lái buôn đã dối cô: gã đã có vợ cả. Cả, lẽ ghen tuông, cô vốn người học thức, không chịu được phận tôi đòi, một hôm cô ẵm con lên đường tìm phương tự lập. Cô đến nhờ tôi tìm cho một chỗ dạy tư, nhất được nhà nào chịu nuôi thầy dạy con ở nhà thì càng hay, vì cô chỉ mong được một chỗ "yên thân" là quí.

Cô nói xong, cúi nhìn đi chỗ khác, như tự lấy làm xấu hổ vì cái điều mong mỏi tầm thường ấy. Yên thân! Bây giờ chúng tôi chỉ cầu có thế thôi ư? Tự nhiên tôi thấy khó chịu trong bộ quần áo lụa, trong căn phòng của tôi bày biện nào đỉnh đồng, tủ chè, sập gụ, những thứ đồ đạc làm nảy vẻ thèm muốn trong con mắt những người đồng sự ở cái tỉnh nhỏ này. Tôi không giấu được cái mối thẹn thùng đưa lên làm nóng mặt. Tôi quay lại phía Lệ Minh vừa gặp lúc nàng cũng đưa mắt nhìn tôi. Hai chúng tôi nhìn nhau ngượng nghịu.

Cô khẩn khoản thêm:

- Thế nào anh cũng cố giúp hộ tôi nhé.

Tôi nhận lời cho qua chuyện. Song tôi cũng thừa hiểu, trước cái hoạn nạn không xứng đáng kia, một lời hứa xoàng chẳng cũng quá ư nhạt nhẽo. Không tìm được phương cứu giúp cô một cách kiến hiệu hơn, tôi tự thấy mình hèn nhát. Nhưng biết làm thế nào? Mời cô ở lại đây ư? Tôi nghĩ đến cái giận dữ của Khanh mà sợ: nàng chẳng sẽ làm tan hoang nhà cửa ra mất?

- Hỏi thế này khí không phải, cô sao không đến chơi sớm hơn một chút?

Lệ Minh như mới hiểu mình đến giờ vô lý. Cô bối rối xin lỗi:

- Em chỉ còn nhớ chỗ ở ngõ huynh biên cho trước. Đến hỏi từ sáu giờ tối, họ chỉ quanh quẩn, và em không thuộc phố tỉnh này thành ra cứ đi vơ vẩn mãi. Và khi còn ở trên Hà Nội anh hay thức khuya lắm cơ mà. Anh thường vẫn nói, đêm là ngày của bọn trí thức, em vẫn tưởng thế nên mới dám đường đột đến đây.

Tìm công việc hộ cô, giới thiệu một thiếu nữ như cô vào một gia đình nền nếp cũ, tôi cho là khó khăn, mà nghĩ không có can đảm làm. Giúp cô cái vốn nhỏ để cô tìm cách tự lập, tôi vẫn cho là phận sự của tôi. Song mợ cháu giữ chìa khóa, mà Khanh đâu có phải là người có thể lấy nghĩa khí mà chuyển được lòng. Muốn tìm câu khuyên giải cô, song tôi thấy chính cần phải khuyên giải cho tôi nhiều hơn, nên tắc cổ không nói được nên lời.

Đồng hồ đánh mười hai tiếng lanh lảnh trong đêm khuya. Tôi giật mình nhìn Lệ Minh, lo sợ. Đã một giờ đồng hồ ở nhà ngoài rồi, chắc Khanh ngờ vực, mà từ nãy đến giờ tôi chắc đã lẩm bẩm chán.

Lệ Minh như biết ý, đứng dậy xin cáo từ.

Tôi mở cửa tiễn cô ra ngoài. Trông cô đi khuất vào bóng tối, tôi lại nhớ đến những ngày nào hồi còn trẻ vẫn cùng nhau hội họp khuya trong một căn phố tối tăm ở ngoại ô Hà Nội.

Tôi đóng cửa trở vào, thấy Khanh vẫn còn giong đèn ẵm con ngồi đợi trên ghế. Tôi vào, nàng kể lể lôi thôi, trách móc nào là không biết thương vợ thương con, nào là đã ngần ấy tuổi - tuổi mới có ba mươi! - mà còn toan tính những ai. Giọng Khanh tấm tức như bị điều gì khổ sở lắm, rồi nàng cúi mặt tỉ tê khóc. Tôi phải liệu nhời khuyên giải mãi, nàng mới nín.

Khi nàng đã ẵm con vào màn đi nghỉ, khi cái yên lặng tịch mịch của đêm khuya đã trở lại trong phòng, tôi cúi đầu suy nghĩ.

Từ cái dĩ vãng xa xôi thăm thẳm, tôi thấy hiện lên một hình ảnh rõ ràng, hình ảnh tôi trong lúc còn niên thiếu, một thanh niên hăng hái, nhiệt thành, bồng bột những điều hay, sự đẹp, lúc nào cũng mơ màng những việc thành công to tát, một thanh niên chưa biết đến cái sự thật chua chát của cuộc đời.

Tôi lại nghĩ đến cái thân thế tôi bây giờ, một viên chức ở tỉnh nhỏ, sống cái đời yên lặng, trưởng giả, một đời ăn no mặc ấm, không phải lo lắng cái gì. Tôi hình như cảm thấy một sự ý hợp hơn.

Rồi tôi băn khoăn tự hỏi xem trong hai cái hình ảnh ấy, hình ảnh người thiếu niên hăng hái và hình ảnh người trưởng giả an nhàn, cái hình ảnh nào thật của tôi?

Tôi không dám trả lời.
Rút từ tập truyện ngắn "Gió đầu mùa".
NXB Đời Nay, Hà Nội 1937.

Như một tiếng chuông xa

Như một tiếng chuông xa
Dương Bình Nguyên

Tuần sau thì Phiên đi. Tôi đưa Phiên lòng vòng quanh những con đường nhỏ xíu của thị trấn. Những ngày này chẳng có nhiều nữa.

Tôi nhìn về phía dưới chân đèo, dưới ấy đường phẳng hơn. Phiên bảo, cuối cùng thì cũng phải đi với bố mẹ thôi. Bố mẹ ở đâu thì con cái phải ở đấy chứ. Mẹ Phiên bảo, bây giờ hòa bình rồi, chẳng phải như ngày xưa còn chiến tranh. Tôi bảo, Phiên xin ở lại một năm cũng được mà. Phiên cười buồn buồn, chẳng biết làm gì cả. Phiên yếu đuối. Phiên là con gái, nhút nhát lắm và cũng ngây thơ lắm. Tôi lại hỏi, thế về thành phố thì Phiên làm điều gì đầu tiên? Phiên bảo, cũng chẳng biết. Cái đó là ở bố mẹ. Nhà mình trên này còn rộng, đi thì buồn và rất vắng, biết không? - tôi cố níu kéo. Nhưng Phiên thực sự không làm được gì.

Ngày mai Phiên đi rồi.

Tôi mang cảm giác tiếc nuối đạp xe về phía bên này dốc. Ngày mai thì vắng thật vắng, chẳng biết ai sẽ ngồi thế vào chỗ của Phiên. Những bông hoa vàng lẫn lộn bên lề đường, không thật rực rỡ để thèm muốn lại cũng chưa đủ viên mãn cho nhuốm độ phai tàn. Tôi vùng vằng, có lẽ nên quay lại.

Phiên việc gì phải làm cái việc nhọc công ấy chứ. Hừ, thành phố! Thành phố thì có gì nào? Chả có gì ngoài khói và bụi như những người lớn vẫn thường nói. Cô Tịch, chú Mễ chả dóng dả bảo: Bao giờ nghỉ việc thì về quê cho yên bình thôi. Hà Nội ấy à, mệt mỏi lắm, kiếm được một chỗ ngồi yên tĩnh cũng chẳng có. Tôi biết mình vô lý, nhưng tại sao người ta lại cứ phải đưa Phiên về với bụi thị thành?

Ngày Phiên đi.

Tôi đứng nhìn chiếc xe chất đầy những cành hoa màu nắng vàng lừ lừ xuôi đèo. Phiên bên trong những ô cửa kính, những ngón tay thon nhỏ lắc lắc. Những người lái xe ôm đẩy tôi ra ngoài. Về đi, còn gì mà ngóng. Trông chú mày cứ như bị đòn oan ấy nhỉ. Từng tràng cười rộ lên. Tôi ngồi trên thanh chắn barie, chẳng muốn về. Ngày mai thì xa vắng thật rồi. Nhớ, nhớ lắm. Tôi nghĩ đến những gian nhà mênh mông, những đồi nương và cả tiếng bước chân hai đứa chạy lịch bịch sau hiên nhà chơi trò trốn tìm. Nhà bây giờ như một khu bảo tàng kỷ niệm. Ngày mai, ừ, ngày mai mới là một ngày đáng chán. Ai mà lấp được chỗ Phiên trong lớp chứ. Chẳng biết Phiên có viết thư về ngay không.

Phiên đã đi từ ngày hôm qua.

Hôm nay ở lớp nhiều người nhắc đến Phiên, nhắc tiếc nuối nhưng cũng nhiều lời tiếng không vui lắm. Phiên xinh thế, lại học giỏi thế, người ta ghét âu cũng là lẽ thường. Tôi vẫn ngồi bàn cuối, chỗ bàn trống tôi lấp bằng cái cặp to sụ. Mấy cậu bạn nhấp nhỏm nhìn xuống: Mày có bị làm sao không, nó là em gái mày cơ mà. Thì là em gái. Em gái thì mình không có quyền thương nhớ à. Vớ vẩn thật. Cô giáo bảo, Bình có chuyện gì không được bình thường. Hay là cô chuyển em lên bàn trên nhé. Đám con gái hích hích cười, cô ơi, đấy là "dấu ấn kỷ niệm" làm sao nó dám bỏ. Cô bảo, để cô chuyển Hạ xuống ngồi cùng em, hai đứa giúp đỡ nhau nhé. Tôi không đáp, không đồng tình cũng không phản đối, nhưng thực tình chẳng vui vẻ gì. Hạ cũng xinh, cũng học giỏi. Nhưng Hạ thì chỉ là Hạ thôi.

Thế là đã một tuần chiếc xe chở màu nắng vàng đưa Phiên xuôi triền dốc.

Tôi đi học, tôi về nhà. Con đường sao mà dài, nắng đầy và mưa cũng tràn qua rát mặt. Bà bảo, sáng có một đứa con gái tóc dài thật dài đi ngang qua ngõ nhà mình, bà đang quét lá rớt ngỡ con Phiên về thăm. Khi bà chạy ra thì nó đã vụt qua như một chiếc bóng. Nó đi hút mãi về phía rừng già. Tôi bảo, chắc bà nhớ Phiên quá thế thôi. Bà lấy vạt áo chấm nước mắt, không nhớ sao được, có nó căn nhà ấm thêm một tiếng nói. Nó đi bà càng thương mày hơn, đừng bao giờ nghĩ mình là một đứa trẻ được ông bà nhặt về. Cháu và Phiên đều là những đứa cháu đáng quý. Tôi nhìn vòm mắt đầy nắng ấm của bà. Không, bà đừng nghĩ làm gì, cháu đã lớn rồi.

Ông dong đàn bò từ trên núi về, hỏi dóng vào, có nhận được tin gì của con Phiên không. Tin gì được nào, nếu không phải là bức thư nét chữ nghiêng và thuôn dài. Bà lần trong hộp trầu vỏ, đây rồi, nó đem đến từ sáng sớm, nhưng bà không biết mở. Bình, nó viết cái chữ gì, nó có hỏi thăm bà không. Tôi bóc thư, những nét chữ mãi nghiêng nghiêng như thế. Phiên bận lắm, bà ạ, em phải đi học ở trường chuyên, phải đi học thêm, học luyện thi đại học… bà hỏi, đại học là học cái giống gì. Tôi bật cười, thì… học trên lớp mười hai, học làm ông thầy chẳng hạn. Bà lại phóm phém, miệng cười hoen vệt cốt trầu… Phiên lại phải đi học thêm tiếng Anh, phải vào mạng Internet để lấy tin tức từ bè bạn. Bà ạ, Phiên có nhiều bạn mới rồi. Ông rung đùi: Vậy là mừng. Sợ nó quen nếp đồng rừng, về đấy lại chẳng sống được với ai đâm thành con ngố.

Ông cũng có lý. Nhưng mà sao lòng tôi lại chẳng thấy yên. Tôi vào bàn học, nhìn những chùm hoa màu vàng óng treo tràn ngoài cửa sổ. Rồi đặt bút viết: Em gái yêu quý!

Một tháng.

Hạ bảo, cậu có cần tôi giúp gì không. Tôi cười nhẹ, không, có gì đâu nào. Tôi không cần là một nhân vật nổi bật trong lớp. Tôi là một gã trai mắt nâu tóc xoăn nhàn nhạt, thường người ta cần để làm một cái phông hay một điểm tựa không chói lóa. Thế thì cần gì phải giúp chứ. Tôi ngồi trong lớp và nghĩ mình có thể làm thơ. Cuối cùng Hạ bảo, vẻ khinh mạn của cậu thật đáng mến, điều đó làm tôi thấy cậu đáng mặt con trai hơn những người khác. Tôi quay sang: Hạ vừa bảo cái gì nhỉ. Một gương mặt đỏ bừng quay đi. Không, có gì đâu, đùa ấy mà.

Một buổi sáng, ông bưu tá già đưa cho tôi một vuông quà xinh xinh. Một vuông quà có gắn ru băng màu nắng vàng. Tôi nhìn thấy màu mắt nâu hiền từ trong ấy. Những nét chữ nghiêng dài, mềm mại và không một gợn buồn phiền. Anh có còn thích đọc sách như ngày xưa không. Em không phải là nhà văn, nhưng em cũng có thể viết được sách, đúng không nào. Anh đọc nhé, đây là kịch bản của em đấy, nó sẽ được dựng thành phim. Tôi ngồi nhìn những dòng đối thoại trong trang viết của Phiên. Những xưa cũ gần lắm, hiện lại dần dần. Nắng thì cứ nắng, mà mưa thì cứ mưa. Ngày hôm qua là nắng vàng, là lay phay mưa trôi qua lưng đèo. Những đứa con gái tò mò nhìn hộp quà, cái gì thế hả Bình? Cái gì mà chẳng được chứ. Tôi chẳng thích thế chút nào. Cậu cần gì phải giữ khư khư như vậy. Cậu là con trai cơ mà. Mà con trai thì…

Tôi đạp xe xuôi triền dốc. Và chui vào phòng đọc sách, đọc lặng lẽ. Thế là Phiên chẳng quay về nữa rồi. Phiên có quá nhiều niềm vui mà. Niềm vui của Phiên, những niềm vui gắn vào nhiều công việc rất cụ thể. Niềm vui của tôi, những niềm vui bâng khuâng mơ hồ, chẳng có gì rõ rệt, bảng lảng hệt những nỗi buồn. Tôi nhìn lại dòng tít trên đầu kịch bản: Vệt dài ký ức. Ký ức của ai, một thứ kỷ niệm riêng biệt sao Phiên lại đưa lên phim. Anh biết không, bố em sẽ dựng thành phim, bố em đang tìm diễn viên. Bố em bảo, phim bây giờ không khó làm, kịch bản của em được khen là dung dị và dễ thể hiện. Sẽ có nhiều diễn viên nổi tiếng vào vai hai đứa mình. Tôi nghĩ mãi, nghĩ mãi rồi viết: Em cho anh ra khỏi vệt ký ức của em được không.
Tôi không nhận được thư Phiên nữa. Phim đã làm xong, những nhân vật đi lại nói cười như những con rối. Tôi bảo, thôi phim chẳng hay đâu bà ạ.

Phim bây giờ toàn bọn trẻ yêu đương linh tinh. Bà bảo, ừ, phim với chả ảnh. Cháu đi học bài đi, bao giờ thì học xong hả Bình? Tôi cười, chả bao giờ xong được bà ạ. Nhưng cháu học sắp hết lớp 12 rồi. Nếu cháu đi thì bà có buồn không? Mày đi đâu chứ? Cháu về thành phố, đi học ấy mà. Ừ, đi thì đi, thành phố thì nhiều cái lạ lẫm, nó hút những đứa nhiều ảo vọng. Ông cười, bà chẳng hiểu gì đâu. Bà hiểu chứ, tôi biết. Nhưng bà cũng như tôi, bà sợ sự mất mát, sợ sự hiu quạnh trong căn nhà quá rộng. Nhưng cuộc đời là biển rộng, tôi như cát nhỏ trên bờ, gió cuốn đi xào xạc vang nhẹ như một tiếng chuông xa. Tôi ngồi vào bàn học, những con chữ dài dằng dặc. Tôi ngủ gục trong phòng sách.

Buổi sáng, Hạ bảo: "Tôi có một bức thư, chẳng biết cậu có muốn đọc không. Thư của Phiên phải không? Tôi gấp gáp hỏi. Tôi là tôi còn Phiên là Phiên chứ. Tôi cười, thì Hạ chỉ là Hạ thôi. Tôi ngồi trong góc lớp đọc, những màu sắc chói lóa, những điểm nhấn mạnh mẽ trong thư Hạ. Tôi vùng chạy, thế là mất đi một người bạn thân thiết rồi. Tôi chẳng thích thế. Tôi chưa chuẩn bị cho điều này. Tôi lao xe xuôi triền dốc, mặt bỏng rát như có người đuổi theo.

Không có Phiên lâu rồi cũng thành quen. Nhưng nếu thiếu Phiên trong suy nghĩ thì thật là đáng sợ. Ôi, con gái, họ là một khái niệm cực kỳ phức tạp.
Tôi đi dọc ký ức thời học trò cùng với bóng dáng của Phiên ít nhiều bị mờ nhạt do những dư chấn quá mạnh của bộ phim tẻ nhạt ngày trước. Nhưng tôi không làm được gì, hệt như Phiên ngày ra đi. Tôi bảo, cháu cũng chẳng thích thành phố. Học xong cháu sẽ về bà ạ. Bà cười phóm phém, bà già quá rồi. Thôi, mày đi đi, về nhà con Phiên ở tạm. Ông bà sẽ thi thoảng xuống thăm. Tôi mang những đốm nắng vàng cho Phiên xuôi đèo. Nắng thì mãi phải là nắng thôi.

Thành phố là một thứ ký ức riêng biệt trong tâm trí tôi, mà đến bây giờ tôi vẫn không thể hòa vào dòng sống chung của đời mình. Cô Mễ bảo, bây giờ nhà cô bận lắm, Phiên lại chuẩn bị đi du học, nó không có thời gian giúp cháu nhiều. Cháu đừng buồn, một vài ngày sẽ quen ngay thôi. Nhưng mày có một vẻ mặt rất đáng ngờ, nó sẽ làm cho nhiều đứa con gái sẽ tò mò đấy. Mà như thế thì cô không thích. Tôi bảo, cháu cũng không biết nữa, nhưng cháu tin là mình sẽ không để xảy ra điều gì khiến cô phiền lòng. Phiên bây giờ không thích màu nắng vàng nữa. Phiên chỉ thích những chiếc áo màu tuyết lạnh. Tôi ở trên núi, không có tuyết. Tôi đến giảng đường, thấy những ngày xưa xa quá rồi. Có lẽ chỉ còn bà nghĩ vẫn mãi nghĩ về nó vẹn nguyên như những ngày Phiên chưa ra đi. Tôi sợ lắm nếu một ngày bà dồn những hồ nghi thành nỗi buồn già nua nhưng có thật. Như thế thì Phiên sẽ thành người có tội mất. Tôi không muốn thế. Hãy để cho Phiên đi theo giấc mộng của riêng Phiên.

Tôi mang nhiều thất vọng về thành phố vào những trang viết trong suốt những năm đại học. Tôi đã quen, nhưng quen không đồng nghĩa với việc người ta thích nó. Tôi sống một cuộc sống bàng bạc như đã từng sống, một tháng về thăm ông bà một lần, rồi ra đi mang theo nhiều tiếc rẻ của những ngày nghỉ vội vàng. Phiên đi, không có một lời về. Tôi biết thế là xa thật, xa mãi mãi. Thành phố vẫn vậy, nhiều bụi và quá ồn ào.

Một ngày, cô Mễ hớt hải vào trường tìm tôi. Bà đang bệnh nặng lắm, mày về đi cùng cô. Tôi về, bà tóc bạc như một vạt nấm héo. Ông ngồi bó gối nhìn mưa giêng hai giăng ngang gian đọc sách đầy mạng nhện. Bà phều phào, con Phiên không về à? Cô Mễ rưng rức khóc: Bà ơi, cháu nó đi du học cả năm nhưng không thèm liên lạc về. Con trắng tay rồi. Mắt bà thoắt sáng rồi bạc đi như đã cạn vơi hoàn toàn, không năm không tháng. Bà cầm chắc tay tôi. Bà còn một mình mày thôi. Nhưng tiếc bà không còn đủ sức để nhìn mày quay trở về. Ông bám vai tôi, thế là bà đi thật rồi. Bình ơi, bà dành cho con tất cả ở trong chiếc âu đồng kia. Tôi chẳng muốn mở ra xem, ngồi ôm chiếc âu nho nhỏ trong lòng thoang thoảng hương trầu thuốc. Bà đi thật, vĩnh viễn lãng quên màu nắng vàng.

Cô Mễ tóc bạc nhìn chú Tịch dọn đồ đạc từ phòng làm việc về nhà trong ngày nghỉ hưu. Không tin tức của Phiên, chỉ thỉnh thoảng dõi trên Internet, tôi bắt gặp một địa chỉ quen quen với một hình ảnh quen quen, nhưng khi truy cập tôi lại thật sự hồ nghi bởi những thông tin của ai đó về quê hương rất mờ nhạt và buồn cười. Tôi ôm nỗi niềm riêng trong lòng, cất kín chiếc âu đồng trong tủ sắt.

Ngày trôi bất tận không hạn hồi. Ký ức màu gì. Ký ức trôi vèo như một tiếng chuông xa. Tôi gục đầu trên bàn phím giêng hai, nghĩ đến bình nguyên thẳm xanh, thiên đường của ông bà, của tôi và của Phiên ngày thơ bé và thầm nghĩ đến một ban sớm ngày trở về.

Cặp vợ chồng thích yên tĩnh

Cặp vợ chồng thích yên tĩnh
Alfonso Alvarez Villar

Felix một lần nữa cố gắng tập trung (một tiếng lại đây anh chỉ làm có mỗi việc đó). Anh hi vọng cuối cùng sẽ kết thúc được bài thơ, mặc dù chẳng có nhà thơ nào lại nảy ra ý định ngồi vào bàn sáng tác lúc tám giờ tối cả.

"Sóng trải dài trên bãi biển không người..."

Ngòi bút lạo xạo trên tờ giấy gấp tư, trinh trắng như chiếc khăn voan cô dâu. Anh không tài nào nghĩ được câu thơ thứ hai. Chỉ sau những nỗ lực kéo dài anh mới có thể tách ra khỏi những âm thanh của ba hay bốn cái máy đập đang làm rung chuyển cả khoảng sân; nhưng thật khó mà bắt mình nghĩ đến bãi biển không người và những bọt sóng chạy dài trong âm thanh thình thịch, thình thịch!

Và cuộc nói chuyện của hai robot giúp việc đã giết chết không thương tiếc câu thơ thứ hai. Chúng la hét hết volume và câu chuyện phiếm của chúng khiến anh có ý tưởng về một cuốn tiểu thuyết không tưởng với nhân vật chính là hai người giúp việc khiêm nhường. Sau đó câu chuyện đầy mùi hành tây và những chuyện bếp núc vớ vẩn của chúng bị cắt ngang bởi bộ phim dài tập với ầm ầm tiếng súng và những giọng nói khi chói tai khi rì rầm mang khẩu âm Puerto Rico.

“Sóng trải dài trên bãi biển không người… Chàng cao bồi phi trên thảo nguyên xa…”

Quỉ tha ma bắt! Chẳng lẽ không có cách nào tách nhận thức khỏi những âm thanh gây nhiễu tai quái này? Và tiếp theo là những thông tin nóng hổi về mối bất hòa của hai vợ chồng trên tầng ba, về tình trạng của bà bầu hàng xóm và tình hình trên sao Hỏa: trên tầng ba những đứa trẻ chơi trò sao Hỏa, tiếng la hét inh ỏi của chúng vang rất xa. Và những ngọn sóng vẫn đang trải dài trên bãi biển không người, chẳng có hi vọng gì về sự xuất hiện của câu thơ thứ hai. Bằng một cử chỉ thể hiện sự chia tay hình tượng với nàng thơ, Felix xé vụn trang giấy gấp tư mới vừa kịp mất đi sự trong trắng nguyên sơ của mình.

Anh bước ra phố. Ít ra thì ở đây cũng ồn đến mức không nghe thấy gì hết.

Chỉ có những chiếc máy đập xoắn ốc, những chiếc ôtô năng lượng hạt nhân chạy ì ì và tiếng rú của những đoàn tàu lao đi trên những đường ray mono. Chiều nay anh và vợ định đi xem phim ba chiều, nhưng để có được một chỗ ở bãi xe phải đi sớm một tiếng và nhập vào đuôi đoàn xe dài rồng rắn đang ì ạch tiến về trung tâm thành phố. Chỉ ở trong ôtô mới có sự yên tĩnh, chỉ ở đó chứ không phải là trong phòng ngủ, nơi không bao giờ có thể tin được rằng cặp vợ chồng ở căn nhà bên cạnh, được ngăn cách bởi bức vách dày 2-3 cm, sáng hôm sau sẽ không kể về những điều anh và vợ vừa nói với nhau tối hôm trước. May mà giường không kêu.

Ôi, sự yên tĩnh của người ngồi sau tay lái, bị bao vây bởi hàng trăm chiếc ôtô đóng kín khác. Ôi, những cái đầu đang nói qua kính cửa xe mà bạn không thể nghe thấy gì, nếu chủ nhân của chúng không thò hẳn đầu ra để mắng chửi bạn khi bạn hơi quệt vào sườn xe của họ hay không nhường họ! Nhưng sự yên tĩnh - đó là sự yên tĩnh ẩm ướt của nhà tắm hơi kiểu Phần Lan, sự yên tĩnh giữa hàng nghìn âm thanh và trong đó không có mùi hương của nhựa thông và quả tầm xuân.

Cuối cùng họ cũng đã tới được rạp chiếu phim ba chiều. Dù phải chen lấn bẹp ruột ở cửa vào và sau đó là ở cửa ra, dù phải nghe tiếng la hét của hàng nghìn khán giả trong những pha rùng rợn và những tiếng cười hô hố trong những pha hài, ở đây họ dù sao cũng được yên tĩnh, bởi nếu không tính đến những giây phút kể trên, những giây phút lôi tuột Felix trở về thực tại (mà chúng cũng không đến nỗi nhiều lắm), buổi chiếu phim đối với anh giống như một bến cảng yên tĩnh. Các chuyên gia âm thanh đã bảo đảm sự cách âm tuyệt đối của phòng thu, và nếu như tiếng ồn không mong muốn nào đó vẫn lọt vào được bề mặt láng mịn của băng hình thì các biện pháp kỹ thuật nhiều hơn cả cần thiết sẽ loại bỏ chúng. Mà làm sao có thể dựng một bộ phim, nơi giọng của các diễn viên bị quảng cáo nước rửa chén át đi?

Sau buổi chiếu, họ quay trở về nhà và ăn một bữa tối đơn giản, nhưng phải nuốt vội và kìm nén sự ghê tởm, bởi trong sân vẳng đến những lời phàn nàn ồm ồm của người hàng xóm thông báo với các cư dân về món hầm muốn ói mửa mà vợ anh ta cho anh ta ăn.

Hôm nay là thứ bảy. Về lý thuyết điều đó có nghĩa là giấc ngủ của họ dài hơn một tiếng so với những gì họ có ngày thường. Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Căn hộ tầng trên có khách, và buổi tiệc kéo dài đến năm giờ sáng, còn trong nhà những người hàng xóm khác tivi ồn ào cho đến tận khi đài truyền hình kết thúc buổi phát sóng. Vô tuyến và buổi tiệc hòa lẫn nhau, và điều này an ủi Felix đôi chút, anh đang cố tiếp tục bài thơ bị ngắt mạch với một cố gắng phi thường của ý chí. Rồi sau đó anh ngủ theo phương pháp yoga, giấc ngủ rồi cũng đến kéo đôi mi mắt mệt mỏi khép lại.

Anh mơ thấy hòn đảo hoang nơi anh và vợ sống như Robinson Crusoe. Không có âm thanh nào ngoài tiếng rì rào của lá trên ngọn cây và tiếng thì thầm của biển; nhưng bỗng bản hòa âm đó lại nằm lọt trong bức tranh có nhịp điệu châu Phi- Cuba và trên bãi biển của hòn đảo hoang xuất hiện một đám khiêu vũ với tiếng nhạc nhảy ghê rợn…

Họ bị đánh thức vào lúc bảy giờ sáng bởi tiếng rít của vòi nước: hàng xóm trên tầng tư thông báo cho tất cả cư dân về dự định đưa cả nhà ra ngoại ô của mình bằng âm thanh của máy cạo râu điện và tiếng búa điện của người vợ đang khẩn trương chuẩn bị món bíttết ngoài bếp cho chuyến picnic.

Nhịp điệu sôi nổi đó tuyên chiến không khoan nhượng với những kẻ lười nhác và thích ngủ nướng, và nửa tiếng sau nó được hòa nhịp cùng với bài hát thiên thần của dàn đồng ca thiếu nhi, pha trộn một cách trơ trẽn với những bài hát thời thượng. Felix và vợ vội vã mặc quần áo, và ôtô của họ đã nhanh chóng hòa vào đoàn xe bất tận đi về hướng núi. Mất nguyên ba tiếng đồng hồ để vượt qua 90 cây số, nhưng bù lại ở đó thiên nhiên đang đợi họ! Và họ len lỏi dưới bóng thông xanh, cố gắng không giẫm lên những đôi đang yêu nhau hay những người đi nghỉ đang bày biện thức ăn đem theo.

Felix hít đầy lồng ngực: không thể bỏ qua giây phút khi mũi được hưởng hương vị của thiên nhiên, bởi vì ngay sau đó nó sẽ bị các mùi của axit amin tổng hợp hay của những thứ ít có khả năng ăn được khác đánh bật.

“Quên đi, bằng mọi giá phải quên đi! Không lẽ ta luyện yoga là uổng công sao?” - Felix buồn bã nghĩ. Nếu như nói về những thú vị của khứu giác thì toàn bộ vấn đề là ở chỗ đứng trên quan điểm của yoga học, phải lọc bằng tưởng tượng để loại bỏ tất cả những mùi khó chịu, để rồi tận hưởng tiếng thông reo và hương thơm của xạ hương bị giẫm nát.

Họ tiếp tục đi. Chỗ này hầu như không có người đi nghỉ: mọi người ai cũng tránh leo núi trong khả năng có thể. Từ vách đá có tấm biển quảng cáo của một công ty mắt kính nổi tiếng, họ phóng tầm mắt ngắm phong cảnh. “Thật tuyệt vời!” – Felix tự nhủ khi ôm eo vợ. Vâng, xung quanh là thiên nhiên thật sự nếu như không để ý đến tấm biển quảng cáo và hai, ba vỏ thuốc lá vương vãi dưới chân cũng như những thứ đã bị bỏ lại từ chủ nhật tuần trước, mấy mẩu thuốc lá và một thứ mà Felix đã vội vàng giẫm lên trước khi vợ anh kịp nhìn thấy.

Anh lại dịu dàng ôm vợ. Họ muốn một lần nữa lại được thấy mình là cô dâu và chú rể, lén trao nhau những nụ hôn đầu tiên, được tận hưởng việc yêu nhau mà không có tai mắt người ngoài, và chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ làm họ thêm phấn khích. Và họ chìm sâu hơn trong những âu yếm, như thể chưa bao giờ được tận hưởng điều mà những người khác đã từ lâu quen phơi bày trước thiên hạ.

Một viên đá bay ngang đầu họ, rồi một viên khác rơi xuống đất cách họ chỉ vài centimet. Felix chồm tới nhưng chỉ nhìn thấy mấy cậu bé cười hô hố bỏ chạy từ phía sau tảng đá bên cạnh. Và họ quyết định không tiếp tục âu yếm nhau nữa, chính xác hơn là họ làm điều đó trong suy tưởng. Nhưng đã đến giờ của bữa sáng thứ hai và cái đói đã lên tiếng. Họ mở những gói thức ăn ra, còn chuyện những hòn đá họ cố gắng quên đi. Sau đó Felix mang giấy và thức ăn thừa xuống thùng rác gần nhất, may mắn làm sao nó vẫn đang rỗng không, và thanh thản quay trở về tảng đá yêu thích của họ.

Ở nơi này có thể nói về mọi chuyện trên đời và thậm chí là nằm ngắm những đám mây trôi, nếu cố gắng không chú ý đến ba chuyến tàu vũ trụ nối đuôi nhau đến những chiếc máy bay phản lực cùng hai chiếc helitaxi bay thành đoàn. Dù vậy họ vẫn kịp có vài phút ngắm nhìn những đám mây to và thả trí tưởng tượng để nhìn thành những con quái vật trước khi chiếc máy bán dẫn ở đâu đó lên tiếng thông báo kết quả những trò chơi cuối cùng và họ cúi đầu lê bước tới xe của mình.

- Các ngài có chỗ nào để tôi và vợ tôi có thể ở vài ngày chỉ có một mình không? – Felix hỏi đại diện hãng du lịch.

- Ngài đang mơ ước đến điều không thể, nhưng công ty chúng tôi sẽ cố gắng tìm cho ngài một nơi tương tự với yêu cầu của ngài, - anh ta trả lời và nhìn Felix vẻ khác lạ, như thể anh là bệnh nhân tâm thần mới trốn từ một bệnh viện cùng loại. Chẳng mảy may hi vọng, Felix lại lặn ngụp vào biển âm thanh của đường phố.

Không lẽ đến tận cuối đời anh phải nghe và thuộc lòng những quảng cáo bất tận? Lúc nhỏ, khi thầy giáo bắt học thuộc lòng bản cửu chương, anh vẫn còn có những ngày nghỉ. Nhưng giờ đây anh chẳng có chút hi vọng nào. Đôi khi anh bắt gặp mình sử dụng từ ngữ và giọng điệu của các nhân vật trong phim khi nói chuyện với vợ. Và cả cuộc đời của anh cũng vậy, nó không phải là của anh: như là không chỉ một bộ óc mà là năm mươi hay hơn nữa đang trú ngụ trong cơ thể anh và tất cả bọn chúng đều cùng làm việc một lúc.

Thí dụ, về cuộc sống riêng tư của các cô hàng xóm anh biết nhiều không kém gì các ông chồng của họ, và nếu như vào một ngày đẹp trời anh bỗng nhiên có ý muốn lừa một trong số họ, anh sẽ lên giường với một phụ nữ mà anh biết tất cả những bí mật của cô ta. Điều tương tự cũng sẽ xảy ra với vợ anh nếu như anh và cô ấy phải sống suốt đời trên giường kẻ khác.

Quên đi, bằng mọi giá phải quên đi! Những sức ép tâm lý đi liền với chuyện này vượt quá khả năng thể chất của anh và điều đó cho anh quyền được tìm kiếm sự yên tĩnh.

Hai ngày sau, chuông điện thoại video reo. Không, đó không phải là sự nhầm lẫn và cũng không phải là một trong số những kẻ thích đùa qua điện thoại, không phải là thông báo qua radio chia buồn với Felix và vợ anh vì họ đã đánh mất hàng mấy trăm peso do không biết đến sự tồn tại của chương trình X nào đó của một công ty sản xuất bột giặt Y nào đó.

Không, lần này họ nghe thấy giọng người thật đang đàm thoại với họ! Đại diện công ty du lịch thông báo rằng họ đã tìm được một nơi lý tưởng trên một trong những hòn đảo gần bờ! Công ty đã thuê helitaxi chở họ đến đó với toàn bộ hành lý. Bảo đảm hoàn toàn yên tĩnh bởi lẽ đó là hòn đảo hoang. Tuy nhiên họ sẽ phải ngủ trong lều, tự mình nấu ăn nhưng đó lại chính là điều mà vợ chồng họ mơ ước!

Họ chấp nhận lời đề nghị mà không hề mặc cả và ngay ngày hôm sau họ đã có mặt ở đó, chỉ mình họ, giống như Robinson Crusoe, trước một người làm chứng duy nhất là biển cả đang đập bầu ngực lam ngọc vào những mép đá nhọn. Và còn có cả hải âu và một vài cái cây với rễ ăn sâu vào đất đá và ngọn vươn vút lên trời.

Điều đầu tiên mà Felix làm khi tới đảo là điều mà anh chưa bao giờ nghĩ mình có khả năng thực hiện: anh nhảy chồm chồm như điên, cố gắng để năng lượng cơ bắp bị công việc bàn giấy và lối sống ngồi đè nén được thoát ra. Và sau đó họ diễn lại cảnh mà họ chưa bao giờ có thể kết thúc tại mỏm đá yêu thích của họ nơi có tấm biển quảng cáo các sản phẩm mắt kính. Họ cười phá lên như trẻ nhỏ, và vì lúc đó đã giữa trưa họ giật quần áo khỏi người và nhảy xuống một cái vịnh nhỏ. Vịnh thản nhiên đón nhận cặp tình nhân trẻ người không mảnh vải. Họ đùa giỡn ở đó hơn hai tiếng đồng hồ.

Đó chỉ là những điên rồ đầu tiên trong vô số những điên rồ mà họ đã làm suốt ngày thứ bảy và chủ nhật. Ôi, giá mà được như vậy suốt đời! Nhưng ngày làm việc đã đến và vào thời gian đã định, chiếc helitaxi đã đưa họ tới đảo bốn tám tiếng trước đó lại xuất hiện. Họ buồn bã dõi theo cái chấm nâu nhỏ xíu trong những vòng bọt sóng đang khuất dần phía chân trời.

Tối đó họ bật vô tuyến. Đành phải chịu đựng những cảnh quảng cáo, bộ phim cao bồi miền Viễn Tây và cuộc thi truyền hình không thể thiếu, rồi họ nhìn thấy trên màn hình một hòn đảo nhỏ quen thuộc đến lạ lùng, nơi họ đã sống bốn mươi tám giờ hạnh phúc.

Phía trên là tên chương trình viết bằng khổ chữ to: "Bạn sẽ làm gì nếu được ở một mình?". Và họ thấy choáng váng khi nhận ra hai Robinson đang nhảy nhót, lăn lộn như điên chính là mình. Cảnh được một nhóm quay phim thợ lặn thực hiện.

Một buổi chầu

Một buổi chầu
Khái Hưng

Đầu giờ Dần quan lễ bộ tả thị lang họ Hà đã thức dậy gọi gia nhân thắp đèn đuốc sáng trưng năm gian phòng tư thất. Sáng sớm hôm nay, ngài sẽ cùng văn võ bá quan vào cung chầu thiên tử, trong buổi đại triều thứ nhất về mùa xuân.

Thánh thượng ngọc thể khiếm an đã hơn hai tháng. Đã hơn hai tháng các quan không được gặp thiên nhan. Vì thế quan thị lang sốt ruột mong chóng tới giờ bệ kiến.

Không những quan thị lang đã nổi tiếng là một trung thần ai ai đều kính phục, mà chữ trung đối với ngài còn có một nghĩa cao cả thiêng liêng. Ngài đinh ninh thờ vua ở trên đầu, âm thầm thờ vua ở trong tâm. Lúc thức tơ tưởng đến vua, lúc ngủ chiêm bao thấy vua. Thị lang muốn cả cái thân ngài hoàn toàn là kỷ vật của vua và chỉ ao ước có dịp được hy sinh cho thánh thượng.

Hy sinh! Xả thân vì thiên tử! Không một ngày nào, không một giờ nào, quan thị lang không nghĩ đến điều ấy. Rồi đem điều ấy dạy vợ dạy con, coi như đó là một học thuyết, là học thuyết độc nhất của bọn thần tử, của toàn thể quốc dân.

Thị lang không bỏ qua một dịp nào có thể nhắc đến ơn vua. Ngài thường bảo cho lũ con nhỏ biết rằng chúng ăn cơm vua, mặc áo vua ban, và cả gia đình đều nhờ lộc vua mà được sống.

Những lời xúc phạm tới vua, dù nhẹ đến đâu mặc lòng, thị lang không bao giờ tha thứ. Và ngài thường lấy địa vị một viên quan trong bộ Lễ tư sang bộ Hình đòi làm tội nặng cực điểm những kẻ phạm thượng.

Mới cách đấy hơn một tháng, thị lang đã toan khép vào án tử hình bà thứ thất yêu quý của ngài vì một tội chẳng lấy gì làm trọng cho lắm. Bà chỉ bình phẩm một câu về hoàng thượng, mà lại bình phẩm trong phòng khuê giữa câu chuyện ái ân đằm thắm. Nhân chồng báo tin cho bà biết rằng thánh thể bất an, bà mỉm cười nói:

- Bà thứ phi đẹp thế làm gì mà thánh thể chẳng bất an.

Sự thực, năm trước hoàng thượng vừa kén được một cung tần, một thiếu nữ giặt chiếu bên sông mà mê vì sắc, trọng vì thông minh ngài đã cất lên ngôi thứ phi và rất đỗi thương mến như viên ngọc quý trên tay. Vả câu nói của bà thứ thất quan thị lang chỉ là một câu đùa bỡn trong lúc nũng nịu. Nhưng đối với người trung thần kia, thì đó là một ý tưởng bất kính, một ý tưởng phạm thượng, phản trắc. Vì thế, ái tình quan thị lang đang bồng bột nồng nàn bỗng lạnh ngay như giá băng. Rồi ngài ra công đường thảo bức thư giao phó bà thứ thất về với cha mẹ trong sáu tháng; bà được kết án nhẹ như thế là cũng nhờ về có nhan sắc.

+
+ +

Quan thị lang đã đóng xong triều phục. Chỉ còn thiếu một đôi hia, vì ngài không ưng đi đôi hia thường. Ngài cho rằng mang đôi hia đã dùng để đi ra vườn, ra sân, nhỡ giẫm phải một vật ô uế, thì còn đâu là lòng kính cẩn khi quỳ trước sân rồng. Bởi vậy, ngài đã truyền gia nhân mở rương lớn lấy đôi hia mới.

Ngồi trong ghế bành tượng, quan thị lang nóng nẩy chờ lính hầu đem hia lại. Và ngài băn khoăn tìm xem còn điều gì khiếm khuyết nữa không. Hôm qua, ngài đã tắm gội thanh khiết. Ngài lại đã trai giới trong luôn ba hôm. ấy là không kể mười ngày trai giới trong tháng trước để cầu nguyện cho thượng hoàng chóng bình phục...

Sợ chậm trễ bị quan quở, chú cai hầu cận chỉ kịp phủi qua bụi trên mũi đôi hia nhung, rồi vội vàng lồng vào chân quan.

Bấy giờ mới giữa giờ Dần mà dinh quan tả thị lang bộ Lễ lại gần cửa Ngọ Môn, nhưng Hà công cũng hấp tấp ra đi. Ngài thừa biết còn sớm chán và đến Ngọ Môn sẽ phải đợi lâu mới tới giờ Mão, giờ vào chầu. Ngài làm ra vội vàng, chẳng qua là để tỏ lòng mẫn cán thờ vua của mình, tỏ riêng với mình để được đúng lễ chứ không cần phải bộc bạch cho mọi người đều biết.

Hà thị lang đứng dậy ra sân. Một hồi trống khẩu, một tiếng hô. Tức thì một cái võng trần ghé lại bên thềm. Kể thì chức tả thị lang chánh tam phẩm được đi kiệu cũng như chức thượng thư chánh nhị phẩm, nhưng Hà công không bao giờ dùng kiệu để vào chầu vua. Ngài cho cái kiệu cao quá, và ngồi nghênh ngang trên kiệu, ngài thấy không hợp với cái đạo làm tôi. Người bầy tôi phải khúm núm run sợ, khi đương đi đến sân rồng cũng như khi quỳ trước long nhan.

Nhưng không phải vì thế mà quan tả thị lang lúi xùi. Ngài vẫn dùng đủ các nghi phục ngài được phép dùng: bốn cây lọng xanh, bốn cái đèn lồng và hai đôi kiếm, quất.

+
+ +

Một hồi trống lớn. Cánh cửa Ngọ Môn mở rộng. Hai bên các quan văn võ qua hai lối xép đi vòng hồ bán nguyệt, thong thả, trịnh trọng theo điệu âm nhạc bước tới sàn đại điện. Rồi chia ngôi thứ, ghi ở các biển phẩm trật, các quan quỳ thành hai hàng dài.

Bấy giờ cửa điện đã mở, nhưng rèm còn buông, nên các quan đều chưa rõ hoàng thượng đã ngự triều hay chưa. Tuy thế mặc lòng, nhiều quan cũng thì thầm nói chuyện với nhau. Và có người lại dám cúi gằm mặt xuống khúc khích cười nữa.

Riêng về phần Hà thị lang, ngài không nhúc nhích, mắt đăm đăm nhìn thẳng vào miếng kính ở cái hốt ngà.

Một câu hô: "Thiên tử!"

Các rèm kéo lên một loạt.

Giữa lúc ấy, Hà thị lang thấy có một vật động đậy trong hia bên trái. Rồi các đầu ngón chân buồn buồn tựa có kiến bò. Thị lang rùng mình, và rời rã chân tay như người bị cù. Nhưng một tiếng hô thứ hai làm ngài giật mình và quên hẳn cái chân.

"Bái chúc thánh hoàng vạn tuế!".

Ngài theo các quan quỳ phía trên, phủ phục xuống sân rồng, đọc cùng một loạt:

"Bái chúc thánh hoàng vạn tuế! Vạn vạn tuế!".

Tiếng "tuế" sau cùng vừa dứt, Hà thị lang thấy nhói một cái ở ngón chân út, như bị một mũi dùi đâm mạnh, khiến suýt nữa ngài kêu: "ái!".

Thị lang cho là mình để chân nhầm chỗ có cái đanh nhọn, và vì mình ấn mạnh hia xuống gạch để lạy, cái đanh ấy xuyên qua lần vải mà chọc vào ngón chân. Đoán chỗ thủng sâu lắm, và có cảm giác máu chảy, thị lang ngó ngoáy và cố di ngón chân út vào vải hia cho đỡ ngứa, thì cái đanh tưởng tượng lại càng đâm mạnh hơn, sâu hơn.

Rồi liền ngay lúc ấy chỗ đau nhức nhói, buốt chội lên như ai cầm một nắm kim mà cắm thấu tận xương. Thị lang nghiến răng lại để khỏi xuýt xoa. Và ngài nghĩ thầm: "Thiên tử mới bình phục chắc còn mệt. Vậy thì cố chịu đau một lát nữa thế nào rồi...".

Nghĩ đến đấy, thị lang bỗng phải ngừng lại để toan kêu thét lên vì vừa bị một nhát thương thứ hai ở ngón chân cái. Bấy giờ cái cảm giác có một con vật bò trong chiếc hia rộng đã hơi rõ rệt. Thị lang thấy cả hàng chân mềm của con vật động đậy và chải mơn lên đầu mấy ngón chân của mình. Rồi như có một cơn gió vừa thổi lạnh vào thân thể, vào ngũ tạng, thị lang rét run, hai hàm răng đập vào nhau côm cốp.

Nhức buốt dần dần tăng, dần dần lan ra tứ chi, thấm vào ruột, vào phổi, ăn thẳng lên óc. Thị lang tưởng chừng con vật ở trong hia đã chui lọt qua lần da, theo đường các ống xương mà chạy thực mau, vừa chạy vừa cắn.

Nhưng tuy đau có thể chết ngất được, thị lang vẫn cố sức, vẫn thu hết tàn lực lại để quỳ vững vàng, ngay thẳng. Mỗi khi cái lưng ngài muốn gập xuống dưới sức đè nặng trĩu của con quái vật tàng hình thì ngài lại nghiến răng bạnh cổ và ưỡn ngực để chống lại. Vì cái đau xé can tràng vẫn không thể làm cho tinh thần ngài mất tỉnh táo đến nỗi quên được rằng mình đương chầu vua, và chỉ một tiếng kêu bất kính, một cử động không hợp lễ như thò tay bóp chỗ đau chẳng hạn, cũng đủ liệt mình vào hàng bầy tôi bất trung.

Mắt thị lang lim dim nhìn vào kính hốt thấy đôi mi xưng húp như chứa đầy nọc độc con vật kỳ quái.

Rồi mình mảy thị lang đau ran lên, đau từng phân, từng li thịt một. Bất giác hai dòng lệ tuôn rơi lã chã, thị lang phải ghì hết can đảm và nghị lực mới giữ được khỏi thốt ra câu thỉnh cầu khiếm lễ: "Muôn tâu Bệ hạ, xin Bệ hạ miễn triều cho kẻ hạ thần, chẳng kẻ hạ thần chết mất."

+
+ +

Trong khi ấy thì hoàng thượng vui vẻ hỏi chuyện quan thái sư mà ngài vừa truyền gọi đến bên ngai vàng. Ngài cười nói coi bộ thích chí, thì thầm nhiều câu tưởng chừng bí mật lắm. Và ngài như quên hẳn bọn bầy tôi đương quỳ ngoài sân rồng.

Bỗng ngài quay ra, chau mày nhìn, rồi lẩm bẩm như gắt:

- Miễn triều!

Tức thì quan thị vệ ngân nga hô lớn:

- Thiên tử miễn triều!

Các quan thong thả lên gối đứng dậy một loạt.

Một mình Hà thị lang vẫn quỳ. Người bên cạnh nhắc:

- Kìa, quan bác, Bệ hạ miễn triều!

Hà thị lang ngửng lên chừng để được thấy thiên nhan một lần cuối cùng, rồi nằm vật ra kêu:

- Trời ơi! Cái hia!

Các quan ngơ ngác, hoảng hốt cúi nhìn: Hà thị lang bằn bặt thiếp đi.

Nghe có tiếng ồn ào, hoàng thượng hỏi thái sư:

- Cái gì thế?

Một quan thượng thư tiến gần lại quỳ tâu:

- Muôn tâu Bệ hạ, Hà thị lang vừa ngất đi. Mà lúc Hà thị lang lăn ra đất, kẻ hạ thần có nghe thấy tiếng kêu: "Cái hia!" Vậy chưa rõ thực hư, kẻ hạ thần xin cứ tâu lên thánh thượng.

Hoàng đế cười, phán:

- Hắn kêu "cái hia" thì cứ tháo hia hắn ra sẽ rõ thực hư ngay, chứ có khó gì.

Chiếc hia trái vừa rút khỏi chân Hà thị lang vẫn nằm bất tỉnh, thì một con rết dài gần một gang tay chạy vọt ra. Bá quan văn võ quên cả nghi lễ đua nhau chạy đuổi, vung bốt ngà đánh dập nát con vật, trong khi hoàng thượng ngồi cười ngất trên ngai vàng.

Rút từ tập truyện Hạnh
Nxb Đời nay, Hà Nội, 1938.

Chiếc rương oan nghiệt

Chiếc rương oan nghiệt
Agatha Christie

Thám tử Poirot bước vào phòng làm việc. Ông đưa tay chào cô Lemon, thư ký riêng của ông. Như thường lệ, ông lật tờ báo buổi sáng trên bàn ra xem. Tin một vụ án mạng đăng trên trang nhất làm ông chú ý. Sáu nhân vật gồm thiếu tá Ritz, ông bà Clayton, trung tá hải quân Mac Laren, ông bà Spend cũng tham dự một bữa tiệc chiêu đãi, nhưng chỉ có 5 người ăn uống và khiêu vũ, còn người thứ sáu đã nằm chết cứng trong rương không biết từ lúc nào? Cạnh bản tin, có in hình một phụ nữ rất đẹp, bà Clayton, vợ nạn nhân. Poirot đưa tờ báo cho cô thư ký.

- Cô hãy nhìn kỹ mặt người này, cô thấy thế nào?

- Tôi biết bà này. Trước kia bà ta là vợ ông Giám đốc Ngân hàng nhưng lại ngoại tình với một ông nghệ sĩ. Ông chồng ghen đến nỗi tự sát bằng một viên đạn vào đầu. Sau bà ta cũng không lấy chàng nghệ sĩ, khiến chàng ta tuyệt vọng nhảy lầu tự tử, may mà được cứu sống.

Poirot gật gù:

- Ghê thật, giờ bà ta lại liên quan đến một xác chết. Phiền cô hãy tóm tắt lại các bài báo nói về vụ án này rồi báo cáo cho tôi rõ.

Hôm sau, cô Lemon trình bản báo cáo: "Thiếu tá Ritz, 48 tuổi, nhà giàu, độc thân. Tối hôm đó, ông mời vài người bạn đến nhà chơi. Họ gồm có ông bà Clayton, ông bà Spend và trung tá hải quân Mac Laren, 46 tuổi. Ông này là bạn thân của Ritz và vợ chồng Clayton. Bà Clayton nhũ danh Marguerita, 37 tuổi, rất trẻ so với chồng đã 55 tuổi. Đến phút chót, ông Clayton phải đi Ecot có việc gấp nên không dự cuộc vui được. Buổi tiệc kéo dài đến 11 giờ 45, mọi người ra về cùng trên một chiếc taxi. Mac là người đầu tiên bước xuống xe để vào câu lạc bộ của ông, sau đó vợ chồng Spend đưa bà Clayton về nhà trước khi quay lại nhà mình. Sáng hôm sau, người làm của Ritz là William phát hiện ra ông Clayton bị đâm vào cổ, chết cứng trong chiếc rương gỗ từ lâu vẫn để ở phòng khách. Bà Clayton khai là bà nhìn thấy chồng lần cuối vào lúc 6 giờ chiều hôm đó, ông về nhà với vẻ buồn phiền vì phải đi Ecot, không đến nhà Ritz được. Sau đó, ông qua Câu lạc bộ uống một ly rượu với Mac. Trước khi đi, ông có điện thoại cho Ritz nhưng đường dây bị bận. Anh hầu William khai rằng, tối hôm đó, khoảng gần 8 giờ, ông Clayton có ghé nhà. Vì Ritz chưa về nên ông ngỏ ý muốn viết vài chữ cho bạn. Thế là anh ta vào phòng khách rồi xuống bếp lo chuẩn bị bữa tiệc. Một lát, ông chủ ló đầu vào cửa bếp sai anh đi mua gói thuốc lá cho bà Spend. Khi trở về, anh chỉ thấy chủ anh ngồi trong phòng khách, không biết ông Clayton đã về từ lúc nào. Thiếu tá Ritz thì cho biết, khi về nhà, ông không thấy Clayton, cả thư từ để lại cũng không nốt. Mãi đến khi các bạn đến, ông mới hay ông ta đã đi Ecot. Hiện giờ, bà Clayton đau khổ bỏ nhà đi đâu không rõ, còn thiếu tá Ritz đã bị bắt vì bị tình nghi là thủ phạm".

- Tôi nghĩ đến Ritz rất nhiều. Còn cô, cô có nghi cho anh ta không?

- À, người ta còn bảo rằng, Ritz và bà Clayton là nhân tình của nhau... nhưng đó chỉ là lời đồn.

- Cứ giả dụ hai người yêu nhau đi, Ritz muốn khử anh chồng để được tự do với người đẹp... có thể hai người đã cãi lộn, Ritz rút dao đâm Clayton, xong giấu xác trong rương. Rồi khách khứa đến, Ritz vui chơi cùng họ, sau đó, thản nhiên đi ngủ...

- Ồ, không thể được... Cô Lemon kêu lên.

- Ồ! Poirot kêu lên - Cô cũng nhận xét như tôi, đúng không? Tôi nghĩ rằng, Ritz không thể ngốc nghếch đến như vậy. Nếu muốn giết Clayton, anh ta phải đợi dịp khác.

Chuông điện thoại reo, Poirot nhấc máy:

- Tôi, Poirot nghe đây.

- Ôi, may quá - Một giọng phụ nữ cất lên ấm áp - Tôi là Chatteton, mời ông vui lòng đến dự tiệc rượu tại nhà riêng của tôi. Xin ông đừng từ chối. Tôi có việc rất cần, mong ông giúp đỡ.

Bà Chatteton đón thám tử Poirot ngay cửa ngôi biệt thự lộng lẫy. Bà kín đáo đưa ông lên cầu thang. Đến trước một căn phòng, bà mở nhẹ cánh cửa.

- Marguerita, mình đã mời được rồi.

Bà né sang bên để Poirot bước vào. Bà giới thiệu:

- Đây là Marguerita Clayton, người bạn rất thân của tôi. Bạn tôi rất cần được ông giúp đỡ.

Bà Clayton đang ngồi bên cửa sổ, đứng lên tiến lại gần Poirot. Đó là một thiếu phụ có nhan sắc vô cùng quyến rũ. Mái tóc rẽ ngôi giữa, để lộ một vầng trán rộng, đôi mắt nâu thăm thẳm, mũi cao, miệng hình trái tim. Chiếc áo dài đen ôm lấy thân hình thon thả, nổi bật làn da trắng mịn như cánh hoa ngọc lan. Bà cất giọng trong vắt:

- Bạn tôi nói là... ông có thể giúp tôi?

- Bà tin như thế sao? Vậy... bà muốn gì ở tôi?

- Ồ... tôi cứ tưởng... ông đã biết tôi là ai.

- Tôi biết chứ. Chồng bà vừa mới bị... và anh chàng thiếu tá ấy đã bị dẫn về bót.

- Không - Bà Clayton kêu lên - Ritz không giết anh ấy đâu!

- Có lẽ bà sẽ ngạc nhiên khi tôi hỏi bà một câu không giống với câu hỏi của cảnh sát. Thay vì "Tại sao Ritz giết chồng bà?", tôi chỉ muốn hỏi bà rằng: "Tại sao bà biết chắc là Ritz không giết chồng bà?".

- Vì... vì tôi biết rất rõ về anh ấy. Biết rõ từ 5, 6 năm nay rồi. Tôi muốn... không ai được nghi ngờ anh ấy.

- Bà hãy trả lời thành thật. Nhớ nhé. Bà phải nói thật.

- Vâng. Tôi sẽ nói thật.

- Thiếu tá Ritz yêu bà?

- Đúng như thế.

- Còn bà?

- Tôi... tôi nghĩ rằng có, nhưng ông đừng hiểu là chúng tôi đang có sự gắn bó thân mật. Tôi rất tôn trọng chồng tôi.

- Bà có yêu ông nhà không?

- Không.

- Bà thành thật rất đáng khen. Bà kết hôn từ bao giờ?

- Đã mười một năm.

- Ông ấy là người như thế nào?

- Anh ấy là một chuyên gia giỏi, thông minh nhưng rất kín đáo, anh ấy không bao giờ nói về cái tôi của mình.

- Ông ấy yêu bà chứ?

- Vâng, chắc chắn như thế. Nhưng - Bà ngập ngừng - Anh ấy... rất hay ghen.

- Xin lỗi, tôi nói bà đừng giận. Bà thuộc tuýp phụ nữ xuất hiện đến đâu là gây bi kịch đến đó. Chính thái độ thờ ơ của bà đã làm biết bao người say mê cuồng dại. Có người còn đâm đầu từ lầu cao xuống đất nữa kia đấy.

- Tôi... tôi hoàn toàn không có lỗi trong vụ anh chàng đó tự tử. Hơn nữa, đó là chuyện quá khứ, mong ông đừng nhắc lại.

- Thôi được rồi. Trở lại chuyện thiếu tá Ritz, căn cứ vào báo chí, hai người có khả năng giết chồng bà nhất là Ritz và anh chàng người làm.

Bà Clayton bướng bỉnh nhắc lại:

- Không, Ritz không thể làm việc ấy.

- Vậy thì anh người làm ư? Anh ta không có lý do gì để giết chồng bà cả. Xin bà kể lại sự việc diễn ra trong buổi tối hôm đó.

- Vâng - Bà Clayton trầm ngâm - Buổi tiệc rất vui. Ritz có một giàn âm thanh stéréo tuyệt vời, nhạc hay, chúng tôi khiêu vũ...

Poirot ngắt lời:

- Tôi muốn biết tại sao chồng bà lại có ý định đi Ecot?

- Tôi cũng không rõ. Chiều hôm đó anh ấy về nhà với bức điện trên tay, ảnh nói: " Tiếc quá, anh phải đi Ecot, không đến nhà Ritz cùng em được. Em có thể nhờ Mac đón hoặc đi taxi nhé". Đó là lần cuối cùng tôi trông thấy anh ấy.

- Ông nhà có đưa bức điện cho bà xem không?

- Không.

- Thật đáng tiếc. Xin bà vui lòng viết thư giới thiệu tôi cho những người bạn của bà. Tôi cần gặp họ mà không muốn bị mời ra khỏi cửa. Chính tôi sẽ tự mình đánh giá họ, nhưng tôi cũng muốn biết cảm tưởng của bà đối với những người này ra sao?

- Mac là một trong những bạn lâu năm nhất của chúng tôi. Tôi biết anh ấy hồi tôi còn rất trẻ. Anh ấy tính lầm lì, không vui vẻ nhưng giàu nghị lực và đáng yêu.

- Chắc là... ông ấy cũng yêu bà?

Bà Clayton trả lời rất tự nhiên:

- Ờ, có chứ. Anh ấy yêu tôi từ lâu. Nhưng yêu để mà yêu thôi, giữa chúng tôi có một khoảng cách.

- Còn ông bà Spend?

- Họ vui nhộn, dễ gần. Bà vợ Linda thông minh và có duyên, nhưng tôi không ưa chị ấy lắm, vì chị ấy hay đùa dai.

Ra về, hình ảnh xinh đẹp của bà Clayton bám mãi vào đầu óc Poirot. Phải chăng bà ta thuộc loại "phụ nữ trẻ con", luôn luôn nói "Tôi không biết gì" và tin đó là sự thật.

***

Thanh tra cảnh sát Mile nhìn thám tử Poirot, nheo mắt:

- Ông định lật ngược thế cờ ư? Không có chuyện đó đâu, chắc chắn Ritz là thủ phạm.

- Thế còn tên người làm?

- Anh ta hoàn toàn trong sạch. Ông muốn đổ lỗi cho anh ta để làm vui lòng người đẹp chớ gì? Ông nên biết rằng, nếu có điều kiện, chính tay bà ta gây án chứ không phải nhờ đến tình nhân đâu. Rồi ông sẽ ngạc nhiên, tôi đã từng biết một phụ nữ....

- Thôi, chúng ta đừng tranh cãi nữa. Tôi mong anh cung cấp cho một vài chi tiết, nạn nhân chết lúc mấy giờ? Vết thương ra sao?

- Án mạng xảy ra từ 10 đến 13 giờ đêm hôm trước. Một nhát dao vào tĩnh mạch cổ, loại dao nhỏ và sắc như dao cạo. Anh người làm khai là trong nhà không hề có loại dao này.

- Tôi muốn biết về bức điện...

- Người ta không tìm thấy bức điện ấy, nhưng theo suy luận thì phải có. Chính ông Clayton cũng nói với anh người làm và cả với trung tá Mac về bức điện từ Ecot.

- Mac và Clayton gặp nhau lúc mấy giờ?

- Họ uống với nhau ở Câu lạc bộ lúc 7 giờ 15, rồi Clayton đi taxi đến nhà Ritz lúc gần 8 giờ.

- Có ai nhận thấy thái độ khác thường của Ritz tối hôm đó không?

- Bà Spend nói, suốt buổi tiếp tân, Ritz có vẻ đãng trí hơn thường nhật. Đó là điều dĩ nhiên thôi, vì anh ta đang suy nghĩ là nên thủ tiêu cái xác trong rương như thế nào? Mà cũng lạ đấy, tại sao hắn không vứt cái xác ngay trong đêm ấy nhỉ. Hắn có xe riêng, lại mạnh khỏe, đủ sức làm việc đó. Vậy mà bỏ đi ngủ tỉnh queo, rồi lại dậy trễ nữa chớ. Chính cảnh sát đến nhà lôi đầu hắn ta dậy đấy.

- Ritz đi ngủ bình thản như một người lương tâm chưa bị vẩn đục.

- Nếu điều đó làm ông vui mừng thì tùy ông. Ông tin hắn vô tội thật sao?

- Tôi cần tìm hiểu một vài điều.

Người đầu tiên Poirot tìm gặp là trung tá hải quân Mac Laren. Đó là một người cao to, da rám nắng, nét mặt khắc khổ. Cầm lá thư của bà Clayton trên tay, Mac khó thể từ chối trả lời những câu hỏi của thám tử Poirot:

- Ông tin chắc Ritz là thủ phạm sao?

- Rất chắc. Nhưng tôi không nói điều này với Marguerita nếu cô ấy vẫn cho rằng hắn vô tội. Tôi rất muốn chiều lòng cô bạn nhỏ của tôi.

- Ông ấy có bất hòa với ông Clayton không?

- Hoàn toàn không. Hai người rất thân nhau mới lạ chứ.

- Vậy còn tình cảm riêng tư giữa thiếu tá và bà Clayton?

- Đó là miệng lưỡi đơm đặt của báo chí. Ông tin làm gì?

- Ông gặp ông Clayton lần cuối cùng vào lúc nào?

- Chúng tôi gặp nhau trong Câu lạc bộ, cùng uống một ly rượu. Rồi sau đó, ông ta nói đến một bức điện, bảo là phải đi Ecot ngay. Ông nhờ tôi đưa bà vợ về sau buổi tiệc.

- Ông có xem bức điện ấy không? Ông ấy có lộ vẻ nghi ngờ gì về tính xác thực của bức điện không?

- Tôi không được thấy bức điện. Còn nghi ngờ à? Lại thế nữa đấy! Có ai muốn đẩy anh ta đi Ecot sao?

- Đó là một câu hỏi cần được giải đáp.

Bà Spend tiếp thám tử Poirot tại phòng khách ngôi nhà nhỏ của vợ chồng bà. Bà có mái tóc uốn xù, nước da ngăm đen, dáng người gầy guộc. Bà hỏi thám tử vẻ sốt sắng:

- Ông đã gặp Marguerita à? Chị ấy đang ở đâu thế?

- Xin lỗi, tôi không được phép nói, thưa bà.

- Chà, cô bé trốn giỏi thật. Thế nào cũng phải ra tòa làm chứng cho mà xem. Còn ông, ông đang tìm bằng chứng để cứu Ritz ư? Hão huyền quá. Tôi chắc chắn anh ta là thủ phạm.

- Trong buổi tối khủng khiếp ấy, bà thấy Ritz thế nào?

- Ờ, anh ấy không còn là anh ấy nữa, anh ấy khác hẳn. Mà không khác sao được, anh ấy vừa mới đâm bạn mình mà.

- ... À... tôi thấy anh ấy đãng trí và tôi đoán là phải có một cái gì đó không bình thường.

- Bà có nghi ngờ gì về bức điện không?

- Nếu đó là bức điện giả thì tôi cũng chả ngạc nhiên. Marguerita có thể lừa chồng đi xa để anh chị tha hồ tươi mát.

- Ông Clayton có nghi ngờ chuyện này không?

- Anh ấy biết nhưng không lộ ra. Ảnh chịu đựng rất giỏi, dù tính rất hay ghen. Ảnh ghen dữ lắm, ghen một cách bệnh hoạn.

- Còn Mac?

- Anh ấy là người bạn trung thành của Marguerita. Ảnh cũng mê cô ta như điếu đổ. Đôi mắt cô ta lúc nào cũng ngơ ngác con nai vàng, khiến bao nhiêu gã đàn ông phải chết mệt.

- Ông Clayton cũng ghen với Mac chứ?

- Ồ không. Vì Marguerita không yêu anh ấy. Thật vô lý, anh ấy cũng đáng yêu đấy chứ.

Trái với bà vợ, ông Spend tỏ vẻ không muốn dây vào vụ án này. Ông trả lời rất nhát gừng:

- Chúng tôi quen vợ chồng Clayton từ lâu nhưng không biết rõ Ritz lắm. Anh ấy bề ngoài rất dễ gây cảm tình với người khác. Tối hôm đó, Ritz hoàn toàn bình thường, quan hệ giữa Clayton và Ritz bao giờ cũng thân ái, thật khó mà giải thích được vụ này.

- Ông có nghĩ rằng, bà Clayton đã âm mưu với Ritz để...

- Tôi không nghĩ gì cả. Tôi đã mất quá nhiều thì giờ với cảnh sát. Bây giờ đến ông nữa!

***

Ngồi trước mặt Poirot là kẻ bị tình nghi giết bạn. Thiếu tá Ritz có chiếc cằm vuông lộ vẻ cương quyết, dáng cao to, khỏe mạnh.

- Thật là thiếu khôn ngoan khi bà Clayton muốn ông đến gặp tôi - Ritz nói nhỏ - Vì ở đây, họ đang tìm cách chứng minh có sự thông đồng giữa tôi và bà ấy. Ông hãy nhớ rằng, chúng tôi chỉ là bạn, giá như bà ấy không hành động gì cho tôi cả còn hơn.

- Tôi đã nghiên cứu cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông đã được thử lửa, và ông đủ khôn ngoan để không giết người trong một điều kiện như vậy. Bây giờ xin ông nói về người hầu của ông, anh ta cũng có thể giết ông Clayton lắm chứ.

- Đúng theo lập luận của ông, ngoài tôi ra, hắn là người duy nhất có điều kiện để giết ông Clayton, nhưng tôi không tin như thế.

- Tôi sẽ đến gặp anh ta. William không ngạc nhiên khi thấy thám tử Poirot đến tìm.

- Chào ông. Trung tá Mac đã điện thoại cho tôi biết là ông sẽ đến.

Bước vào phòng khách, Poirot nhìn bao quát:

- Đây là nơi xảy ra án mạng? Chiếc rương đâu?

Vừa hỏi ông vừa quan sát anh người làm. Đó là một thanh niên gầy gò, da trắng, rụt rè, giọng nói hơi quê. Một con người như thế khó mà trở thành kẻ sát nhân được.

- Thưa ông, chiếc rương đây ạ.

Poirot nhìn chiếc rương dựa vào tường gần cửa sổ, một bên là máy quay đĩa kiểu mới, bên kia là một cánh cửa hé mở, khuất sau một tấm bình phong bằng da. William giải thích:

- Đó là cửa thông sang phòng ông thiếu tá. Rồi anh bắt đầu kể lể :" Sáng hôm đó, tôi thu dọn lại phòng. Khi tôi cúi nhặt mấy quả oliu thì thấy một vệt đỏ trên thảm. Mẹ kiếp, máu chắc? Tôi nghĩ một cách bỡn cợt, nhưng rồi tôi lạnh cả người khi thấy là máu thật, máu chảy ra từ một kẻ hở nơi rương. Tôi lấy hết can đảm mở nắp rương. Mẹ ơi, một xác người nằm nghiêng, hơi co lại, mắt nhắm nghiền như đang ngủ nếu không có con dao xuyên qua... cổ. Ôi, tôi không thể quên được, kinh khủng quá. Thế là tôi để rơi nắp rương, ba chân bốn cẳng chạy đi tìm cảnh sát.

Poirot nhìn William, hắn có đóng kịch không nhỉ?

- Sao anh không gọi chủ anh dậy?

- Tôi bị giáng một cú tá hỏa, không còn đầu óc nào để nghĩ đến ai nữa, mà chỉ muốn chuồn ra khỏi phòng càng nhanh càng tốt.

- Anh hãy nhớ lại xem, tối ấy, ông Clayton đến đây lúc mấy giờ?

- Vào khoảng 8 giờ kém 15. Dường như ông ấy sắp lên tàu để đi đâu đó. Tôi đưa ông ấy vào phòng để viết thư cho ông chủ rồi xuống bếp. Sau đó, ông chủ sai tôi đi mua thuốc lá, khi trở về tôi không thấy ông Clayton đâu nữa.

- Không có ai khác vào nhà khi thiếu tá vắng mặt hoặc khi anh còn trong bếp sao?

- Chắc chắn là không, vì cửa trước lúc nào cũng khóa. Muốn vào phải bấm chuông.

Poirot ngẩn người suy nghĩ. Đúng, vợ chồng Spend, Mac Laren, bà Clayton không thể lẻn vào nhà lúc này được. Nếu muốn giết ông Clayton, họ còn biết bao cơ hội. Hay là có một kẻ thù nào đó trong quá khứ của Clayton bất thần xuất hiện? Ông bước gần nhấc nắp rương. Chiếc rương đã được cọ rửa sạch sẽ. Ông dùng tay sờ vào lớp ván phía trong và khẽ kêu lên:

- Mấy cái lỗ này... hình như vừa được xoi thủng?

Anh người làm cúi xuống:

- Lạ thật, tôi chưa bao giờ thấy những cái lỗ này.

- Khi anh mang thuốc lá về, anh thấy tất cả đồ đạc trong phòng còn nguyên hay là có xê dịch chút đỉnh?

- Hình như... có đấy. Ông hỏi tôi mới để ý. Tấm bình phong đặt trước cửa phòng, giờ bị xích về phía trái.

- Như thế này phải không? Thám tử Poirot vừa hỏi vừa đẩy tấm bình phong về chỗ cũ.

- Tí nữa, đó, đúng rồi. Trước kia nó ở vị trí ấy.

- Tấm bình phong che chiếc rương và tấm thảm. Nếu thiếu tá đâm Clayton, có thể người ta sẽ trông thấy máu chảy...

Anh người hầu đưa hai tay lên trời:

- Thật khủng khiếp khi nghĩ rằng một người hiền hậu như thiếu tá lại làm một việc tàn ác như vậy.

Thám tử Poirot bắt tay William:

- Cảm ơn sự giúp đỡ của anh.

Về đến nhà, thám tử gọi điện cho thanh tra Mile:

- Phiền anh, anh có giữ cái vali của ông Clayton không? Tôi muốn biết trong đó có gì?

- Ông Clayton đã bỏ quên chiếc vali tại Câu lạc bộ. Bên trong chỉ có ít quần áo và đồ dùng lặt vặt.

Thám tử Poirot lại suy nghĩ. Đúng là vụ án được bố trí công phu. Chiếc vali, tấm bình phong, xác chết như đang ngủ... một vụ án mạng có dự mưu, có chuẩn bị, thủ phạm là ai? Thật đáng tự hào vì đã làm cho Poirot phải điên đầu. Không chần chừ, ông lại gọi đến bà Clayton:

- Xin bà hãy nhớ lại tối hôm đó, bà có để ý đến sự khác thường của tấm bình phong không?

- Tấm bình phong? Đúng, đúng rồi, tấm bình phong không ở vị trí thường lệ.

- Hôm đó bà đã khiêu vũ với ai?

- Với Spend nhiều nhất. Ritz nhảy khéo nhưng không giỏi. Còn Mac không nhảy, anh phụ trách máy quay đĩa.

- Chắc bà đã coi Othello của Shakespeare? Nàng Desdemona trong truyện yêu chồng chân thành, nhưng vẫn dành tình yêu cho những người anh hùng khác. Nàng yêu một cách ngây thơ và không hiểu thế nào là lòng ghen. Bao nhiêu người đã yêu nàng như điên dại...

- Thực lòng, tôi không hiểu ông định nói gì?

- Tối nay, tôi xin phép được đến thăm bà.

***

Thám tử Poirot đi cùng thanh tra Mile đến chỗ bà Clayton. Bà tỏ vẻ không vui khi nhìn thấy mặt ông thanh tra cảnh sát. Sau khi mọi người đã yên vị, thám tử Poirot từ tốn:

- Xin hai vị bình tĩnh nghe tôi nói, tôi nghĩ là tôi đã biết được diễn biến đích thực trong căn phòng của thiếu tá Ritz tối hôm xảy ra án mạng. Chúng ta đã bắt đầu cảm tưởng sai lầm là chỉ có hai người, William và Ritz, là có thể giấu được xác chết trong rương. Còn một người nữa, có thể làm được việc ấy.

- Chú nhỏ coi thang máy chắc? Thanh tra Mile châm biếm.

- Người đó là ông Clayton.

- Sao? Ông ấy lết vào rương sau khi chết à? Ông có điên không?

- Nói ngắn gọn, ông ấy tự nguyện nấp trong rương. Tôi đã trông thấy những cái lỗ mới xuyên thủng nơi thành rương. Để làm gì vậy? Để ông ấy thở. Còn tại sao lại di chuyển tấm bình phong? Để những người dự cuộc vui không nhìn thấy chiếc rương. Như vậy, thỉnh thoảng ông ấy có thể mở nắp, co duỗi chân tay và hơn thế nữa, nghe thiên hạ nói gì.

Bà Clayton mở to mắt:

- Tại sao anh ấy lại làm như vậy?

- Đơn giản thôi. Ông ấy ghen. Ông ấy cần biết bà có đúng là người tình của Ritz không? Một bức điện không ai nhìn thấy, chiếc vali đã chuẩn bị để rồi bỏ quên nơi câu lạc bộ. Ông ấy đến nhà Ritz sau lúc gọi điện để biết chắc Ritz vắng nhà. Ông tạo cơ hội để vào phòng khách một mình, xê tấm bình phong lại, xuyên lỗ vách rương và chui vào trong. Ông ấy muốn biết sau đêm vui, bà có ở lại với Ritz không? Lòng ghen hờn đã dày vò ông dữ dội.

Mile nói lớn:

- Nhưng ông không định nói là ông ta tự đâm dao vào cổ chứ?

- Không. Đã có người làm việc đó. Các vị hãy nghĩ đến những nhân vật trong Othello! Có một người bạn thật thà trung thành nhưng lại nuôi dưỡng lòng ghen tuông của ông Clayton và đẩy nó đến bùng nổ. Clayton có tự mình nghĩ ra việc nấp trong rương? Không chắc đâu. Rồi buổi tiếp tân diễn ra, ánh sáng trong phòng mờ mờ êm dịu, hai cặp khiêu vũ... Trong khi đó, người phụ trách máy quay đĩa ngay bên chiếc rương có tấm bình phong che khuất, lén đến bên tấm bình phong, mở nắp rương và đâm...

- Nhưng Clayton sẽ kêu lên ngay.

- Không, ông không kêu vì đã bị đánh thuốc mê. William khai xác chết giống như người đang ngủ. Clayton ngủ vì liều thuốc của người bạn cùng uống với ông ở Câu lạc bộ.

- Mac ư? Không, tôi biết rõ anh ấy mà. Tại sao...

- Có thể hắn sẽ nhẫn nại chịu đựng tình trạng làm bạn trung thành của bà và chồng bà, nếu thiếu tá Ritz không nhảy vào cuộc. Sợ mất bà, hắn đã chuẩn bị một tội ác hoàn hảo. Hắn vẽ lối đưa đường cho ông Clayton nấp trong rương, rồi chính hắn hạ sát ông sẽ trút hết tội lỗi lên đầu Ritz. Loại được cả Ritz lẫn chồng bà, hắn sẽ là người gần gũi an ủi bà, biết đâu một ngày nào đó, bà sẽ rủ lòng thương.

Thanh tra Mile cất tiếng nói đầy quyền lực:

- Tốt lắm, nhưng đó chỉ là giả thiết, có thể sự thật không hoàn toàn như vậy. Chứng cớ đâu?

- Tôi tin rằng, chỉ cần anh bảo với Mac Laren rằng, bà Clayton, người đẹp của lòng hắn đã biết rõ sự thật, hắn sẽ tuyệt vọng và thú nhận tất cả cho anh xem. Không có tội phạm nào hoàn hảo cả đâu!

Ông lão vẽ tranh

Ông lão vẽ tranh
Nguyễn Đình Thi

Người làng Cun nhìn thấy ông cụ từ trên đỉnh đèo lất phất sương đi xuống mấy quả đồi ven sông. Ông cụ mặc bộ quần áo cánh vải nâu, chân đi dép rơm, tay chống gậy, bên vai đeo ống bương cùng với chiếc tay nải. Đến mỏm đồi sát bờ nước, ông đứng nhìn quanh những bụi sim, bụi mua, rồi rẽ cỏ lần tìm một lúc. Gần đỉnh đồi đến một chỗ quang, ông ngồi xuống bên cạnh một nấm mộ cũ lẫn trong cỏ dại, mắt đǎm đǎm nhìn xuống dòng sông lǎn tǎn, ông ngồi quên tất cả, lúc lâu sau mới đứng dậy đi vào trong xóm.

Chiều hôm ấy thì dân làng đã biết ông cụ chính là người xóm Đồi, ông bỏ làng ra đi từ hơn sáu mươi nǎm trước. Ngày bấy giờ trong xóm có thằng cu Dần mồ côi cả cha lẫn mẹ, ở với bà ngoại. Nǎm bà cụ mất, cậu bé theo người trong xóm chôn bà trên mỏm đồi sau cǎn nhà lá, rồi một hôm ra đi biệt tích. Vậy mà nay ông Dần vẫn còn sống mà trở về quê ngoại, sau cả một đời lưu lạc. ít bữa sau, ông cụ đến ở nhà bác phó may Chiểu cuối phố Cun, cái phố nhỏ bờ sông có mấy cửa hàng buôn nứa, gỗ, củ nâu, cánh kiến, sa nhân, mộc nhĩ để bán về xuôi. Và chẳng bao lâu dân trong phố đều biết ông cụ có nghề vẽ truyền thần.

Bác Chiểu góa vợ đã lâu, ở vậy nuôi đứa con gái, nǎm ấy nó đã được mười ba tuổi. Nó câm và dở người, nhưng chǎm nấu cơm và quét tước nhà cửa... Khu nhà từ mấy đời các cụ để lại được miếng vườn rộng, bác thu dọn để ông Dần ở gian nhà gỗ cuối vườn, có hàng hiên trông thẳng ra sông.

Ông già rất xuề xòa, hằng ngày ông thường ở ngoài hiên, chỉ có chiếc võng tơ đã cũ để ngả lưng, với chiếc chõng tre, cái bàn gỗ tạp để vẽ. Con bé Hồng mọi khi một mình lủi thủi, bây giờ có ông già, tự nhiên rất nhanh nó đã quấn lấy ông, nó bắc một cái kiềng bếp ở góc hiên để nấu nướng lặt vặt hầu hạ ông cụ.

Dân phố Cun khen bác Chiểu khéo đón được ông già có nghề lạ. Ai đến xin vẽ, ông Dần mời ngồi chơi uống nước, ông ngồi lâu, chỉ nhấp nước trà, nhìn người khách, hỏi chuyện nọ chuyện kia. Rồi ông mài mực, soạn bộ bút lông hàng chục chiếc to nhỏ các cỡ. Đến lúc ông ra bàn, cầm bút thong thả đưa lên tờ giấy bản hoặc tấm vải lụa, ông đưa nét bút nào là in nét ấy, không sửa hoặc tô đi tô lại. Thay vài lần bút, một lúc đã được bức tranh, nét mặt người trong tranh thật hệt, mà hai con mắt như có thần. Những lúc vẽ, ông Dần ít cho người lạ đứng xem. Chỉ có con bé Hồng chạy ra chạy vào, đun nước, thay trà, hoặc đứng lặng một góc, ngây người nhìn.

Ông cụ vẽ tranh không đặt giá tiền công, tùy tâm người đến xin truyền thần đưa bao nhiêu ông cũng cầm, bỏ vào một cái tráp gỗ nhỏ. Có người nghèo, dắt ông bố hoặc bà mẹ già đến xin ông Dần vẽ cho bức tranh để thờ sau này, chỉ có đấu gạo, con gà, nải chuối, ông cũng vui vẻ nhận vẽ cho.

Cũng có khách từ xa tìm đến. Một buổi phiên chợ, dân phố Cun thấy hai người lạ mặc quần áo chàm, đầu bịt khǎn chàm, quàng gươm dài sau lưng cưỡi hai con ngựa ô hỏi thǎm đến nhà ông lão vẽ tranh. Bác phó Chiểu sau kể lại đấy là người nhà chúa Nùng trên Cao Bình đến mời ông Dần lên tận trên ấy vẽ cho nhà chúa. Nhưng ông Dần từ chối vì đã cao tuổi, sợ không chịu nổi nhọc mệt dọc đường. Mặc dù vậy, người nhà chúa nơi biên ải cũng biếu ông cụ một sấp lụa Tàu loại quý. Ông Dần hôm ấy mới giở cái ống bương lớn, lấy ra một bức tranh lụa vẽ phong cảnh gửi biếu lại ông chúa Nùng mà người ta nói là Đức Vua ta dưới Kẻ Chợ cũng nể.

Nhưng câu chuyện dân phố chú ý nhất là một hôm có hai bố con người Tàu đi đò dọc theo lái buôn từ Kẻ Chợ lên. Ông bố đã đầu râu tóc bạc, người con trai nói tiếng ta rất sõi. Ông Dần đón khách trên cái hiên nhà tuềnh toàng vậy mà ông già Tàu lộ vẻ trọng vọng lắm. Lần ấy bác phó Chiểu mới biết ông cụ Dần nói được tiếng quan hỏa, ông cùng người khách trò chuyện cả buổi sáng. Đến trưa, bác thợ may mời khách cùng ǎn cơm, ông cụ Dần khẽ cho bác biết: Ông già Tàu này làm chức quan nhỏ ở tỉnh Phúc Kiến, bị án oan phải tội, ông bỏ trốn sang nước ta, tìm đến người đồng hương ở đất Kẻ Chợ nương náu làm ǎn đã hai mươi mấy nǎm. Cơm nước nghỉ ngơi xong, ông Dần đem khung lụa ra ngoài hiên ngồi vẽ. Hai bố con người khách cũng ra ngồi phía sau cùng với bác phó Chiểu và cô bé câm, không ai nói một tiếng. Tất cả cùng nín lặng dõi theo bàn tay ông cụ. Bức tranh này ông Dần vẽ lâu hơn thường ngày, thay nhiều cỡ bút, dùng cả mực đen và mầu nước. Trên vuông lụa như trong mơ dần hiện lên một cánh rừng phong đỏ sẫm bên một dòng sông mờ khói sương, trên một sườn đồi lúp xúp mấy nóc nhà có một bóng người đội nón tu lờ gánh củi dưới dốc đi lên, xa phía sau trong những lớp mây ẩn hiện mờ ảo mấy bóng núi cao chạm trời. Khi ông cụ buông bút đứng dậy lấy khǎn tay lau mồ hôi đầm đìa trên mặt thì ông già người Tàu đến trước bàn nhìn lặng một lúc rồi bỗng hai mắt đỏ hoe, chắp tay vái bức tranh. Ông gọi người con đến nói một hồi dài. Anh con trai đến vái ông cụ Dần và nói: "Con xin tạ ơn cụ. Hôm nay con được nhìn thấy phong cảnh nơi quê cha đất tổ". Hai bố con cung kính đưa ông cụ một hộp nhỏ bọc giấy hồng điều. Ông Dần đưa chiếc hộp cho bác phó Chiểu, bác vâng dạ đem lên nhà trên, giở giấy bọc, hé mở nắp hộp thấy bên trong có một xếp vàng lá.

Thấm thoắt đã sang thu. Mỗi buổi sáng, trong mảnh vườn mấy luống cúc tỏa nhẹ một làn hương thoang thoảng. Chiều chiều khi vầng mặt trời sắp khuất sau dãy núi ở chân mây, cả một dải đồi cọ suốt dọc bên kia sông ánh rực lên, những cây cọ lóe sáng trên chỏm, trông như hàng nghìn vạn ngọn nến thắp lên vàng chói.

Ông cụ Dần dạo này không nhận vẽ truyền thần nữa. Chỉ có một lần ông nể lời sư cụ chùa làng, lên chơi chùa và vẽ một bức cho sư cụ. Chiều hôm ấy hai ông già uống rượu với nhau và nói nhiều chuyện cũ, mới. Sư cụ đem khoe một bộ đá hiếm, có viên đá giống hình cây nấm, có viên giống vỏ sò, có viên như hình con dơi, có viên đỏ tuyền không một vết gợn một đường vân, có viên trắng như mỡ, có viên ánh biếc như cánh chim bói cá. Sư cụ đắc ý nhìn ông Dần và hỏi: "Cụ xem có phải vừa lạ, vừa kỳ, vừa quái không? Đúng như trong sách cổ đã dạy!". Ông Dần cười: "Cụ bây giờ có nhẽ hằng ngày nói chuyện với đá". Sư cụ gật gật: "Vâng. Vâng. Cũng thu nhặt dần mãi đấy ạ. Tôi ít dám cho người ngoài xem bộ đá này". Sẩm tối, ông Dần chống gậy về đến nhà, vẫn đang ngà ngà say. Hôm ấy ông thức khuya bên đĩa đèn dầu trám, ngồi rót rượu uống một mình trong đêm thu tịch mịch, có lúc ông cầm mãi chén rượu, nước mắt lã chã rơi xuống.

Sau bữa rượu ấy, mấy hôm bác phó Chiểu thấy ông già như người tâm trí để ở đâu. Bữa ǎn, bác ngồi hầu cơm thấy ông cụ vẫn gắp mà không biết mình ǎn gì. Rồi bất ngờ buổi sáng hôm ấy, ông Dần đi dạo hồi lâu quanh vườn, khi trở vào bước lên hiên nhà, ông gọi: "Hồng ơi, con đặt cho ông ít cơm nếp". Trong lúc con bé ra giếng lúi húi vo gạo, ông cụ mài mực, và đem một tệp giấy ra bàn rồi bắt đầu vẽ. Hôm sau rồi hôm sau nữa, ông vẫn mải miết vẽ từ sớm đến chiều. Ngày tiếp ngày ông cụ vẽ không còn biết gì giờ giấc, thường đến bữa ǎn, cô bé câm phải ra kéo vạt áo ông làm hiệu, ông mới nhớ. Ông cụ vẽ trên giấy bản hết tờ này đến tờ khác, có bức đậm nhạt đen trắng, có bức nhiều mầu, ông thường nằm võng rất lâu, mở mắt mà như không trông thấy gì, có lúc nhắm mắt như ngủ, rồi thình lình nhỏm dậy ra bàn cặm cụi trên tờ giấy. Mỗi buổi chiều, khi ông cụ buông bút vào nhà, những tờ tranh vẽ trong ngày vẫn bỏ trên mặt bàn, mặt chõng, có hôm tranh rơi cả xuống đất, bay cả ra vườn. Bác thợ may lại cùng đứa con gái đi nhặt từng tờ một đem lên nhà trên cất kỹ. Và tối khuya khi ông cụ đã tắt đèn đi nghỉ thì ở nhà trên hai bố con thắp mấy cây nến đem những tờ tranh ra xem. Bác Chiểu thấy ông cụ vẽ nhiều cảnh, nhiều người, nhiều nơi chốn rất khác nhau. Có núi, có biển, có sông ngòi, có rừng, có bãi, có đồng ruộng, làng xóm đình chùa, có bến sông thuyền bè, có hàng quán nơi phố chợ. Có tranh chỉ vẽ một đóa hoa cúc, một tảng đá, một bụi lau, một con chim đang rỉa cánh, có tranh vẽ một đàn ngựa thồ đang leo dốc, có tranh vẽ mấy con trâu đang đầm mình dưới hồ, có tranh vẽ một đàn chim nhạn lượn trên một mái nhà tranh bốc khói hẻo lánh. Có cả nhiều cảnh vui, buồn cười, trẻ con chơi nhảy dây, ông thầy bói ngồi bên bình vôi dưới gốc đa, bên chuồng lợn một bà vén váy hốt hoảng vì con rắn trườn qua dưới đất, mấy cô gái ở trần tắm dưới đầm sen, mấy người đàn ông đóng khố trên chiếc bè gỗ đang chống sào vượt dòng nước xoáy, hai anh đô vật, một anh nắm chiếc khố anh kia nhấc bổng lên. Mỗi lần giở một tờ tranh, bác thợ may lại xuýt xoa không biết ông cụ đã đi những đâu bao nhiêu nơi. Con bé câm ghé bên cạnh, nét mặt nhanh nhẹn khác ngày thường, có lúc bật cười, có lúc môi chúm lại, có lúc hai mắt sáng lên, long lanh trong ánh nến. Bác phó Chiểu bỗng thấp thỏm thầm nhận ra là đứa con gái bác không dở người, nó biết cả, chỉ không nói được.

Gần một tháng trời như vậy, mỗi buổi sáng con bé Hồng vẫn đun nước pha trà cho ông cụ rồi ngồi nín lặng ở bậc cửa. Hai ông cháu bây giờ đã thuộc tính nhau. Con bé cứ ngồi đợi, khi nó thấy ông cụ đến kéo chiếc ghế đẩu trước bàn vẽ, nó cũng đứng lên, khẽ đến phía sau. Ông Dần cũng đã quen như vậy, ngồi vẽ, ông biết có đôi mắt đứa bé lặng im nhìn theo từng nét bút của ông.

Bữa ấy buổi sáng trời hiu hiu nhiều mây. Ông Dần nằm không nhúc nhắc trên chiếc võng, tay chân như đâu mất. Hình như tất cả thân thể ông nhẹ bỗng. Ông nằm nhắm mắt không nghĩ gì rõ nữa. Hình như ông vừa lịm đi lâu lắm, hình như ông vừa chợp ngủ. Ông choàng mở mắt và thấy đứa bé câm đang bưng chiếc khay trà đứng ở bên võng. Ông Dần ngồi dậy, rót nước trà, tay run rẩy cầm chiếc chén, ông nhắp một ngụm thơm nóng. Con bé vẫn đứng hai tay bưng chiếc khay, miệng như khẽ mấp máy và ông Dần thấy hai mắt đứa bé nhìn ông, đôi mắt đen chưa gợn một chút bụi của cuộc đời đang nhìn ông với niềm thương không lời nào nói được. Trời ơi! Ông Dần đứng dậy, bước tới chiếc chõng tre và bảo: "Cháu lại đây! Ngồi đây! Hôm nay cháu mài mực cho ông".

Bên chiếc chõng, ông già và đứa bé hí hoáy với hàng chục chiếc đĩa bát nhỏ đựng các thỏi mực, thỏi son, các loại bột nhiều mầu sắc, các miếng vỏ cây, rễ cây, củ khô mà chỉ có ông già biết. Con bé câm hai mắt sáng vui sướng làm theo lời ông cụ chỉ dẫn, đã bao nhiêu ngày nó nhìn và thuộc cách ông cụ mài mực pha mầu rồi.

Ông Dần vào nhà tìm một khung lụa to, đem ra đặt kín mặt chiếc bàn. Ông chưa biết mình sẽ vẽ gì, chỉ cần có cái khoảng trống mịn trước mặt, nhìn vào đấy, ông như đến trước khoảng không vô tận đang đợi ông. Trong đầu lâng lâng thanh thản, ông thấy như đang ở nơi nào rất xa, trên cao phóng tầm mắt nhìn trùng trùng điệp điệp những dải đồi, những lớp núi mãi không hết. Ông nhìn mãi, có lúc đã cầm lấy cây bút lông xoay xoay trong tay một hồi lại bỏ xuống. Cả ngày như vậy, khung lụa vẫn trắng nguyên.

Hôm sau ông Dần vẫn chưa vẽ gì. Gần đến bữa trưa, ông bảo con bé: "Hôm nay cháu cho ông bát nước cơm". Hai ông cháu ngồi ǎn dưới đất ngay cạnh bếp. Ông cụ bưng bát nước cơm nóng uống từng ngụm, thốt lên: "Thơm quá! Ngon quá! Không gì bằng được hạt gạo giời cho, cháu ạ!". Ông ǎn một bát cơm với muối vừng rồi ra võng nằm nghỉ. Buổi chiều, ngồi trước khung lụa, đôi mắt nhǎn nheo của ông như xa đi trong một nỗi buồn thương lặng lẽ. Con bé ngồi phía sau sợ hãi không dám thở mạnh. Tới lúc nó thấy ông cầm bút chấm vào một bát nước mầu rồi vẽ lên bức lụa một đường mảnh như một làn sóng. Ông cụ bỏ bút đứng dậy, đến dắt tay con bé, dịu dàng vuốt tóc nó "Thôi, ông cháu ta nghỉ thôi".

Nét sóng ấy buổi sáng hôm sau đã thành một mỏm đồi thoai thoải, sườn đồi trơ trụi đất sỏi, đây đó rải rác mấy tảng đá. Một vệt đường mòn lượn từ trên đồi xuống đến một bãi cỏ. Nền trời bên trên mỏm đồi âm u, những vùng mây lớn cuộn lên xô đẩy nhau, trông mênh mông dữ dội. Con bé Hồng đứng cạnh ông già từ lúc nào, hai mắt nó náo động nhìn những đám mây bay cuồn cuộn. Ông già quay sang, gật đầu nói rất khẽ "Trên này gió lắm..."

Buổi chiều, ông Dần miệt mài vẽ tiếp. Trên mỏm đồi, đầu vệt đường mòn, hiện dần lên một cây mai già, thân cây đen sắt lại, những cành cây vươn lên gân guốc, trần trụi. Những cành cây tỏa ra nhiều nhánh thanh mảnh dần. Ông già thở một hơi dài, dừng lại thay bút, mặt ông đỏ hồng lên, những cành cây gầy dần lốm đốm những điểm hoa trắng giữa những chồi lá biếc non, tất cả như đang rung lên trong gió. Đứa bé câm đứng mở to mắt, hai bàn tay nó xòe ra, như muốn nhúc nhắc múa. Nó im lặng cười một mình, chạy ra bếp, xắm nắm đun nước để pha một ấm trà mới. Khi nó bưng khay đến bên ông cụ thì trên bức tranh gần bên cây mai đang hiện lên một cô gái. Cô mặc áo cánh bông, trên đầu đội chiếc thúng, cô bước đi trên vệt đường từ mỏm đồi xuống. Ông Dần vẫn luôn thay bút, bàn tay ông đưa rất nhẹ và mặt cô gái rõ dần mũi, miệng, đôi nét lông mày rồi đến hai con mắt đen. Con bé Hồng tròn mắt, nó nhận ra cô gái đúng là nó nhưng lại lớn hơn, đã chừng mười bảy, mười tám tuổi. Đôi mắt cô gái trong tranh như đang lạ lùng vì những gì cô đang nhìn thấy. Ông Dần cầm bút quay lại nhìn đứa bé câm, ông mỉm cười lấy ngọn bút chỉ vào nó rồi chỉ vào cô gái trong tranh và đỡ lấy cái khay. Con bé Hồng hai mắt như có ngấn nước chạy quanh.

Cả ngày hôm sau, ông già vẽ bãi cỏ rộng dưới chân đồi. Ông thay bút luôn, chấm mầu đưa nét rất nhỏ, những ngọn cỏ xanh nõn cứ mọc lên dần trước mắt, tỏa một vùng sáng dịu. Có lúc ông dừng lại nói chuyện với đứa bé. "Cháu ạ, lá cây ngọn cỏ nó cũng sinh nở, sống chết, nó cũng có hồn của nó. Giá mà giời cho ông sống được đến trǎm tuổi thì may ra ông vẽ được hồn chúng nó đấy". Con bé câm hớn hở nhìn những chấm nhỏ tim tím hồng hồng. Ông già lại quay sang: "Hoa nghệ rừng đấy". Những đốm tím hồng vẫn dần lan rộng mãi. Ông già cười nói: "Cháu xem có ông hoàng bà chúa nào được mặc đẹp như một bông hoa dại này không!". Cả một vùng bãi cỏ xanh non lúc này ánh hồng lên, mỗi đốm hoa ngọn cỏ như mủm mỉm nói: Bây giờ là mùa xuân rồi.

Bức tranh đã hình thành, mấy ngày sau, ông Dần chỉ nằm võng, thỉnh thoảng mới ra bàn lấy bút điểm thêm hoặc xoa đi một hai nét. Bữa ấy, ông lấy chai rượu, ngồi rót uống một mình, thấy con bé Hồng đang ngồi nhóm bếp, ông gọi: "Hồng lại đây". Đứa bé rụt rè bước đến. Ông già cười: "Hôm nay cháu lại cho ông ǎn cơm nếp nhé. Cháu ngồi đây. Cháu có thích bức tranh này không? Ông cho cháu đấy. Cháu rồi như cô gái trong tranh này, đừng sợ gì cả". Ông già ôm đầu đứa bé gái, đôi mắt ông nheo lại phảng phất những ý nghĩ xa xôi. Mùa thu đã đến những ngày cuối cùng. Đêm ấy nổi gió mùa, cả một dải ven sông ào ào không ngớt cho đến sáng. Trời đột ngột trở lạnh.

Ông Dần nặng nhọc ra ngoài hiên. Cũng như mọi ngày đứa bé câm đã ngồi bên bếp, đợi ông ra để đun nước pha ấm trà buổi sớm. Ông Dần ra nằm võng, hai mắt ông nhìn nhòa đi dần. Ông thấy trên mỏm đồi xa xa, cây mai già tỏa một vùng hoa trắng rung động trong gió. Đôi mắt đen nhìn ngỡ ngàng. Ông bay đến bãi cỏ, ông bước lướt trên mặt cỏ xanh non đẹp quá, chung quanh ông những đốm hoa óng ánh, những đốm sáng hồng vẫn bay khắp bốn bề, ông ngồi xuống sờ lên những núm cỏ, ông muốn nói gì mà không nói được, ông cũng không muốn nói gì nữa, cả người ông nhẹ bỗng, ông bay lướt đi, chân không còn chạm đất, tất cả mờ dần mờ mãi...

Đứa bé câm bưng chiếc khay đến, thấy ông cụ hai mắt nhắm nghiền, đầu ngật ra ngoài võng, không còn động đậy. Con bé mở to mắt kinh hoàng, miệng nó mấp máy, cả người nó run bắn, cái khay rơi xuống đất, nó thét lên một tiếng dài. Bác phó Chiểu từ trên nhà hớt hải chạy xuống, thấy đứa con gái đang ngồi sững bên chiếc võng, bỗng nó bật gào lên: Ông ơi! Ông ơi!

Vì tình

Vì tình
Thế Lữ

Anh Trần Văn quả không phải là người đẹp trai. Độc giả hãy tưởng tượng một người trạc hai mươi lăm, nước da đen, mũi to nhô đại ra ngoài, cái trán cũng nhô trông như cái bứu, đôi lông mày rất rậm, làm cho cặp mắt cận thị của anh ta có một vẻ dữ tợn đến kỳ khôi. Anh ta ăn mặc quần áo tây, nhưng người lùn mà cả ngang, dáng đi láu táu trông rất ngộ nghĩnh. Cả người anh ta cái gì trông cũng buồn cười.

Tôi yêu bạn tôi đến đâu cũng phải nhận rằng bạn tôi trông xấu quá!

Văn cũng tự biết thế. Có khi anh lại tự chế giễu mình để làm bạn hữu vui cười. Nhưng anh ta là một người tính nết thật thà, dễ tin người và có một tấm lòng tử tế hơn ai hết thảy.

Tôi lại phải nói cho độc giả hay rằng con người giản dị, thực thà kia lại là người đa tình nữa. Chẳng biết đó có phải là điều “mai mỉa của số mệnh” không ? Chỉ biết bạn tôi biết yêu, mà yêu say, yêu đắm, yêu thiết, yêu tha; tình yêu trong huyết mạch người con trai này sôi nổi như sóng bể. Nhưng trong bao nhiêu thiếu nữ mà anh ta ca tụng nhan sắc, anh ta không được lấy một cô nào để ý đến mình. Cái đó cũng không lấy gì làm lạ.

Ấy vậy mà anh Văn cũng có một chuyện tình, hay một chuyện mà anh sẵn lòng gọi là một chuyện tình thì đúng hơn. Câu chuyện thực chẳng hay gì cho anh ta, nhưng bạn tôi không muốn quên, mà mỗi khi nhắc tới, lại ra ý cảm động như người âu yếm vuốt ve một điều dĩ vãng êm ái.

Đầu đuôi câu chuyện như thế này:

Tháng chạp năm ấy, anh Văn lên Yên Bái thăm một người bà con. Lúc trở về anh gặp một người thiếu nữ, ăn mặc giản dị, người rất đẹp và rất có duyên, cùng đi với anh ta trên một chuyến xe hỏa.

Người ấy ngồi ngay ghế trước mặt Văn, khiến cho anh chàng mở một quyển sách ra, nhưng không đọc được câu nào hết. Văn là người nhã nhặn lễ phép, nên không dám nhìn lâu, sợ người thiếu nữ ngượng. Anh ta thỉnh thoảng mới khẽ kín đáo trông lên, để cho mắt được hưởng cái nhan sắc kia trong giây lát thôi. Cái lòng yêu mộ của bạn tôi thì thực nồng nàn, song chỉ biểu lộ ra đến thế là hết. Vả anh ta biết rằng mong hơn cũng chẳng được nào. Người thiếu nữ thì trắng trẻo thế kia, yêu kiều thế kia, trên khuôn mặt thanh tú ấy không chỗ nào đáng chê, còn mình thì…. ôi chao! Bạn tôi chép miệng thở dài một cách rất chua chát.

Rồi anh ta nghĩ bụng: "Giá mình được là người quen với con người nhan sắc như thế cũng đủ lắm rồi !”.

Anh ta bèn cố tình, đợi dịp làm quen. Thì may sao cái dịp may ấy hiện ngay đến sau khi người thiếu nữ ra cửa toa để nhổ quết trầu.

Xe hỏa về ngày gần Tết, nên rất đông; lúc cô kia ở cửa toa trở vào thì đã bị hai bác nhà quê chiếm mất chỗ. Người thiếu nữ thấy họ ra chiều không nể vì ai hết, nên không nói gì, chỉ cau mày vịn tay lên mép cửa sổ gần đấy đứng nhìn ra cảnh tượng bên ngoài.

Văn ngồi bên này tức hộ cô kia, liền mắng cho mấy bác đàn ông vô lễ mấy câu ra phết lắm. Đoạn anh ta đứng dậy, đến bên người thiếu nữ, lúng túng một chút, rồi mời cô ngồi xuống chỗ mình. Người thiếu nữ không từ chối. Cô ta vén áo ngồi xuống lại cảm ơn anh Văn bằng một nụ cười. Thế là đủ cho bạn tôi bay lên chín tầng mây.

Anh Văn đứng bên người thiếu nữ, không giấu được sự vui mừng. Anh ta lấy dáng bộ rất tình tứ, làm như mình chẳng lùn một tí nào hết, và quên bẵng đi rằng mình hiện làm chủ nhân của một cái “mũi sư tử”, đôi mắt cận thị với cái trán gồ. Nhưng dẫu cho bạn tôi có nhớ đến cái xấu đáng giận của mình cũng không hề gì mấy, - anh ta vẫn sung sướng được, bởi vì người thiếu nữ hình như không trọng bề ngoài lắm, và hình như chỉ cảm riêng vì tấm lòng quý báu của anh Văn tôi.

Coi lối ăn mặc nhã nhặn của cô ta, Văn đoán là người nền nếp ở tỉnh nhỏ. Thế thì cô ta không có cái thói đỏng đảnh khinh người như bọn tiểu thư Hà Nội, họ chỉ ưa chuộng những công tử tốt mã bề ngoài. Anh ta lại thấy cô kia đi có một mình, nên mới lấy thú giọng bao dung và rất nhã nhặn mà hỏi:

- Thưa cô, cô đi đâu?

- Thưa ông, em xuống Hà Nội

- Thưa cô, cô xuống chơi hay có việc?

- Thưa ông, em xuống hỏi nợ một người chịu tiền hàng.

Rồi cô ta lại hỏi Văn:

- Ông cũng về Hà Nội ư?

- Thưa cô, vâng.

Thế rồi câu chuyện của hai người cứ thân thiết hơn, đằm thắm hơn lên, và con mắt đắm đuối của người thiếu nữ thêm lóng lánh, thêm tình tứ…

Anh Văn thấy chưa thấy bao giờ mình có duyên đến thế.

Anh ta cười bằng miệng cười xinh đẹp nhất, hắng giọng luôn để đỡ cảm động, và cứ chớp hoài đôi mắt cận thị để cho mình biết chắc rằng đây là sự thực, chứ không phải trong giấc mơ. Người bạn tốt của tôi thật không ngờ rằng lại được hưởng những giây phút êm đềm quá đáng ấy.

Mà cái hạnh phúc mỗi lúc một tăng lên ! Một lần tàu đỗ, hành khách lên ít, xuống nhiều. Người thiếu nữ lại ngồi nhích ra một bên để cho Văn ta được ngồi cạnh. Lại là một lần khác, người thiếu nữ đánh rơi chiếc khăn tay lụa, anh Văn nhặt lên hộ, lúc trả, được chạm đến bàn tay ngà ngọc của mỹ nhân. Rồi lại được mỹ nhân mời ăn trầu. Văn răng trắng, diện tây, nhưng cũng nhận lấy một cách lịch sự.

Anh ta cứ hết lòng cảm tạ sự tình cờ đã làm cho anh gặp được người thiếu nữ, và trong trí đã thấy trước những chuyện tình duyên êm ái sau này. Có một người nhan sắc để mà yêu ! để mà nhớ thương ! để mà mong đợi đến cái ngày tốt đẹp kia là ngày được cùng sánh vai người ngọc! Ôi, còn gì sung sướng cho đời người hơn! Anh Văn thường ngõ riêng với tôi rằng: “Tôi xấu thế này, chỉ mong lấy được một người có duyên thôi, thế cũng đủ mãn nguyện”. Thế mà người thiếu nữ kia đã có duyên, lại đẹp, lại sắc sảo, lại lễ phép, lại con nhà nền nếp, đủ mọi điều hay ! Mà lại còn tỏ ra lòng quyến luyến anh Văn nữa kia! Cho nên một lời nói của cô ta, một cử chỉ của cô ta, cùng những ý tứ ở đầu mày cuối mắt cô ta, đã khiến cho trí tim bạn tôi nhiều lần đập mạnh lên dữ dội.

Ngồi bên một người đẹp như thế thì đường dài đến đâu cũng là ngắn. Chả mấy chốc, xe lửa đã tới Gia Lâm.

Rồi qua cầu.

Rồi qua ga Đầu Cầu

Mọi người đều thu xếp để xuống. Người thiếu nữ buộc lại khăn vuông ra đằng sau gáy rôì đến đứng bên một cái va – ly hòm là hành lý của cô ta. Anh Văn lại bên hỏi:

- Cô có ai ra đón không?.

- Thưa ông, không ạ!

Văn mừng thầm rằng sẽ được dịp xách hộ va – ly. Anh ta lại nói:

- Từ Hàng Đa đến cửa Nam cũng gần, vậy trước khi ngược Yên Bái cô ghé qua vào chơi nhà tôi.

- Xin vâng.

Người thiếu nữ lúc ấy đưa đầu ra ngoài cửa sổ trông về phía ga.

Tàu dần dần chạy chậm lại. Văn đang tìm câu gì nói nữa, bỗng nhiên cô ta quay lại, tái mặt đi. Văn ân cần hỏi thì cô ta gượng cười đáp:

- Em đi tàu không quen, nên vừa đứng dậy đã chóng mặt…

- Thế mà tôi cứ tưởng cô phải cảm….Nhưng cô ngồi xuống, không mệt thêm.

Người thiếu nữ ngồi xuống, mỉm cười nhìn Văn bằng đôi mắt mệt nhọc, dịu dàng và… âu yếm. Văn sướng quá, đỏ cả mũi, lần hết túi ba - đờ - suy đến túi áo trong định tìm một vật mà không thấy, rồi phàn nàn:

- Buồn quá! Tôi bỏ quên lọ dầu ở nhà ông bạn rồi. Không thì cô lấy một chút xoa cũng đỡ.

- Nhưng không hề gì cả! Em chỉ choáng có một chút thôi,

- Tuy thế cô cũng ngồi yên đấy để tôi mang hành lý xuống trước đưa cho mấy người nhà đứng đợi ở ga rồi tôi lên đón cô sau.

Người thiếu nữ tỏ ý mừng rỡ và cảm ơn Văn, nhưng cũng nói:

- Như thế phiền ông quá.

- Không. Nào! Cô có những gì nào?.

- Em chỉ có cái va – ly đó thôi. Nhưng phiền ông quá.

- Không, có gì mà phiền. Tôi đi không cũng thế

Lúc ấy tàu vừa đỗ.

Cái va – ly nặng lắm mà Văn ta làm ra bộ rất khoẻ, coi như rất nhẹ, rồi hăng hái xách bước xuống sân ga. Bấy giờ thì anh ta cao lớn lực lưỡng lắm.

Người thiếu nữ đứng trông theo Văn, tay bóp thái dương. Anh ta thấy mỏi cánh tay mà chưa dám nghỉ vội.

Đi đến gần lối ra hạng ba, anh ta mới dám đặt va – ly xuống. Đợi một chút mà đám người chen chúc trước mặt vẫn không chịu tiến lên. Văn nóng ruột hỏi một người đi cạnh mình:

- Sao đứng cả lại thế này?

Người ấy trả lời:

- Họ khám hành lý.

Văn quay lại thì người thiếu nữ chắc đã ngồi xuống, trông qua cửa sổ xe hoả không thấy gì nữa…Văn sợ cô ta đợi lâu quá liền cố sức lách lên trước thì bị mấy người đội đoan cản lại, bắt đưa va – ly cho họ xem.

Một người lính đoan bảo Văn:

- Chúng tôi vừa nghe tin báo có người đem thuốc phiện lậu đến Hà Nội nên phải khám hành khách.

Văn mỉm cười, đáp:

- À, tưởng gì.

Vừa nói dứt lời, thì cái va – ly người thiếu nữ gửi, mở tung ra, trong thấy đầy hộp bằng đồng, gắn kín và to bằng quyển sách dầy một.

Một người đội quan toan cười gằn, nói bằng tiếng Pháp:

- Lần này thì anh không thoát được tay tôi.

Văn chưa hiểu sao thì bị người ta điệu về sở Thường Chính.

Tuy rằng bạn tôi hết sức phân trần rằng mình là con nhà lương thiện, không bao giờ làm điều trái phép. Nhưng không ai tin. Các va – ly thuốc phiện lậu đó là cái cớ buộc tội rất hùng hồn.

Anh ta khai rằng anh ta quá tin người, rằng người ta lợi dụng mình; song nhất định không chịu nói rằng là một người con gái.

Nhờ nhiều người có thế lực che chở nên Văn mới được tại ngoại hậu cứu, sau khi bị giam đến gần nửa tháng, - từ hăm ba tháng chạp tới mồng mười tháng giêng. Đến lúc ra tòa anh ta mạnh thầy cãi, nên chỉ bị phạt có hai tháng tù án treo với bồi thường cho sở Thương Chính ba nghìn bạc.

Tuy vậy, tôi cũng được nói chuyện nhan sắc ấy… hơn hai tiếng đồng hồ.

Ba hạt dưa

Ba hạt dưa
Nguyễn Khắc Cường

Không phải giặt đồ, không lau nhà, muốn ăn cơm lúc nào cũng được - khỏi rửa chén, đi chơi khuya có người chờ cửa... từ nay Tín chỉ có việc ăn, học, ngủ và đi chơi. Sướng gì đâu!

Sáng chủ nhật, Tín có thể ngủ nướng đến chín giờ rưỡi, lúc thò chân xuống giường chỉ cần nói:

- Tín muốn ăn hủ tíu!

Là có tiếng đáp:

- Cậu chờ chút, em đi mua liền đây!

Và cũng như mấy lần trước, Tín thốt lên:

- Trời ơi, bỏ giùm tôi chữ “cậu” đi, nghe giống trong cải lương quá!

Cô gái dạ lí nhí trong miện rồi lui xuống bếp. Phải hơn một tuần sau, Lọ Lem (biệt danh của cô gái ấy mà!) mới thôi không gọi là cậu. Hai ngày tiếp theo, Lem ngượng miệng, tránh mở lời với Tín, bất đắc dĩ phải giao tiếp thì nói trổng không. Ðến ngày thứ... n, đứa con trai lộn xộn này mới được kêu bằng “anh Tín”.

Ðúng vậy, Tín là đứa con trai lộn xộn nhất trên đời. Ðó là phát biểu của... “sư mẫu”. Mấy bữa trước thấy Tín thức đêm thức hôm học bài, “sư mẫu” chép miệng:

- Thôi, đi ngủ đi con, học khuya quá bịnh à!

Lợi dụng lúc “sư mẫu” đang xuống nước nhỏ, Tín... rên:

- Con cũng muốn học bài sớm, nhưng mà... còn phải giặt đồ, đi chợ, lau nhà, nấu cơm. Má nghĩ có nên mướn một người giúp việc không? Năm nay con học lớp 12 rồi, thầy cô cho bài nhiều quá...

Tín vừa mới nghĩ ra ý này thôi, và chỉ định nói chơi chơi, ai dè má “à” lên một tiếng rồi ra vẻ đăm chiêu. Dường như lúc này “sư mẫu” mới có dịp “nhìn lại” đứa con trai cưng. Ai nói con một là sướng? Má đi bán, ba đi làm suốt ngày, Tín “thầu” hết công việc nội trợ. Con trai vo gạo, giặt đồ riết hai bàn tay mềm nhũn, tội nghiệp ghê!

Thế là ba bữa sau Lem xuất hiện trong nhà này. Chẳng biết mỗi tháng “sư mẫu” trả cho Lem bao nhiêu tiền mà cô bé làm việc không ngớt tay, từ sáng đến tối. “Sư mẫu” gật gù, nhỏ này làm được, chỉ tội... hay khóc!

Mỗi lần Lem khóc là Tín muốn rơm rớm theo. Chịu không nổi! Chẳng thà òa lên một trận như mưa rào, đàng này, Lem cứ thút thít trong bếp, giữa đêm khuya. Tín ngồi học bài mà cứ nghĩ đâu đâu. Lem khóc vì nhớ nhà, hay Lem đói bụng? Lem có sợ chuột không? Lem sợ bị “sư mẫu” rầy?... Hôm sau Tín lại có đề xuất mới: Má à! Hay là cho con nhỏ này nghỉ đi! mới 16 tuổi mà đi ở mướn xa nhà, con thấy tội quá! Má đang ngồi đếm tiền, bực mình quát: “Thôi đừng có lộn xộn!”

Còn ba thì ôn hòa hơn, bảo chẳng qua đây chỉ là sự phân công xã hội. Mỗi người một nghề. Lem giúp việc cho nhà mình để ba má rảnh tay đi làm kiếm tiền về... trả lương cho nó. Bây giờ mà để Lem về quê, không có cơm ăn, còn tội hơn! Tín thở dài như ông cụ non.

... Trước khi đi học, ông cụ non căn dặn:

- Nhớ khóa cửa cẩn thận nghe chưa Lem, ở thành phố có nhiều ăn trộm lắm đó! Lau nhà, rửa ly tách, xong việc nếu còn buồn thì lấy sách của anh ra đọc, hoặc là lên In-tẹc-nét chơi...

Lem thốt lên:

- Em sợ té lắm!

- Cái gì? Lên In-tẹc-nét chứ bộ lên nóc nhà sao mà té! - Rồi Tín phá lên cười, sực nhớ con nhỏ này chỉ mới học lớp 4 dưới quê. Tín khoát tay – Thôi, rảnh quá thì đi ngủ cũng được. Nhưng nhớ là đừng giặt thau đồ của Tín, để đó về anh giặt.

Tín vừa phóng xe đi, Lem đã vội vã... gom quần áo của Tín đem giặt. Nhỏ mở rôbinê hết cỡ, nước tuôn ào ào. Bỗng tiếng chuông điện thoại réo vang, Lem giật thốt mình, hai tay ôm ngực. Có lẽ đây là lần đầu tiên Lem nhìn thấy cái điện thoại nổi điên, nó cứ reo từng hồi dồn dập, gấp gáp. Nhỏ suỵt suỵt mấy tiếng mà nó vẫn reo. Tức mình, Lem vớ chiếc dép định chọi một phát thì tự nhiên nó im bặt. Lem thở phào, nhủ bụng ăn trộm thành phố cũng biết sợ người nhà quê!

Tín đi học về thấy quần áo mình phơi đầy trước ngõ, anh chàng cáu tiết chạy xộc vô nhà, nói như quát:

- Người ta đã dặn rồi, sao còn...

Lọ Lem òa lên khóc ngon lành:

- Nhưng lần này em giặt kỹ lắm mà...

Tín đâm bối rối, chẳng biết nói làm sao. Trời ơi, ngốc ơi là ngốc, Lọ Lem ơi là Lọ Lem! Ðồ con trai... mới lớn ai lại để cho con gái... mới lớn đụng đến, kỳ thấy mồ! Mấy thằng bạn Tín mà biết được sẽ đồn rùm lên cho coi.

Tín dè dặt nói:

- Lỡ rồi, khóc hoài lụt nhà bây giờ! Lần sau nhớ quần áo của Tín để đâu thì để đó nghe chưa!

Chắc Lọ Lem còn tủi thân khóc đến chiều nếu cái điện thoại không đột ngột lại “nổi điên”. Vẫn bằng cái giọng làm giật mình ấy, nó réo lên. Lần này thì Lem đã có kinh nghiệm, nhỏ nhẹ nhàng tháo chiếc dép cầm trên tay, bước rón rén đến gần cái điện thoại. Tín kinh ngạc:

- Chuyện gì vậy?

Lem nói không ra hơi:

- Nó... nó đó... !

- Nó nào?

- Ăn... trộm...

Tín thản nhiên bóc ống nghe lên. Ở bên kia đầu dây có tiếng “sư mẫu”:

- Ở nhà có trộm hả con?

- Dạ đâu có.

- ...

- ...

- Ăn cơm xong nhớ biểu Lọ Lem lấy dưa hấu trong tủ lạnh cắt cho con ăn nghen!

- Má ơi, con lớn rồi – Tín cằn nhằn.

- Lớn rồi mà còn dại lắm! Chiều hôm qua con chở Lọ Lem đi đâu vậy?

- Thấy nó ở trong nhà hoài, bức bối quá, nên sẵn đi mượn tập ở nhà bạn, con chở nó đi dạo một chút!

- Tết nhứt đến nơi mà còn đi dạo! Con đừng quên nó là người giúp việc!

“Sư mẫu” gác máy cái cụp. Tín thấy gương mặt Lọ Lem nghệch ra, tội ơi là tội!

... Tết nhứt đến nơi nên đôi tay Lọ Lem không được nghỉ một phút. Vừa lặt lá mai xong là phải chạy vô nhà tháo rèm cửa đem giặt, lại còn chùi lư, lau cửa kính... ngán nhất là đống dưa hành củ kiệu “sư mẫu” mua về để trong bếp chờ Lem. Sợ nhỏ quên, mỗi sáng trước khi đi bán, “sư mẫu” ghi một danh sách dài những việc cần làm dán lên cửa. Lem làm xong việc nào rồi thì lấy bút chì đánh dấu chéo.

Lúc này Tín cũng không có thời gian chở Lem đi dạo, đơn giản vì anh chàng bận thi học kỳ. Một đống bài tập tích phân còn thấy ngán hơn dưa hành củ kiệu. Tín vẫn thức khuya học bài như dạo trước, có đỡ hơn là không còn bị nghe tiếng thút thít của Lọ Lem. Chắc Lem đã quen với ngôi nhà này, với cái điện thoại, tủ lạnh, quen không còn bỏ cái remote tivi vào giỏ rác như lúc mới đến. Và Lem cũng đã quen với “số phận ở dưới bếp” của mình. “Sư mẫu” nói như vậy còn sướng hơn ở quê, từ nhỏ đến lớn chỉ có một việc là đi bắt ốc. Ốc bắt riết cũng hết. Cả nhà không còn biết phải làm gì, ngồi nhìn nhau cho qua bữa.

Bảy ngày trong tuần, Tín tự nhủ dành ra một buổi giúp Lem làm việc nhà, ít nhất là mấy công việc cần đến sức vóc con trai như sơn cửa, quét mạng nhện, chỉ riêng việc dọn dẹp căn phòng bề bộn của Tín thôi cũng đủ mệt phờ. Thấy Tín lăng xăng, Lem vừa ngại vừa hồi hộp, chỉ sợ “sư mẫu” về bất chợt thấy đứa con trai cưng “bị con nhỏ người làm sai ngược lại” sẽ nổi trận lôi đình.

Tín bực mình nói:

- Sao em giống... má anh quá! Anh là con trai, lớn rồi, phải biết chia xẻ công việc nặng với con gái chứ!

- Nhưng mấy việc này đâu có nặng, em làm được mà!

- Anh biết, nhưng em đã làm nhiều rồi. Hãy nhìn vào kiếng mà xem, sáng mồng một con trai lớp anh đ ến chơi thấy em chắc chạy dài!

- Mặt em giống phù thủy lắm sao?

- Ưm... à... không hẳn là vậy. Nhưng nhìn một gương mặt hốc hác, bơ phờ, thiếu ngủ... chẳng thấy mùa xuân đâu hết!

Lọ Lem thẫn người ra. Thưở cha sanh mẹ đẻ đến giờ nhỏ đâu biết điều này. Lẽ nào mùa xuân lại... ở trên mặt mình?

- Ðó là chưa kể đầu năm ở nhà có gương mặt hảm tài, má anh rầy chết! - Câu này Tín nói giỡn, ai dè khiến Lem bủn rủn tay chân, nhỏ như muốn khóc:

- Em phải làm sao bây giờ?

- Dễ ợt! Bắt đầu từ bây giờ, em cứ tập... cười hoài cho anh.

... Nói đúng ra cười không phải là điều dễ, Tín nghĩ, có gì vui người ta mới nhoẻn môi được chứ. Với Lọ Lem, tết cũng như ngày thường thôi, có khi còn cực hơn vì phải rửa ly chén cho cả nhà tiếp khách liên tục.

... Tối giao thừa, Tín đi chùa hái lộc với “sư phụ, sư mẫu”, về đến nhà thấy Lọ Lem ngồi ngủ gục trong bếp, bên cạnh nồi thịt kho đang sôi ùng ục. Tín gọi khẽ:

- Dậy đi, cho em cái này nè.

Lem giật mình, ngó quanh quất như sợ “sư mẫu” trông thấy sẽ xui cả năm! Tín lấy trong túi ra một phong bao lì xì, khẽ khàng đặt vào tay Lem:

- Mở ra coi!

Trong ấy chỉ có ba hạt dưa.

Lem thật thà:

- Em đâu thích ăn thứ này!

Tín xúc động nói:

- Không có ba hạt dẻ, anh lì xì cho em... ba hạt dưa vậy. Em đã bước sang tuổi 17, khi nào chỉ có một mình, hãy nói ra điều ước đầu tiên của em...

Ðêm đó, Lọ Lem có một giấc mơ cổ tích. Ông bụt râu tóc như sương khói, tay cầm phất trần hiện ra mời Lem đi dạo, đến một nơi đông vui lắm, có cả ba má và mấy đứa em của Lem nữa. ai cũng cười, chỉ mình Lem không cười. Rồi tự nhiên ông bụt biến mất, trước mặt Lem lại là anh chàng Tín thường ngày. Tín ngồi trước máy vi tính, tay đặt lên con chuột, rủ Lem đi dạo trên In-tẹc-net. Lem rụt cổ, le lưỡi nói “Em sợ té lắm” rồi nhỏ bật cười. Lần này thì Tín reo lên:

- A, mùa xuân đã về!

Những điều khó quên

Những điều khó quên
Nguyễn Thị Kim Phượng

Tôi rụt rè theo chân ba đi trên hành lang của lớp, y như 1 đứa trẻ khi đuợc đưa đên lớp lần đầu thời tiểu học. Tôi hình dung ra trong lớp học với những guơng mặt nham nhở. Hay khó chịu khi tôi buớc vào lớp. Nuớc mắt tôi không còn tác dụng khi ba nhất định chuyển tôi về truờng này. Chợt ba kéo tay tôi đứng lại, truớc cửa lớp là hàng chữ:

Lớp 12C6 – 10B2, đúng là lớp của tôi. Tim tôi đập mạnh như muốn vỡ tung ra. Trong lớp có lẽ đã đông đủ. Thầy đang giảng môn Lý trên bục. Thấy ba tôi, thày tiến ra. Tôi lí nhí: ”Em chào thầy”. Thầy nhẹ nhàng gật đầu, trong lúc ba tôi đưa giấy giới thiệu cho thầy, tôi nghe nhiều tiếng lao xao trong lớp. Tiếng con trai nghe lanh lãnh:

- “Ma” mới tụi mày ơi, mà “ma nữ” chứ chẳng chơi nghe.

- Hì hì…”ma cũ” ăn hiếp “ma mới” đã đời…

Tôi thoáng rùng mình, thầy dẫn tôi vào lớp và nói:

- Ðây là Nhung, bạn mới của lớp chúng ta. Các em nhanh chóng tìm chỗ trống cho bạn ngồi. Thầy chủ nhiệm sẽ sắp xếp sau.

Tiếng nho nhỏ vang lên :

- Chỗ trống không có mà có chỗ mái không hà thầy ơi…

Một đứa con trai tóc đinh gọi tôi:

- Lại chỗ “anh” nè! Ngồi chung cho dzui…

- Ngồi chung với Bá Giang nè Nhung…

Những tràng cuời hóc búa vang lên, thầy cũng cuời nhưng nói:

- Các em giữ trật tự lớp xem nào. Cũng mới vào học nên tôi không nói, chứ sau thì đừng trách đấy nhé.

Thầy chỉ cho tôi một chỗ bàn đầu chẳng có ai ngồi bởi một bên ghế bị hỏng. Tôi im lặng lấy sách vở và tiếng ồn tạm lắng.

- Bá Giang! Sao mày nhìn con nhỏ hoài vậy! Lo học đi, không tao mách thầy đó.

- Tao có nhìn hồi nào đâu, mày xạo, nguời khác nghe đuợc là tao cho mày te tua luôn.

Tiếng thì thầm nghe đuợc làm tôi thắc mắc, con gái lớp này có 20 nguời, sao ai cũng hiền, ngược lại con trai nói nhiều và nghịch đến thế…

Khi hết tiết, tôi xếp tập vở lại. Một đứa con trai có khuôn mặt hồng hào như con gái tiến lại đối diện tôi rồi nói :

- Bạn tên Nhung hả? Ðọc tên, họ cho mình ghi vào danh sách để đưa tạm cho các thầy.

Tôi bối rối nói khẽ:

- Tôi tên Hồ Cẩm Nhung.

- Ê Bá Giang làm gì đó? Hì hì… đi xuống ngay không? Trời ơi làm quen nhanh vậy đó hả?

- Bá Giang ghê nghen, vậy mà năm ngoái nó hiền ơi là hiền.

Thì ra tên con trai truớc mặt tôi là Bá Giang. Hắn cuời ranh mãnh rồi đi xuống lớp.

- Bạn cho mình tên họ để ghi vào sổ…

Tôi ngạc nhiên, cũng là con trai nhưng nói giọng Bắc…Tôi nói:

- Mới lúc nãy bạn kia ghi rồi mà.

- Tụi nó giỡn với bạn đó. Vào lớp này học truớc sau gì bạn cũng hồn nhiên và nghịch ngợm như tụi nó. Tôi luôn bị thầy chủ nhiệm la bởi lớp nghịch và ồn.

Hắn là lớp truởng. Tiếng cuời nói râm ran cả phía sau làm tôi cảm thấy vui và phần nào yên tâm.

- Bạn từ truờng nào chuyển tới vậy? À mình tên là Thiên Nga.

Tôi nhìn nguời bạn gái đầu tiên lại hỏi chuyện với tôi sau buổi học thứ hai rồi nói:

- Nhung học ở truờng Văn Hiến nhưng ba không cho học ở đó vì phải ở trọ... Ở đây gần hơn, ba nói tiện lợi trong lúc học thi.

- Nhung thấy lớp này dễ thương hay dễ sợ vậy?

Tôi cười rồi đáp khẽ:

- Hổng biết nữa.

Tiết cuối giờ là tiết của thầy chủ nhiệm, tôi mới được biết thầy lần đầu. Thầy trên 40 tuổi, dáng nguời hơi ốm. Thầy ổn định lại lớp, thấy tôi cũng hơi nhỏ nên cho tôi ngồi bàn thứ hai. Cô bạn da ngăm ngăm nhưng xinh xắn lại cho tôi ngồi giữa. Tôi liếc nhìn phù hiệu của hai nguời ngồi cạnh, vậy là tôi biết đuợc trong lớp này có nguời tên Bá Giang, Thiên Nga, Thục Diễm và Thụy Hiền.

Dần dần, tôi thấy lớp không có gì là đáng sợ cả. Những câu nói thông minh và dí dỏm của các bạn làm không khí trong lớp sôi động hẳn lên. Có lần, tôi hỏi Diễm :

- Lớp mình các bạn nữ hiền quá hả Diễm.

Diễm lắc đầu:

- Hỏng có hiền như Nhung tuởng đâu. Chưa đến lúc đó thôi, chờ cho thầy cô để ý bọn con trai nghịch nói chuyện thì tụi này mới trổ tài đó. Nhung chờ xem đi.

Giờ Ðịa, thầy cầm tờ giấy lên kêu tên trả bài. Những tiếng nho nhỏ phát ra:

- Chết cha! Tao chưa học đuợc chữ nào hết.

- Ðừng “dò” thầy ơi, mới có mấy ngày đầu mà thầy.

- Ðừng ! Ðừng thầy ơi…á… chết em!…

Nhiều tiếng khúc khích vang lên. Thầy cũng cuời rồi trấn an:

- Im lặng hết chưa, em nào nói nữa tôi kêu lên ngay. Không thuộc là ăn zero ngay. Ðâu… Nguyễn Trương Hoài Thương lên đây nói cho thầy nghe bài em học tuần rồi đi.

Một đứa con trai trắng trẻo buớc lên. Thầy trợn mắt rồi cuời:

- Ủa! Con trai chứ hỏng phải con gái hả, tên nghe “kêu” ghê.

Cả lớp cuời rần. Thầy hỏi hắn:

- Thuộc bài không em?

Hắn ấp úng:

- Em chưa học thầy cho em nợ một lần.

- Chừng nào em trả cho tôi là phải có lời ½ điểm đó, về chỗ đi.

Thầy dò tên một lúc rồi nói :

- Bây giờ gọi một bạn nữ lên nữa nghen: Nguyễn Vàng Trâm.

Tiếng cuời khúc khích lại vang lên, thầy nhìn xuống rồi hỏi:

- Vàng Trâm đâu? Có đi học không? Còn em kia đứng lên làm gì?

Hắn ấp úng rồi đưa tay gãi đầu:

- Em tên Trâm.

Thầy cười làm cả lớp lại “ké” theo. Bảo hắn ngồi xuống, thầy than:

- Lớp gì đặc biệt ghê, tên con trai y hệt như con gái vậy?

Giờ ra chơi, cô bạn tóc ngắn ngồi đầu bàn thập thò chần chờ cản chân những ai bất cẩn đi ngang qua. Một tên kính cận vừa đi ra ngoài vừa cầm quyển sách đọc đột nhiên hắn la lên oái oái rồi lồm cồm đứng lên. Hắn định sừng sộ thì tiếng trong trẻo vang lên:

- Ê mọt sách, mọt sách… hung dữ nghen…

- Té đáng đời!

Hắn đỏ mặt đi nhanh.

Cầm quyển sổ. Thầy đọc cho cả lớp nghe. “Ðề nghị giáo viên chủ nhiệm có biện pháp. Các em nam nghịch phá trong giờ học”. Thầy nhìn xuống lớp rồi nói:

- Em nam nào nghịch phá trong lớp đứng lên cho thầy xem.

Lập tức một “gã đầu đinh” đứng lên:

- Em đâu có phá gì đâu thầy.

- Em không phá thì đứng lên làm gì?

- Ơ… em… em tên Nam, thầy nói em nghe hổng rõ.

Thầy nghiêm giọng:

- Năm học cuối rồi cố gắng mà học, còn thấy thầy cô nào ghi vào sổ “thành tích” của các em, tôi sẽ phạt cả lớp phơi nắng hết tiết luôn.

Thầy vừa dứt lời, nhỏ Diễn trợn mắt quay xuống :

- Tụi mi làm các chị "bị oan" là coi chừng đó nghen.

- Diễm – Thầy gọi – Quay lên, em vừa nói gì đó?

- Dạ… đâu có gì đâu thầy... hì hì…

Tiếng cuời của nhỏ làm thầy cuời theo, lớp học qua một giờ căng thẳng.

… Ngày nhà giáo, lớp của tôi với Trinh cầm hoa tặng thầy chủ Nhiệm. Thầy cuời tươi, có lẽ trong đời những ngày này khiến thầy cô cảm thấy ấm lòng nhất. Tụi học trò ngồi chung quanh thầy, có những bạn giỡ lung tung, thầy nói:

- Học trò gì đâu lớn hết rồi mà cứ như con nít lóc chóc quá.

- Vui mà thầy, vài năm nữa chẳng còn đứa nào mà giỡn hết.

- Chắc ngày xưa thầy cũng như các em hả thầy?

- Khỏang 4 năm nữa tụi em sẽ về dạy truờng này. Hi... hi... thầy với tụi em gọi là gì hở thầy?

Những câu hỏi tới tấp khiến thầy không kịp trả lời, thầy bắt qua chuyện khác.

- Các em thấy Bá Giang của chúng ta học thế nào?

Nhỏ Tuyền lên tiếng:

- Ghê lắm thầy ơi ! Năm ngoái “ổng” học dỡ òm hà. Tự Nhiên năm nay siêng không tuởng nỗi, biết sao không thầy? Tại lớp mình có ma mới đó. Thầy nhìn tôi bật cuời:

- “Ma” mới là em đó hả Nhung.

Căn nhà nhỏ bé của thầy tràn ngập những tiếng cuời. Giọng thầy đều đều:

- Học hành là trọng tâm nha các em. Vui chơi nghịch phá là không thể thiếu trong mỗi học sinh nhưng cũng đừng đi quá xa… Ðừng làm phiền đến thầy cô và ba mẹ lo lắng cho các em. Các em có nhất trí với thầy sẽ đậu tốt nghiệp hết 100% trong lớp không?

- Nhất trí, nhất trí - Tiếng la hét xen lẫn tiếng cuời. Thầy im lặng nhìn học trò của mình với đôi mắt ấm áp tình thương.