Wednesday, March 2, 2011

Thư Tâm Tình gửi các bạn thanh niên nam nữ

Thư Tâm Tình
gửi các bạn thanh niên nam nữ

Cùng các bạn trẻ thân mến,

Ba mươi năm chiến tranh kết thúc, nửa đời người sống lênh đênh nơi đất khách, chúng tôi xin mượn thời điểm này để bày tỏ đôi lời tâm huyết và gửi gấm đến các bạn.

Có lẽ các bạn đã đọc bài nói chuyện “Việt Nam Bên Bờ Vực Thằm” của Tiến sĩ Kinh tế Lê Đăng Doanh mấy tháng trước đây, trình bày toàn cảnh bức tranh bi đát của Việt Nam ngày nay. Đây là bài nói chuyện của một người từng làm cố vấn kinh tế cho nhiều đời Tổng Bí Thư và Thủ Tướng được ông Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng – Trần đình Hoan – mời đến trình bày cho các Ủy viên Bộ Chính trị biết thực trạng đất nước; chứ không phải là bài viết của một nhà dân chủ mô tả các mặt tiêu cực của chế độ để bi thảm hóa, bôi đen.

Nội dung bài nói chuyện cho ta một cái nhìn chuẩn xác: nền kinh tế suy thoái và đạo đức suy đồi hết thuốc chữa! Tình trạng này càng kéo dài càng băng hoại trầm trọng đời sống tinh thần và đạo đức của cả dân tộc. Nó sẽ làm cho công cuộc phục hồi các giá trị truyền thống khó khăn hơn khi chế độ dân chủ được thiết lập. Cho nên việc cứu nước không thể trì hoãn!

Ý thức được điều đó, nhưng chúng tôi đành thúc thủ vì tài trí lẫn sức lực thì bất cập. Do đó, chúng tôi mới phải viết bức tâm thư này gửi đến các bạn trẻ -- niềm hy vọng của tương lai.

Xin tự giới thiệu với các bạn, chúng tôi là lớp người sinh ra và lớn lên trên một đất nước nghèo khổ lạc hậu, vừa chấm dứt nạn Thực dân, Phong kiến thì tiếp đến cuộc chiến qua phân lãnh thổ, huynh đệ tương tàn do sự dằng co giữa hai thế lực Cộng Sản và Tư Bản. Cuộc thất trận của Miền Nam đã khiến cho hàng triệu người phải rời bỏ quê hương gặp không biết bao nhiêu tai họa làm chấn động lương tâm nhân loại, nhưng vẫn chưa đủ cường độ thức tỉnh chúng tôi rút ra được một bài học nào để đoàn kết thương yêu nhau. Ra đi tìm tự do, chúng tôi mang theo đầy đủ các tệ đoan của quá khứ. Chúng tôi mang trên mình nhiều thứ mặc cảm tự ti và tự tôn lẫn lộn, mà thứ nào cũng thái quá. Ấy là sản phẩm của một dân tộc bị nô lệ lâu ngày mà lại kiêu căng hãnh tiến về lịch sử có nền Văn Hiến bốn ngàn năm!

Trong quá khứ, chúng tôi được đào tạo thành người lính cho cuộc chiến tranh vũ trang – đòi hỏi bắp thịt – mà cứ tưởng mình khả dụng cho cuộc đấu tranh dân chủ thời nay -- đòi hỏi trí tuệ! Lại thêm, trong cuộc chiến vừa qua chúng tôi bị chỉ đạo chiến pháp tự vệ, phòng thủ thụ động, vì thế nó đã làm thui chột sáng kiến chủ động cho tình thế mới!

Thật vậy. Cuộc đấu tranh dân chủ thời đại này đòi hỏi trí tuệ, chấp nhận đối thoại để đi đến thỏa hiệp mà không hề sợ hãi bị đối phương lừa vì không ai có thể lấy “chất xám” ra khỏi đầu óc các bạn được. Từ 30 năm nay hầu hết các đoàn thể chính trị ở hải ngoại cứ lặp đi lặp lại một luận điệu: “Không thỏa hiệp, không hòa giải, không hòa hợp với cộng sản” giống như người đắp đê, nước càng dâng lên, đắp con đê càng cao; còn số phận đồng bào trong nước ra sao thì ra. Cho nên, khi ông Nguyễn Cao Kỳ về nước đối thoại với nhà đương quyền, họ đã đồng loạt dùng các phương tiện truyền thanh, truyền hình và báo chí để phỉ báng ông ta bằng những ngôn từ rất thiếu văn hóa. Bản thân chúng tôi cũng bị mạ lỵ một cách thô bỉ nhưng không cảm thấy buồn, mà chỉ thấy xót thương cho họ hơn là trách cứ, vì họ đã quen làm điều gì thì phải nhắm đến cái lợi trước tiên. Chúng tôi xem việc ông Tướng Kỳ là mở đường khai lối cho cuộc đấu tranh chính trị sắp tới mà các bạn mới là thành phần chủ lực. Ông Tướng Kỳ đã lăn được hòn đá tảng chắn lối, bây giờ các bạn là “mũi nhọn” tiến lên mà không sợ bị ai chụp cho mình cái mũ cộng sản.

Xin các bạn trẻ thông cảm cho họ và hiểu rằng đấy là phản ứng từ não trạng của cái gọi là “sản phẩm thế hệ” như chúng tôi vừa trình bày ở phần trên.

Các người đi trước cứ nhắc đi nhắc lại những thủ đoạn lừa đảo của cộng sản trong quá khứ thì các bạn nên xem đó là những cảnh giác để khôn ngoan và thận trọng hơn, nhưng đừng xem đó là cái cớ để lẩn tránh nghĩa vụ của người trí thức và tuổi trẻ đối với giống nòi. Đối với chiêu bài “Hòa hợp hòa giải” được vũ trang bằng Nghị Quyết 36 thì các bạn hãy tìm cách chống trả, chứ không phải vì thế mà rúc đầu vào cát như con đà điểu hoặc lo đắp con đê thật cao để ngăn nước.

Tình trạng Việt Nam xuống giốc một cách thảm khốc tới độ không thể che dấu được nữa, nhà cầm quyền đang tìm lối thoát thân thì đây là lúc các bạn đang ở thế thượng phong. Các bạn phải năm lấy thế chủ động để người cộng sản không thể sử dụng các bạn như một công cụ. Khi các bạn ý thức vốn liếng “chất xám” là lợi khí của kẻ sĩ phu yêu nước thì không ai có thể mua chuộc các bạn được; do đó, tại sao các bạn ngần ngại mà không ngồi xuống đặt vấn đề với người cầm quyền đang bối rối? Sở dĩ những người thuộc thế hệ chúng tôi không dám đương đầu với chiêu bài “hòa hợp, hòa giải” là vì chúng tôi giống như chim từng bị đạn sợ cả cành cong! Hơn nữa, chúng tôi là những kẻ tay trắng, vốn liếng chất xám không có đã đành, niềm tin giữa nhau cũng không có, mà lại thêm cái tính đố kỵ nhỏ nhen! Cho nên, chúng tôi xin các bạn hãy tự nghĩ ra sách lược mà hành động. Đừng trông chờ vào cái “túi khôn” của thế hệ chúng tôi. Cái thế hệ sống sót vì nhờ những tiểu xảo, khôn vặt học được ở nước thuộc địa chậm tiến không thể sánh với Cái Tâm và Cái Trí của các bạn được hấp thụ nền giáo dục nhân bản, khai phóng của nước văn minh. Từ nền giáo dục khai phóng ấy mới sản sinh ra các tổ chức như “bác sĩ không biên giới”, “ký giả không biên giới” để xoa dịu vết thương nhân loại và bảo vệ tiếng nói tự do của loài người,

Sau khi phong trào Cần Vương thất bại, cụ Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du đưa thanh niên ra nước ngoài học tập để về cứu quốc. Cuộc thất trận của Mìền Nam là tai họa chung cho cả nước, nhưng cũng là cái may của dân tộc: Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại có một đội ngũ “chất xám” đông đảo và phẩm chất cao như ngày nay. Các anh chị bây giờ là những nhà khoa học, luật học, kinh tế, tài chánh thượng thặng, hơn hẳn các cụ Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh … Người cầm quyền cũng đã ý thức rằng không thể dùng “bần cố nông” cai trị đất nước. Họ đã phải gửi ra nước ngoài hàng vạn du sinh. Những anh em này là đối tượng mà các bạn cần tiếp xúc để giúp đỡ họ về mặt chuyên môn, hướng dẫn họ sinh hoạt trong tinh thần dân chủ; ngược lại họ sẽ giúp các bạn sử dụng tiếng mẹ đẻ rành rẽ hơn. Và những du sinh này sẽ là những người thay đổi bộ mặt đất nước trong tương lai giống như ngày xưa thanh niên Việt Nam được thực dân Pháp cho du học thì khi trở về cố quốc, họ trở thành những nhà trí thức chống Pháp mạnh mẽ hơn ai cả. Ngoài ra nhà cầm quyền cũng đã thấm thía cái tình “đoàn kết môi hở răng lạnh” của người đàn anh phương Bắc, vì vậy mà họ sẵn sàng để cho tầu chiến Hoa Kỳ cập bến bất cứ hải cảng nào. Đấy là dấu hiệu của thời cơ thuận lợi cho các bạn cứu nước.

Các bạn có những ưu điểm hơn thế hệ chúng tôi, như: “kiến thức tinh anh, sự trong sáng, tính lương thiện, lòng vị tha, không bị quá khứ ám ảnh” vì các bạn lớn lên hoặc sinh ra trên những đất nước hòa binh, giàu có và hấp thụ nền giáo dục nhân bản. Trang bị bằng chứng ấy yếu tố cộng thêm sự quyết tâm và tình yêu nòi giống, chắc chắn các bạn sẽ thành công trên bước đường phục hồi các giá trị truyền thống của tổ tiên để kiến tạo một Việt Nam tự do, dân chủ, thái hòa..

Những người học rộng như các bạn thường rất nhạy cảm trước nỗi thống khổ của đồng loại. Các bạn hãy thắp lên ngọn đuốc để tự soi sáng và thanh tẩy những tàn dư – sản phẩm thực dân, phong kiến, cộng sản – mà các thế hệ trước đã để lại.

Đó là tâm nguyện chí thành mà chúng tôi xin gửi gấm đến các bạn.

30 tháng 4, 2005
Troinam.net

A confiding letter
to our young friends

Dear young friends,

The war ended 30 years ago. After living half of our life in a strange country, we feel this is a suitable time to entrust you with a few words from the bottom of our heart.

Perhaps, you’ve already read the speech “Việt Nam bên bờ vực thẳm – Vietnam on the verge of an Abyss” of Dr. Le Dang Doanh a few months ago, describing the tragic picture of Vietnam today. Dr. Le was an economic adviser to various Secretary Generals of the Communist Party and Prime Ministers of Vietnam. He was invited by Mr. Trần Đình Hoan, Chief of the Party Organization Department, to speak to members of the Political Bureau about the political and economic situation in Vietnam. Of course, the speech wasn’t an article written by a fighter for democracy, depicting the negative sides to paint a gloomy picture of the regime.

The content of Dr. Le’s speech gives us a genuine and true picture of Vietnam: the economy is retrograded; the morale is depraved! The longer this situation lasts, the more the people of Vietnam will suffer spiritually and morally. It will also make the restoration of traditional values more difficult once a democratic regime gets a chance to be established. Therefore, actions for the salvation of the country shouldn’t be delayed!

We are well aware of these facts, but we are at the end of our resources due to the lack of talent, intelligence, strength, and vigor. That’s why we utter these confiding words to you – our hope for the future.

Please let us introduce ourselves to you. We were born and grew up in a poor and undeveloped country. Not long after the calamity of Colonialism and Feudalism had ended, the civil war erupted and was dragged on between the two rival powers of Communism and Capitalism. The defeat of South Vietnam made millions of Vietnamese leave their country, experiencing disaster after disaster, and scourge after scourge. But, that wasn’t enough for us to wake up and draw out a lesson of union and love. On the way out in search for freedom, we managed to maintain all the corrupt practices of the past. We brought with us our inferiority and superiority complex at the same time, and both of which are equally at the extreme. These are the products of a country that, with hundreds of years of slavery and yet, arrogantly claims to have a history of four thousand years of civilization!

In the past, we were trained to be soldiers for a war for which muscle is required; and now, we are imaginarily and stubbornly attempting to reuse that muscle in the fight for democracy which can only be won with intelligence and vigor. Moreover, in the recent war we were lead to be in a defensive posture, therefore our initiative has grown numb and we become unable to confront the circumstances in this new era.

It is true that the fight for democracy today requires intelligence and vigor. It also requires dialogue to reach an agreement without fear of being cheated by the adversary. Nobody can take “Gray Matter” out from your mind or heart. For the last 30 years, most of the political groups overseas have repeated the same argument: “No compromise, no re-conciliation, and no concord with the communists”. It is like a man who embanks a dyke; the more the water rises the higher he embanks the dyke, ignoring everything else and leaving behind whatever it may be. That is why when Mr. Nguyễn Cao Kỳ returned to Vietnam to set up a dialogue with the communist government, they simultaneously employed the mass media (TV, radio, newspapers, etc…) to vilify him with uncivilized language. We were also insulted boorishly by those people, but we aren’t a bit doleful. Instead, we feel pity for them more than blame them, for they used to do things that only gratify their personal benefit. In our point of view, Mr. Nguyễn Cao Kỳ’s return to Viet Nam is a road map for the coming political fight where you and you alone, are the driving force. Mr. Nguyễn Cao Kỳ has pushed aside a blocking rock, and now, you are like the “sharp-pointed arrow” to move forward without fear of anyone putting a communist hat over your head.

Please understand and give them your compassion because that’s the reaction from the so-called “products of the generation” we’ve just previously described.

The beforehand people have repeatedly reminded us of the deceiving tricks of the communists in the past. Please take their words as a precaution to be more cautious, more prudent, and not as a pretext to slip away from the duty of a young intellectual toward his country. To the label “Conciliation–Concord” armed with Resolution #36, you have to confront it with proper counter-measures, instead of acting like an ostrich burying its head in the sand during a storm, or as a man embanking a dyke to cope with the rising water.

Vietnam is in a terrible downfall, to the point that it is impossible to hide. The governing authorities are seeking their way out, and this is a time when you are in the upper hand position. You have to seize the opportunity by taking positive action to avoid becoming their tools. When you realize that your “Gray Matter” is a sharp tool of an intellectual, loving his country, nobody can bribe you. Then, why don’t you come together and pose serious questions to the confusing governing authorities? We, and people in our generation, dare not to confront the label “Conciliation-Concord” because we are like a bird that, having been shot, is afraid of a twisted branch. Moreover, we are empty-handed people, having neither “Gray Matter” nor trust between us, and are jealous and mean. Therefore, we ask you to find a proper way and tactic for action. Please do not rely on the “bag of sage” of our generation, a generation that only survives by trifling skills and cunning dodges learned from an uncivilized colony. There is no comparison of the trifling skill and cunning dodge to the heart and mind of those like you who have acquired a humanist and open education from a civilized country. From this open education the organizations such as “Doctors without frontier” and “Journalists without frontier” were born to soften the human wound and to protect the mankind’s voice of freedom.

After the Cần Vương Movement failed, Mr. Phan Bội Châu started the Đông Du Movement by sending young people abroad for education in order to serve the country when they returned. The defeat of South Vietnam was a misfortune for the whole country, but also a good fortune. Never in history, has Vietnam had such an army of “Gray Matter” with high quality as today. You are now top Scientists, Doctors, Lawyers, Engineers, Economists, Financiers, and are much better than Mr. Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh… of yesterday. The governing authorities have also realized that the country can’t be governed by proletariats. Therefore, thousands of young people have been sent abroad for higher education. Please make contact with them to exchange professional aspects and help them understand democratic process; in return, they will help you improve your mother language. These young people are those who will change the face of the nation in the future. Similarly, in the past, many young Vietnamese were sent abroad by French colonialists, and upon return, they became intellectuals who fought against French colonialism more ardently than anyone else. Besides, the governing authorities have sufficiently imbrued the wisdom “when the lips are gone, the teeth are cold” of the big brother in the North. That is why they’ve agreed to let American war ships dock in any seaport when necessary. This is an indication that a favorable opportunity has arisen for you to get involved in the salvation of our country.

You have a lot more advantages than our generation does, such as quintessential knowledge, honesty, and unselfishness. You aren’t obsessed by the past because you were born or grew up in a peaceful, wealthy country, and have acquired a humanist and open education. Equipped with such assets, plus your determination and your love to your country, you will certainly be successful on the journey to restore the traditional values of our ancestors, and to build a free, democratic and peaceful Vietnam.

Being an intellectual, you’re easily touched by the suffering of your compatriots. Please light up a torch to illuminate yourselves and rub out all the vestiges – products of Colonialism, Feudalism, and Communism - left by previous generations.

Those are our few confiding words we sincerely express to you today.

April 30, 2005
Troinam.net

Ngày 30 tháng Tư nhìn về tương lai

Ngày 30 tháng Tư nhìn về tương lai
Ian Timberlake
AFP Việt Nam

Từ bao năm nay, dinh Thống Nhất là một nơi thịnh hành được các cặp thuê để tổ chức tiệc cưới
Nhân ngày 30 tháng Tư, BBC xin giới thiệu bài của Phái viên Ian Timberlake, AFP gửi đi từ thành phố Hồ Chí Minh:
Dưới bóng mát của hàng cây trong công viên trước dinh Thống Nhất , mà nay được cho thuê để tổ chức các lễ lạc khác nhau, các cặp thanh niên thiếu nữ ngồi tán tỉnh nhau, trong lúc các sinh viên chăm chú học bài chuẩn bị cho mùa thi.
Họ chỉ biết qua sách sử những gì đã xảy ra tại dinh này 34 năm về trước vào đúng ngày này, khi chiếc xe của bộ đội cộng sản Bắc Việt mang số 843 ủi cổng chính, chấm dứt nhiều thập niên chiến tranh và thống nhất đất nước vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Hôm nay, hai phần ba dân số Việt Nam có đội tuổi bình quân dưới 35. Họ không biết chiến tranh là gì, họ không biết có nhiều người "chết thật tình cờ" và nổi nhọc nhằn mà người dân phải gánh chịu ngay sau đó.
Thanh niên thiếu nữ lớn lên trong những năm phát triển kinh tế thời bình nói rằng họ chú tâm tới thành quả mà đất nước đạt được.
Cô Trần Mỹ Lan, 22 tuổi, hiện đang bán áo quần trong một trung tâm thương mại tại Sàigon, nói :" Tôi rất tự hào là người Việt Nam đã đánh bại được hai siêu cường Pháp Mỹ, nhưng tôi không nghĩ rằng có nhiều người ngày nay, nhất là giới trẻ, muốn nói về quá khứ".
Anh Nguyễn Công Trường, 28 tuổi, tư vấn về đầu tư nói: "Tôi muốn Việt Nam sẽ trở thành một nước Singapore trong vòng 20 năm tới".

Với một mức thu nhập bình quân theo đầu người trên dưới một ngàn đôla, tức là thấp hơn Singapore đến 37 lần, Việt Nam còn phải nỗ lực hơn nữa trong một thời gian dài, vì đa số người dân còn sống về nghề nông.

Ngày nay xe gắn máy vẫn là phương tiện di chuyển chính
Tại thành phố Hồ Chí Minh, xe gắn máy, chứ không xe hơi, là phương tiện di chuyển thông dụng nhất, mặc dù thỉnh thoảng, người ta có thấy xe Ferrari hoặc xe Porsche chạy trên đường phố.
Đường Đồng Khởi, trước đây trong thời chiến có tên là đường Tự Do, đã bắt đầu trông giống như một góc phố của Singapore với các cửa hiệu bán hàng hiệu và các vật dụng xa xỉ khác.
Các cờ xí có in hình búa liềm cộng sản đã được treo lên nhân dịp này để đánh dấu ngày lễ 30 tháng Tư.

Anh Trường, mà song thân hiện vẫn làm nghề nông tại Tây Ninh, nói : " Cha mẹ nói hồi năm 1968 đời sống rất cơ cực, nhiều người phải ăn khoai mì".
Anh cho biết cha mẹ anh ngày nay chỉ kiếm được một trăm đôla mổi tháng trong lúc lương tháng của anh cao gấp sáu lần.
Nhìn về tương lai
"Tôi ra đời trong thời bình, và tôi có cơ hội phát triển khả năng của tôi", một thanh niên khác, anh Lê Thế Huân, 20 tuổi, sinh viên luật ngồi tại công viên này bên cạnh một máy vi tính xách tay và một máy nghe nhạc Pod, cho biết như trên.
Anh Huân nói tiếp: "Ngay cha mẹ tôi cũng không nói nhiều đến chiến tranh vì lúc đó, họ mới có 12 hay 13 tuổi, khi cuộc chiến kết liễu".
Cũng tại công viên này, anh Trần Trọng Nguyên, sinh viên cao học vật lý, tâm sự : "Tôi nghĩ rằng về mặt vật chất mà nói, đời sống của tôi tốt hơn cha mẹ tôi rất nhiều".
Anh Nguyên mà cha mẹ cũng là nông dân nói: "Chúng tôi có nhiều cơ hội để học lên, dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục tốt hơn và cuộc sống hôm nay vững chãi hơn trước nhiều".

Cơ hội làm giàu cho thế hệ trẻ
Cô Đặng Thị Bích Nga, 21 tuổi, rời nhà ở miền Trung để vào Sàigon theo học ngành kinh tế, nói rằng "cuộc sống mới đã mở ra rất nhiều cơ hội".
Cô hy vọng điều này cũng xảy ra cho nước Việt Nam.
Với đôi bông xinh đẹp lủng lẳng bên vành tai, Nga nói : "Tôi hy vọng nước tôi sẽ phát triển như là các nước khác trên thế giới".
Trong lúc đó, ông Phạm Thành Công, 52 tuổi : " Giới trẻ có thể chú tâm và hiện tại và tương lai, nhưng chúng cũng ý thức đến sự hy sinh của bậc cha anh".
Ông Công nói tiếp: " Đa số giới trẻ không bao giờ quay lưng lại quá khứ, vì lịch sử không thể chối cãi được".
Ông đã từng là du kích quân và nay là giám đốc bảo tàng viện Mỹ Lai tàng trữ các di tích của hàng trăm dân làng bị binh sĩ Mỹ tàn sát hồi năm 1968.
Ông Công nói tiếp: "Tôi dành toàn thời gian cho nhà bảo tàng này vì tôi muốn giới trẻ biết thêm về tội ác chiến tranh".
Nhưng một thanh niên, 27 tuổi, hiện đang quản lý một công ty về công nghiệp thông tin, xin được dấu tên, nói máu của những người đã đổ cho Việt Nam được độc lập, sẽ chẳng còn có ý nghĩa gì nếu như cầm quyền hiện nay "không minh bạch, bớt ăn hối lộ và hành xử vì quyền lợi đất nước".
Một thanh niên khác, anh Nguyễn Hoàng Quân, 28 tuổi, đồng ý đất nước phải đổi mới chính trị để có thể phồn thịnh.
Anh Quân, hiện là nhân viên bảo vệ một cửa hàng nói: "Tôi hy vọng giới lãnh đạo sẽ mở cửa để cho đất nước được phát triển nhanh hơn".


Gửi người con gái Hà Nội08:56' 30/04/2009 (GMT+7)
(VietNamNet) - Tôi thuộc thế hệ những người cầm súng ở giai đoạn quyết liệt nhất. Đó là vào những năm 1971-1972. Giai đoạn có hàng ngàn học sinh, sinh viên rời ghế nhà trường nhập ngũ.
Ngày ấy cứ sau ba tháng huấn luyện, những chàng “lính tò te” sẽ lại hành quân vào Nam. Chúng tôi tập hành quân, tập bắn súng, tập chiến thuật và cả bồi dưỡng chính trị. Đến ngày chuẩn bị hành quân thì đùng một cái cấp trên bảo chúng tôi được ra Hà Nội. Mơ chăng? Không. Đúng là thật. Cả đợt tân binh của tôi được ra Hà Nội.


Trận địa pháo tại Hoàng Mai những năm chiến tranh chống Mỹ. Ảnh tư liệu.
Chả là đơn vị tôi toàn những học sinh, sinh viên của các trường đại học nên được cấp trên bổ sung vào đơn vị bộ đội tên lửa để bảo vệ bầu trời Thủ đô. Đó là vào giữa năm 1972 lịch sử, trước khi B52 đánh vào Hà Nội. Bây giờ nghĩ lại mới thấy cấp trên chuẩn bị cho chiến dịch “Điện Biên phủ trên không” này chu đáo như thế nào.
Nhưng đó là chuyện của các bạn tôi. Tôi không có cái may nắm ấy vì trong danh sách được ra Hà Nội lại không có tên mình. Anh Hạnh, Trung đội trưởng bảo tôi được cấp trên “chấm” để đưa đi đào tạo cán bộ khung chuyên huấn luyện chiến sỹ chi viện cho chiến trường. Đây là một vinh dự vì những người xuất sắc mới được chọn. Chả biết xuất sắc là thế nào nhưng trường hợp này tôi không thích cái “xuất sắc” ấy. Nỗi buồn dâng lên đến ăn cũng không ngon, Anh Hạnh động viên nhưng tôi vẫn muốn xin được đi. Tình cảm không xong, anh liền xẳng giọng: Đây là mệnh lệnh phải chấp hành. Trong quân ngũ khi đã là mệnh lệnh thì không thể nào làm khác được, “quân lệnh như sơn” mà.
Nghĩ bạn bè được ra thành phố, mình ru rú ở lại cái xứ miền Trung đầy nắng và gió mà lòng se lại.
Rồi những ngày học tập làm anh cán bộ “đầu bình, cuối cán” cũng qua nhanh. Có thể nói ba tháng tân binh không thấm vào đâu với nửa năm học làm “cán bộ”.
Nhưng thôi, trong đời lính, chuyện gian khổ, chuyện thiếu thốn vật chất và tinh thần là điều rất bình dị. Cả dân tộc ta chịu đựng, cả nhiều thế hệ chịu đựng thì chúng tôi có thấm vào đâu. Tuy nhiên có những mong ước, có những điều bình dị mà nếu trong hoàn cảnh bình thường thì quá ư đơn giản, nhưng vào thời gian đó là cao siêu, vượt ra khỏi khả năng của con người.
Đó là chuyện về anh Tám, một cán bộ của Nông trường Sao Vàng, và mong ước có một lần ra thăm Thủ đô. Anh Tám là chiến sỹ của tiểu đội tôi.
Ngày đó lần đầu tiên làm cán bộ, cái A2 (tiểu đội 2) của tôi toàn những bậc đàn anh. Các anh đều là những cán bộ được tổng động viên vào lính. Nếu đợt nhập ngũ của chúng tôi toàn những cậu học sinh, sinh viên thì đợt này toàn là cán bộ đang công tác. Có anh đã là cán bộ của huyện hoặc Trưởng một trạm xá. Cho đến bây giờ tôi không nghĩ, mặc dù ít tuổi nhất, là em út của tiểu đội nhưng lại là “thủ trưởng” của các anh và được các anh quí mến đến thế.
Tám không phải là người duy nhất trong đơn vị chưa một lần ra thăm Hà Nội. Tuy vậy ở Tám trái tim luôn hướng về Hà Nội. Chả là ngày còn công tác ở Nông trường, Tám đã yêu một cô giáo người Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp đại học cô được phân công về Nông trường của Tám dạy học. Chuyện tình của họ cũng trầm bổng, lúc thăng, lúc giáng như bản nhạc nhưng chưa đạt đến cao trào. Cô trở về Hà Nội khi “giải yến chưa bắc xong cầu” để chàng được một lần về thăm. Tuy thế, dẫu xa cách nhưng trong tim họ vẫn luôn luôn hướng về nhau.
Biết tôi có anh chị công tác ở Hà Nội, và đã được ra Thủ đô, Tám cứ suýt xoa: Thế là nhất cậu rồi đấy nhé. Được ra thăm Hà Nội, được dạo trên đường Thanh Niên, được ngắm Tháp Rùa và nhất là được nhìn Kỳ đài, nơi Bác Hồ đứng đọc Tuyên ngôn độc lập và đọc diễn văn mỗi dịp 2-9 thì dẫu có chết cũng sướng.
Chả là năm 1970, nhân kỷ niệm 2-9, bố mẹ tôi “thưởng” cho một chuyến ra Thủ đô nhân kết quả học tốt.
Dạo ấy ta vừa ký Hiệp định ngừng bắn với Mỹ. Và từ vĩ tuyến 20 trở ra chúng đã ngừng ném bom.
Tôi vẫn nhớ như in cái đêm tàu đưa chúng tôi ra Hà Nội. Dạo đó đường sắt đã được khôi phục nhưng tàu thì cũ kỹ và bò chậm như rùa. Từ quê ra Hà Nội có hơn trăm cây số mà đi mất gần hai mươi giờ. Đi từ tối hôm trước mãi đến 9 giờ sáng hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ. Lần đầu đi tàu cái gì cũng lạ. Tàu thì tối như bưng, phải dùng đèn dầu…
Mặc dù thời gian ở Hà Nội ít song tôi cũng đến được nhiều nơi. Nhớ nhất là lần đầu tiên dự đám cưới của người Hà thành. Thấy cô dâu đánh son phấn tôi hỏi chị tôi: đám cưới cũng có biểu diễn văn nghệ hay sao hả chị. Vì tôi thấy mấy cô giống như các diễn viên văn công ấy. Chị tôi cười bảo đó là cô dâu và người phù dâu. Thật là ngố. Ở quê có bao giờ thấy ai khi cưới đánh phấn bôi son đâu. Nhất là lại thấy mấy cái mái tóc “phi-dê” thì lạ lắm. Cứ như cái tổ cò ở quê tôi vậy.
Thường vào những đêm chủ nhật không phải sinh hoạt, anh Tám thường hay rủ tôi lên quả đồi gần đơn vị để đón ánh trăng và hóng gió. Đời lính cũng có những giây phút thật nên thơ. Hai đứa thường ngồi trên bãi cỏ mà đón những làn gió từ phía đồng bằng thổi về.
Khu vực đơn vị đóng quân rất nhiều hoa Giẻ. Mùa hoa nở, hương cứ như mời gọi, man mát dịu dàng. Những cơn gió đem hương hoa ban phát cho cả một vùng. Quả đồi chúng tôi lên cũng toàn cây Giẻ. Dạo đấy đang mùa hoa. Cả quả đồi ngào ngạt hương. Tóc chúng tôi như được đằm trong hương hoa. Thỉnh thoảng tiếng chim Đa Đa “khó khăn khắc phục” lại cất lên, đưa trời đất về cõi hồng hoang của thuở cha ông đi khai sơn phá thạch. Những lúc như thế, Tám thường khẽ hát bài “Hướng về Hà Nội” của nhạc sỹ Hoàng Dương. Tâm trạng của anh lúc đó cũng giống như tâm hồn người nhạc sỹ đi kháng chiến vẫn luôn ngóng về Hà Nội. Giọng Tám thật da diết:
“…Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi; Ánh đèn giăng mắc muôn nơi áo màu tung gió chơi vơi; Hà Nội ơi, phố phường dài ánh trăng mơ; Liễu mềm nhủ gió ngây thơ thấu chăng lòng khách bơ vơi; Hà Nội ơi, những ngày vui đã ra đi, Biết người có nhớ nhung chi; Hết rồi giây phút phân ly; Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê; Tóc thề thả gió lê thê; Biết đâu ngày ấy anh về".
Biết tôi có cô bạn cùng học phổ thông hiện là sinh viên của Trường Tổng hợp. Tám bảo chỉ còn mấy ngày nữa là kỳ nghỉ hề sẽ đến, cậu phải viết thư mời cô lên thăm đơn vị. Chỉ còn hơn tháng nữa là chúng mình sẽ rời hậu phương hành quân vào Nam. Chia tay gặp được người từ Hà Nội về là món quà quí giá đó. Tám bảo tôi nhất định phải mời bằng được cô bạn gái.


Lính đặc công trên đường vào Sài Gòn - Nguồn ảnh: imageshack.us
Không biết có phải sự mong mỏi của Tám, hay vì một “đáng minh quân” nào đó ban phát cho mà cô bạn tôi đã lên đơn vị thật. Cứ như là có bàn tay của ai đó đã sắp đặt. Vì nói với Tám là sẽ làm nhưng tôi có viết thư mời bạn lên thăm đâu.
Hôm đó tôi đang lên lớp một bài về quân sự cho cả đơn vị. Tám trực ban. Thấy anh xăm xăm chạy vào lớp, tôi đã hơi ngạc nhiên, tưởng có chuyện gì hệ trọng lắm. Anh ghé tai tôi báo tin: Bạn gái lên. Nghe mấy tiếng đó, trong tôi như có luồng điện chạy qua sống lưng. Mặt bừng đỏ. Cố dấu sự lúng túng trước mọi người, tôi nhờ anh tiếp “khách” hộ. Giảng xong bài tôi sẽ về ngay.
Hôm ấy cả tiểu đội vui như Tết. Ngoài tôi ra phải là anh Tám.
Sau này tôi đã đi nhiều nơi, ở nhiều cơ quan, nhưng cái tình của người lính ngày ấy vẫn theo tôi đi suốt cuộc đời. Đồng đội tôi coi khách trong tiểu đội cũng là người thân yêu của mình. Họ đều quí mến và trân trọng lắm. Không chỉ trong tiểu đội, mà cả anh em trong Đại đội, cả Thủ trưởng của tôi cũng vậy. Các anh đều đến thăm và chia vui cùng tôi. Lại còn tạo mọi điều kiện vật chất để chúng tôi tiếp khách.
Ngoài nhiệm vụ chỉ huy ban “hậu cần lâm thời", anh Tám còn là nhà “ngoại giao” tài ba đối với bạn gái của tôi. Vì bạn tôi có rất ít thời gian nên muốn ra về. Thế mà anh đã “thuyết khách” thành công và bạn tôi đã ở lại ăm cơm cùng đơn vị.
Trong khi “tiệc tùng thịnh soạn” anh mới có dịp để “Hướng về Hà Nội”. Anh hỏi rất nhiều, nào là Trường Tổng hợp, nơi có khoa văn đào tạo những “nhà văn” tương lai của đất nước mà bạn tôi đang học, anh hỏi cả về đường Thanh niên, nơi Hồ Tây lộng gió… Rồi anh ước ao có một chiều thả bộ bên những hàng “liễu rũ như mơ” trên con đường ấy. Có lẽ cái xóm Cầu Mới là nơi anh dành để hỏi nhiều nhất…chỉ có tôi mới hiểu tại sao Tám lại hỏi kỹ đến thế. “Cô giáo của anh” sinh ra ở đấy. Anh hỏi nhiều đến nỗi anh em trong tiểu đội phải nhắc: Thôi dành thời gian để “Thủ trưởng” còn “hỏi thăm người Hà Nội” chứ.
Dịp đấy cũng là kỳ anh "thu hoạch" về Hà Nội nhiều nhất. Bởi vì sau đó chúng tôi hành quân đi chiến đấu, ít có dịp nói về Hà Nội nữa.
Không cùng đơn vị vì do phải chia đi các hướng khác nhau, nhưng chúng tôi vẫn cùng địa bàn hoạt động và vẫn biết tin tức của nhau.
Tôi nhận được tin Tám hy sinh vào cái buổi chiều cuối tháng 2 năm 1975. Đơn vị của anh nhận nhiệm vụ nghi binh đánh địch ở hướng Kon Tun để cho đại quân bí mật chuyển hướng vào Buôn Ma Thuột, thực hiện đòn đánh chiến lược. Trong một trận nổ súng nghi binh, Tám đã anh dũng hy sinh. Anh ngã xuống mảnh đất Ngọc Hồi, nơi ngã ba Dông Dương, mái nhà của tình đoàn kết Việt - Lào - Căm pu chia.
Nghe tin bạn hy sinh, tôi không thể nào cầm được nước mắt. Dù cố kìm lòng nhưng nó cứ chảy hoài, chảy mãi. Ôi thế là cái ao ước cuối cùng của bạn tôi không thể nào thực hiện được. Chỉ một chiều vàng Hồ Tây, được đi dưới những hàng liễu rũ…Tôi chợt nghĩ về người bạn gái của anh. Giờ này cô đang ở đâu giữa lòng Thủ đô yêu dấu.
Bây giờ thì mơ ước như của bạn tôi ai cũng rất dễ thực hiện. Từ những nơi rất xa xôi của cả nước, chỉ một vài giờ bay, bạn cũng có thể sẽ được đi dưới bóng những hàng cơm nguội, được đằm trong hương hoa sữa, được ngắm chiều vàng Hồ Tây và với những con thuyền bạn có thể vào phủ Tây Hồ hay đi dạo khắp mặt hồ mênh mông sóng nước ấy bằng con đường thủy.
Nhưng có được như vậy, cả thế hệ chúng tôi đã ra đi, rất ít người được quay lại để thực hiện được cái mơ ước mà bây giờ bạn tưởng như cỏn con ấy.
Tôi đã ra Hà Nội, đã được đi trên những con đường mà ngày nào bạn tôi ao ước, được thấy một Hà Nội "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", tuy còn nhiều điều phải trăn trở... Vâng bây giờ Hà Nội không chỉ là của Hà Nội, Hà Nội là của cả nước. Hà Nội phải làm tất cả để xứng đáng với những người ngã xuống không phải tủi lòng.
Trong tôi lại vang lên những giai điệu mà Tám vẫn hát và muốn gửi gắm: “Hà Nội ơi, nỗi lòng gởi gấm cho nhau, nhớ hoài chỉ biết thương đau, đắng cay chờ những kiếp sau”.
Người bạn gái của anh có còn nhớ những giai điệu này không.

Hà Nội ngày đầu hạ

Tính ưa khoe khoang và khoác lác của người Việt

Tính ưa khoe khoang và khoác lác của người Việt
• Tác Giả Phạm Hy Sơn
• Đăng ngày 02.05.09
• Quan Điểm
•
Phạm Hy Sơn

View all articles by Phạm Hy Sơn
Từ đứa nhỏ khoe cái áo mới đến người lớn khoe có cái nhà đẹp, cái xe đắt tiền bản chất không khác nhau (thích được khen). Người Việt chúng ta có rất nhiều thứ để khoe (quần áo, xe cộ, nhà cửa, tiền của, gia thế, địa vị, con cái...).

Về khoe quần áo, một bữa tiệc cưới gây ấn tượng mạnh cho tôi mãi đến bây giờ. Bàn tôi có 10 người gồm 5 bà, 2 đứa bé một Việt, một Mỹ với mẹ em và tôi. Ăn chưa hết món thứ nhất thì bà mặc áo dài xanh đứng lên bỏ đi, lúc sau bà ta mặc váy đỏ, sơ - mi đỏ rực rỡ, cổ đeo giây chuyền vàng to bản vàng khè nhí nhảnh đi vào. Bốn bà kia thấy thế lần lượt từng bà đứng lên, bàn ăn lại có 4 bộ quần áo mới xanh xanh, đỏ đỏ. Nhưng chưa hết, ăn xong chừng 3 món hai bà ngồi giữa đứng lên, ba bà nữa đứng lên, làm bàn ăn bỏ trống một nửa. Lúc sau bàn chúng tôi có 5 bộ quần áo mới nữa vàng vàng, xanh xanh, đỏ đỏ; vàng đeo đầy cổ, đeo cả ở 2 tay, 2 chân.

Em bé Mỹ ngồi bên tôi trố mắt ra nhìn, bé hỏi tôi :

- Sao các bà thay đồ hoài vậy?

May lúc ấy ông thợ ảnh đến, tôi nói tránh đi :

- Các bà ấy thay đồ để chụp ảnh. Người Việt Nam thích chụp ảnh !

Tôi còn được nghe nói có những bữa tiệc chẳng những các bà mà cả các ông cũng đi thay bộ mã tới 2, 3 lần.

Có lẽ trên thế giới không có người nước nào có lối sống kỳ lạ như vậy. Tại chúng ta mang nhiều mặc cảm đói rách chăng? Có thể thế, cộng thêm tính khoe khoang sẵn có.

Người có tiền thì may, người không có tiền đi thuê ở mấy tiệm đồ cưới, nhưng cũng có những người dám tới mấy tiệm bán quần áo, nữ trang sang trọng của người Mỹ mua về mặc đi ăn đám cưới sau đó đem trả lại lấy tiền về. Lối mua bán kém lương thiện như thế ở đâu cũng thấy nói tới.

Chúng ta có nhiều cái khoe, trong các cuộc gặp gỡ, họp mặt, người ta hay tự giới thiệu tôi là Kỹ sư A và đây, vợ tôi Tiến sĩ M. Ngoài giới thiệu bản thân người ta còn tìm cách để có dịp nào đó trong câu chuyện khoe về gia thế, dòng dõi qúi phái của mình, khoe cái xe Cadillac, Mercedes mới mua hay khoe cái nhà ở trên đồi, trên núi.

Khoe trong chỗ bạn bè quen biết chưa đủ, đôi khi người ta còn viết báo, làm thơ khoe vợ (hay chồng) trước đây nắm chức vụ gì ở Việt Nam, con cái mấy người có bằng bác sĩ, kỹ sư... để bà con xa gần đều biết. Trong một cuộc hội nghị văn chương có tính cách quốc tế nọ, vị đại biểu Việt Nam thay vì trình bày những vấn đề liên hệ lại tự "giới thiệu" trước đây mình làm gì, sau năm 1975 sang Mỹ học đậu Bachelor rồi đậu tới cả Master. Ông ta quên rằng trong giới văn, thi sĩ người ta không để ý đến bằng cấp mà chú trọng vào tài năng thực sự. Thi hào Nguyễn Du chỉ có bằng Tú Tài, văn hào Anatole France nước Pháp rớt Tú Tài, thi sĩ Tản Đà Việt Nam hình như không có cái bằng nào cả.

Tính khoe khoang của chúng ta thật quá đáng .

Việc khoe khoang cái mình có đã xấu, đã kỳ nhiều người đi xa hơn khoe khoang những cái mình không có để người khác khen hoặc phục nể. Đó là nói khoác, nói không đúng sự thật.

Nguyễn Cao Kỳ Duyên

“The greatest lesson I’ve ever learned is to love and be loved in return” (“Bài học quý giá nhất mà tôi đã học là biết yêu và được yêu”). Đó là câu cuối trong bài hát của Nat King Cole mà chúng tôi đã mượn để đọc trong ngày cưới cách đây bốn năm - một ngày thơ mộng thật tuyệt vời. Trên một bờ biển thần tiên, khi ánh nắng cuối cùng nhuộm đỏ rực những áng mây in trên nền trời tím, tôi đã nhìn sâu vào mắt anh để trao đổi lời thề “trọn kiếp bên nhau.” Quanh tôi tiếng sóng rì rào những nốt nhạc tình êm ái nhất. Trong giây phút thiêng liêng đó tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự vĩnh cửu của tình yêu. Tại sao không? Tôi yêu anh. Anh yêu tôi. Như vậy là chúng ta đã học được bài học “quý giá nhất” rồi còn gì nữa?



Hôm nay sau khi ký đơn ly dị, tôi bước ra khỏi văn phòng luật sư và chợt nhớ tới câu hát xưa. Tôi bùi ngùi tự hỏi “mình đã thật sự học được gì?” Có lẽ điều đầu tiên tôi học được (và chắc không phải là điều “quý giá nhất”) là “love is not enough.” Có nghĩa là tình yêu một mình không đủ để đưa đến cuộc hôn nhân thành công. Thành công theo định nghĩa của tôi là mình sống hạnh phúc trong hôn nhân. Mình ở với người đó không phải vì bổn phận, con cái, tiền bạc, xã hội, gia đình, lễ giáo…v.v. nhưng vì người đó là nửa phần hồn của mình, là người bạn tri kỷ, là nơi để mình quay về và nương tựa. Một người hiểu mình sâu sắc để mình có thể trò chuyện, thủ thỉ, tâm sự, chia sẻ, cười đùa và nhất là cho mình cảm thấy mình được nâng niu, quý trọng và yêu thương.

Tôi biết nhiều cặp ở với nhau vì họ không có sự lựa chọn nào khác, hoặc có, nhưng họ không đủ can đảm để quyết định ra đi, họ vẫn sống với nhau - sống trong sự thầm lặng bất mãn triền miên. Như vậy là ăn gian. Không kể! Thành công trong hôn nhân là khi nào mình có tất cả sự lựa chọn và điều kiện, nhưng mình vẫn ở với người đó vì “Tôi quyết định chọn Anh. Tôi yêu Anh. Tôi không thể tưởng tượng có thể sống bên ai khác ngoài Anh.”

Nhưng nếu hai người cùng yêu nhau, cùng là người tốt mà còn chưa đủ để đưa tới cuộc hôn nhân thành công thì thế nào mới đủ? Theo tôi, và đây là bài học thứ nhì (khá “quý giá”), là chúng ta cần thêm sự hiểu biết về tâm lý, vai trò vợ chồng và cách ứng xử trong quan hệ lứa đôi (tiếng Việt nói dài dòng vì tôi không biết dịch chính xác tiếng Anh gọi là “relationship skills”). Tại sao tôi nói như vậy? Vì tôi mới đọc xong cuốn sách mà tôi phải gọi là “Cửu Dương Chân Kinh ” của tình yêu và hôn nhân, đó là cuốn “Men are from Mars, Women are from Venus” (“Đàn Ông đến từ Mars, Đàn Bà đến từ Venus”).



Cuốn sách này nói về tâm lý, sự khác biệt giữa đàn ông/đàn bà và ảnh hưởng của sự khác biệt đó trong hôn nhân. Càng đọc tôi càng thấy tôi với tất cả ngu ngơ lầm lẫn. Tôi bừng tỉnh “Ủa?...tôi làm vậy vì tôi yêu anh…tôi tưởng làm cho anh vui…té ra chỉ làm anh thêm bực mình?” Không phải vì anh khó chịu nhưng vì tôi cho anh những thứ anh không cần còn những cái anh cần tôi không biết để cho. Ngược lại tôi thấy anh với tất cả những cố gắng. Không phải anh không yêu tôi, nhưng anh không biết yêu tôi như cách tôi muốn được yêu. À há! Thì ra là vậy! Nhưng có lẽ khám phá hay nhất mà tôi thấy được là tôi và anh đều bình thường như mọi cặp khác. Bao nhiêu trường hợp tương tự, bao nhiêu ngàn người đã trải qua y hệt những gì chúng tôi đã đi qua. Không phải vì họ không yêu nhau, không muốn có cuộc hôn nhân bền vững, nhưng vì họ không biết cách diễn đạt tình yêu để đối tượng có thể cảm nhận được. Họ, như anh và tôi, đều là những đứa trẻ mồ côi lạc loài đáng thương trong tình yêu. Hiểu được điều này giúp tôi trút đi gánh nặng của tâm hồn. Tôi không còn trách anh, và quan trọng hơn...tôi tha thứ cho tôi.

Thiết nghĩ nếu tôi nắm vững những bài học về tâm lý này trước khi bước vào hôn nhân thì có thể tôi tránh được những khúc gãy của cuộc đời hay ít ra cũng đi qua một cách nhẹ nhàng hơn. Nhưng làm sao tôi biết được? Có ai dạy tôi đâu? Có ai khuyên tôi nên học và nghiên cứu về vấn đề này đâu? Thường khi lấy nhau chúng ta chỉ được nghe những câu chúc phúc hoặc cùng lắm là những lời khuyên đại khái như “ráng giữ đạo vợ chồng,” “thương yêu lo lắng cho nhau,” “tôn trọng nhau, nhường nhịn nhau,”... Rồi! Biết như vậy là đủ rồi đó! Hãy đưa nhau đi đến cuối cuộc đời “dù cho mưa hay cho bão tố có kéo qua đây”... hèn chi tỷ lệ ly dị bây giờ hơn 50 phần trăm.




Tôi chợt nghĩ trong bất cứ ngành nghề gì như là thư ký, kỹ sư, bác sĩ hay những nghề phục vụ như cắt tóc, làm móng tay, nấu ăn...v.v., nói chung là mọi ngành, chúng ta đều cần học tập và được hướng dẫn nhưng có hai việc làm quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta là “nghề” làm vợ/chồng và “nghề” làm cha/mẹ thì chúng ta chẳng học hỏi gì cả. Chúng ta “làm đại” theo kiểu “trial and error” (“thí nghiệm và sửa sai”) được thì tốt...không được thì thôi! Chúng ta chỉ biết đổ lỗi cho duyên số, định mệnh và nếu thành công là nhờ sự may mắn. Như vậy thì buồn quá phải không? Vì hơn nửa dân số ở Mỹ thuộc thành phần kém may mắn. Và sau khi thất bại lần đầu chúng ta lại gói gém tất cả những tư tưởng sai lầm vốn có sẵn cộng thêm những kinh nghiệm đau thương vừa trải qua để dồn vào cuộc tình mới. Vì vậy không ngạc nhiên khi thống kê cho thấy rằng tỷ lệ ly dị của những cuộc hôn nhân lần thứ hai lên tới 60 phần trăm. Có nghĩa là “chuyển từ bại thành xụi.” Nhưng dù vậy con người bao giờ cũng sống trong hy vọng vì trong số người đã ly dị rồi thì 85 phần trăm sẽ tái hôn. Như đại văn hào Samuel Johnson đã nói “Remarriage is the triumph of hope over experience” (“Tái hôn nhân là sự chiến thắng của hy vọng vượt trên kinh nghiệm”).

Còn về chức năng làm cha mẹ? Ai dạy cho ta cách dạy con? Ta có học hỏi, trao dồi, nghiên cứu không? Hay ta cứ lập đi lập lại và bắt chước cách thức của cha mẹ mình để lại? Ta có bao giờ dám tự hỏi cha mẹ mình dạy có đúng không? Và cách dạy dỗ cũng như tư tưởng của thế hệ trước có còn thích hợp cho thế hệ sau không? Và nếu không đúng hoặc không còn thích hợp thì mình dạy con mình cái gì? Vì mình cũng chỉ biết bấy nhiêu đó thôi...

Đối với tôi bài học quý giá nhất là yêu không chưa đủ, mà tình yêu (tình vợ chồng, tình con cái) cần thêm sự hiểu biết và công phu rèn luyện, như bao việc làm khác, để được thành công. Ví dụ một cô ca sĩ yêu hát, yêu với tất cả con tim và sự đam mê cuồng nhiệt, nhưng nếu cô không học hát, không luyện thanh, không học nhạc lý, thì chắc chắn cô sẽ không thành một người ca sĩ nổi tiếng. Và rất may cho tôi là những sách vở, tài liệu, nghiên cứu về hôn nhân, tình yêu, cách làm cha mẹ...v.v. có đầy dẫy trên thị trường để tôi học hỏi.

Vì vậy lần sau (vẫn phải còn niềm tin chứ!) trước khi bước vào tình yêu tôi sẽ bước vào thư viện, bước vào tiệm sách, lướt trên internet...v.v. Tôi cần phải học hỏi thật nhiều, nhất là về giáo dục con cái. Trong vai trò làm vợ, tôi đã thất bại... hy vọng sẽ có cơ hội lần nữa. Nhưng trong vai trò làm mẹ tôi không thể thất bại vì tôi chỉ có một cơ hội duy nhất mà thôi.

Nguyễn Cao Kỳ Duyên
www.kyduyenhouse.com

Kính vạn hoa thành phố

Kính vạn hoa thành phố (Một cách nhìn Hà Nội đầu thế kỷ XXI)
26/04/2009 07:48
(HNM) - Ngày Tết, người ta được hưởng cái thú đi bộ. Thành phố vắng vẻ, tinh tươm, chả pháo nổ hay kẹt xe tắc đường. "Ô sin", thợ thuyền về quê. Nhà trọ sinh viên vắng tanh. Thế rồi bật ra câu hỏi: "Thật sự thì chen chúc trong Thủ đô mình ngày thường có tới chục triệu người không?".



Nhiều nông dân ra thành thị tìm kiếm việc làm. Ảnh: Thái Hiền
Điều tích cực thì chúng ta đã nói đến nhiều: cung cấp thóc gạo, thực phẩm, đất đai, nhân lực, nguyên vật liệu... Người tài, người đẹp từ Quảng Bình, Thanh Hóa ra, Lạng Sơn xuống, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, xó xỉnh chợ búa đâu đâu cũng gặp... Đến đây với khát vọng đổi đời, chả mấy kẻ uể oải, đa phần đều năng nổ, bổ sung phần cần cù mạnh bạo vào cái nhịp yếm thế của người phố. "Hội tụ - Kết tinh - Lan tỏa", bổ sung sinh lực, tóm lại là có rất nhiều điều hay để nói về họ. Một nhận xét khác: "mỏ" nhân tài cho Thăng Long xưa nay lớn nhất là Nghệ Tĩnh và xứ Quảng, có lẽ còn màu mỡ hơn cả Kinh Bắc, Đông, Đoài, bởi người Nghệ, người Quảng cạnh tài năng còn là ý chí vô song.

Nhưng lại cũng có cái dở, mà chả hề ít. Sự phát triển làm khoảng cách địa lý giữa thành thị với nông thôn gần lại, nhưng cái hố sâu về mức sống, văn hóa, tập quán... lại hở to ra. Những chú phụ nề hơn chục tuổi từ Bắc Giang xuống hay nghêu ngao câu hát về một tình yêu dang dở. Chưa hề thất tình, hẳn thế. Nhưng có lẽ trong vô thức, hằng ngày thấy cả lũ "em Chã" bằng tuổi, chú chả thể bằng lòng về phận mình. Và chú cũng có những ước mơ chứ, có điều chả hướng về ngôi nhà trên đồi có mẹ già cằn cỗi. Nông thôn đang không giữ được người. Cái êm ả sau lũy tre làng chỉ có nghĩa là ăn đã đủ, mặc không bị rét nữa thôi. Nhưng thế chưa đủ. Đất đai ít, bởi người đẻ mãi ra, trồng cấy sinh lợi ít. Một sào ruộng chịu nhiều khoản: thủy lợi, khuyến nông, phân hóa học, thuốc trừ sâu rầy... mà trời không thương có khi mất cả. Một "suất đinh" chịu đóng góp đủ các thứ quỹ xóa đói giảm nghèo, tiếp khách, bảo tồn di tích, khuyến học, người cao tuổi, cựu chiến binh, văn nghệ... của xã, thôn, của họ tộc. Thế là phát canh lấy thóc cho bố mẹ ăn, còn mình "ra đi vào chốn đô hội", chả biết làm nghề gì khác ngoài hiến dâng sức vóc. Cũng không ít đàn bà, với "vốn tự có". Cái sự ra đi ấy có thể quy cho là bần cùng hóa?

Làng xóm nhiều nơi, vùng xa là chính, đàn ông, thanh niên vãn cả, còn lại là ông già, bà lão và những anh dốt nát chả có tài cán, gan góc càng không. Nhà văn Dạ Ngân "miêu tả" bằng chữ "trống toang". Ra đồng tinh đàn bà, tuy đã có đôi ủng cao su buộc cạp lên quá gối lội bùn tiện hơn, nhưng cái việc sấp mặt xuống cấy thì không thể trốn. Tệ hơn là cái nạn cường hào mới. Người giỏi giang ra tỉnh học nghề rồi ở lại, bằng không cứ lao động đơn giản cũng kiếm bằng mấy chân quê. Tết đến, ít hào đem về lại đóng tiền xây nhà thờ họ, mộ tổ, cùng bao thứ quỹ chỉ ở xó xỉnh mới có. Mấy chú đánh giày, bán báo qua bao lần "bắt cóc bỏ đĩa", nghĩa là những đợt "làm sạch phố phường", lại nhẩy phắt ra phố. Chúng ưa thích cái "vị" tự do (dù đầy cạm bẫy) hơn tôn ti trong lũy tre chăng? Và thanh niên ăm ắp khát vọng với tài năng, còn chỗ nào có thể đem lại học vấn, cơ hội đổi đời hơn thành phố? Chả lẽ học xong rồi về quê, nơi lắm khi sự êm đềm lại như một tấm lưới trói chặt cá tính, nghĩ gì, nói gì cũng không thể trái lời ông trưởng họ...

Vùng nông thôn gần thì sao? Không thể không nhận thấy là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thay đổi nhiều làng quê cũ kỹ. Giao thông phát triển, những khu công nghiệp mọc lên đem lại bộ mặt mới mẻ, hiện đại. Các dự án đem lại công ăn việc làm. Nhiều làng nghề đang suy sụp hồi sinh. Thanh niên rành vi tính, kỹ thuật mới, hay có thể tậu con xe tải chạy khắp làng.

Nhưng cạnh phần được đó, lại là bao cái đáng tiếc. Tiếc mà không níu được, có lẽ là những di sản gắn với đời sống nông nghiệp. Nhiều nơi đập cổng làng, xén đất đình cho ô tô đi. Cái hình ảnh một làng quê xấu đi là rõ nhất: đố thấy còn nhà tranh, nhưng "kiến trúc" mới chả có quy hoạch quy chuẩn nào, cứ xây chằn chặn xìn xịt mà cái nọ cãi cái kia. Vườn tược, cây cối, ao chuôm biến mất khiến nước thải chẳng còn chỗ chảy, vừa đem theo cái vẻ êm đềm thanh mát, vừa khiến hàng xóm to tiếng.

Người nông thôn mang vô vàn sức lao động đến, kèm theo cách sống của họ. Tư duy tùy tiện, áp dụng lệ làng, xây cất cơi nới, đi đứng hồn nhiên, phạm luật mà không biết. Đa phần lao động đơn giản, họ thành công cụ cho người chủ, có thể bị bóc lột, làm nạn nhân, cũng có khi phá đám lại chút ít. Thành phố cần họ và hiển nhiên, "xếp" họ vào đẳng cấp dươi dưới. Với cái "dươi dưới" ấy và với tâm lý đi ở tạm "hàng xóm", liệu họ có yêu quý, lo cho cái cộng đồng chung bằng cho làng nước mình? Từ đấy đến chỗ vứt con chuột ra đường, đái một bãi "mặc bố thằng nào ngửi" rất mỏng. Nhưng có những con người có chí tiến thủ, học hành đầy đủ, chiếm được những vị trí cao, đủ quyền lực định đoạt việc lớn. Sự tác động của họ vào đời sống đô thị có hay dở của nó, chỉ xin nêu ra ở đây cái phía không tích cực.

Từ nơi khác đến lập nghiệp, cái tâm lý không tự tin và cũng chả tin người rất dễ có. "Cơ chế" cục bộ, co cụm để bảo vệ nhau xuất hiện. Những "tập" người hình thành xung quanh vị "gia trưởng" mới để "chào cờ xã ta". Người huyện người họ kéo ra, dùng người tài theo kiểu hẹp hòi... Ác nghiệt nhất là những ông tiểu nông ấy mà càng quyền cao chức trọng, học hàm học vị xum xuê với cả cán bộ đảng viên nữa thì càng "Thôi rồi Hà Nội ơi!". Nhiều yếu tố khiến cơ cấu dân cư thành phố vỡ một cách "tinh tế", công tác tổ chức, cán bộ bị ảnh hưởng.

Cái tâm lý "chín bỏ làm mười" thâm căn cố đế chiếm dụng, lấn át tư duy duy lý - nhất là trong khoa học, khiến nhiều khảo sát, điều tra, giải quyết vấn đề không được đẩy đến cùng. Và còn những biến thái nhỏ li ti nữa không thể không nghĩ tới. Như là liệu không gắn bó, yêu quý Hà Nội, người ta có chỉ tính tới những giải pháp ngắn hạn, "có tính chất nhiệm kỳ" cho nó? Như là một thành phố không có những dòng họ trí thức lớn như Nguyễn Khoa, Thân Trọng, Hồ Đắc ở Huế, hay "Hà Tĩnh họ Phan, Nghệ An họ Hồ", thì liệu có mất mát không? Nói thế thật ra không chính xác lắm, vì Hà Nội chi chít làng xóm, dòng tộc khoa bảng. Nhưng sao đã ngót nghìn năm theo nho giáo, trí thức đô thị nhiều người hủy tiết tháo đi, hành xử cứ hay khép lại, không nói ra cái điều họ nghĩ? Có một nỗi ám ảnh thường trực nào chăng?

Thành phố của chúng ta đa sắc thật. Những mảng màu. Những tập người. Những thời khắc... Hệt như cái kính vạn hoa, chỉ nghiêng đi một tí đã thấy khác.






Trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm cũa tác giả Đặng Trần Côn mở đầu bằng 2 câu thơ bất hữu:

"Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên."

Nói về hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam trong thời ly loạn. Hai câu thơ này hàm chứa rất nhiều điều mà người phụ nữ ‘khách má hồng VN’ phải gánh chịu khi đất nước loạn ly trong thời xa xưa. Ngày nay, đất nước VN đã chấm dứt chiến tranh từ năm 1975, không còn trong thời loạn ly; nhưng mĩa mai thay thân phận người phụ nữ ‘khách má hồng VN’ phải gánh chịu nhiều nghiệt ngã, oan trái, khổ đau và truân chuyên nhất trong mọi thời đại theo dòng lịch sử. Nỗi đau khỗ nhục nhã cũa người phụ nữ VN sau năm 1975 là do ai, do chế độ nào? Hởi những ai còn lương tâm lương tri cũa một con người, xin đừng hùa theo đảng cộng phỉ tiếp tục dày xéo ‘khách má hồng VN’.

Kính

Trao đổi Thư tín với Thính giả

Trao đổi Thư tín với Thính giả (ngày 8.5.2009)
Thanh Trúc, phóng viên RFA
2009-05-08
Những cơn mua dai dẳng mấy hôm nay khiến bầu trời Washington DC vần vũ mây xám và ướt sủng nước. Hình như đang có cơn bão rớt nào đó ghé qua vùng này.

AFP PHOTO
Một quán càphê internet ở Hà Nội.
Bên nhà, nơi thành phố của quí vị, mưa và gió đến từ cơn bão biển số một có làm quí vị lo ngại vì diễn biến thất thường của nó?
Đầu thư, niềm vui đầu tiên mong được chia sẻ cùng qyí vị là càng ngày càng có nhiều thính giả trẻ gởi thư cho RFA.
Dù viết từ ngoài này hay viết từ Việt Nam, thư của quí bạn thường hay có lỗi chính tả, nhưng không hề chi, bởi sự quan tâm và cảm tình quí bạn dành cho RFA quan trọng hơn nhiều.
Thính giả với RFA
Bây giờ Thanh Trúc trả lời từng bạn nhé:
Quang Trung thân mến, muốn gõ được tiếng Việt có dấu, chỉ cần em install trong PC software tiếng Việt rồi sử dụng kiểu chữ Unicode. Quang Trung gắng nghe đài thường nhé.
Cùng bạn Chi Nga, chùa Già Lam trong thành phố Saigon là nơi được nhiều người biết tới. Em có thể hỏi thăm người thân quen nhưng phải rất cẩn thận em ạ.
Lá thư của Cristina từ Na Uy:
Em đã nhận đầy đủ mỗi giờ phát đi của đài, em rất vui vì đây là những tin từ Việt Nam và những gì xảy ra trên quê hương mình.
Cristina,Na Uy
“Hello. Em đã nhận đầy đủ mỗi giờ phát đi của đài, em rất vui vì đây là những tin từ Việt Nam và những gì xảy ra trên quê hương mình. Ngày nào đi làm về là em ôm đài liền à. Em ở Norway một xứ lạnh nhưng nhờ có quí đài và nghe những giọng nói rất hay…”
Cảm ơn Cristina, em có thích nghe Diễn Đàn Bạn Trẻ trên RFA không? Thanh Trúc lấy làm tiếc là vì em hỏi muộn quá, lịch bỏ túi 2009 của RFA hết sạch rồi em ạ.
Bạn trẻ ký tên kathythovn, chỉ email cho RFA mà không nói gì hơn. Nếu bạn muốn nhân bản tin hàng ngày thì vui lòng gởi lại kèm theo lời yêu cầu.
Nhưng mà bạn đang dùng yahoo đấy. Bạn biết gởi vào Việt Nam qua yahoo thì nhiều phần chắc là bị chận lại thôi.
Bạn trẻ tên Hoa ở Vương quốc Hà Lan, muốn tham gia Diễn Đàn Bạn Trẻ. Thế thì hôm nay Trà Mi đã có tiếng nói của em trong chương trình chưa.
Bạn Linh Hoàng mến, câu hỏi của bạn về IE phone và Opera Browser không nằm trong chuyên môn của RFA. Bạn có thể giải thích rõ hơn không?
Bạn trẻ Richard Nguyễn, cảm ơn đã theo dõi RFA rất đều. Trên nguyên tắc đài không thể tự động cung cấp cho thính gỉa số điện thoại của người được phỏng vấn nếu chưa được sự đồng ý của người đó. Mong em thông cảm.
Cùng trường hợp, thư của thính gải Bùi Giản:
“Xin quí anh chị vui lòng gởi cho tôi một số địa chỉ blog và website của các nhà văn, nhà báo và các nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tôn giáo trong nước hiện đang hoạt động…”
Cũng thế, thưa ông, không được phép tiết lộ ra ngoài về địa chỉ và số phone của những người bất đồng chính kiến hoặc các nhà đấu tranh dân chủ trong nứoc vì đó là nguyên tắc. Xin ông hiểu đó là nguyên tắc và cũng là phương thức bảo vệ an toàn cho những vị ấy.
Thưa thính giả Hoàng Nguyên, chúng tôi không thể nào mở attached file ông gởi. Thư của thính giả ký tên ductaicomputer đã đến RFA tuần này, xin báo ông rõ như lời dặn.
Thư qua, Thư về
Tiếp tục trả lời phần thư đọc. Chào bạn Tony ở Thụy Điển, một chương trình sau khi đã phát thường cần một khoảng thời gian để upload lên trên mạng đó Tony, và thỉnh thoảng vì lý do kỹ thuật mà có phần chậm trễ, thỉnh thoảng là do PC của bạn bị slow down.
Vì thế bạn đừng nóng ruột, nhé, dù nắng hay mưa, dù trưa hay sớm, dù giông bão mưa tuyết RFA vẫn đến với người nghe, bạn cố chờ vậy. Cảm ơn bạn thật nhiều.
Đa tạ thư góp ý của thính giả Quang Vũ, thính giả họ Hồ ở trong nước. Nếu quí vị cần thêm điều chi xin cứ thư về cho RFA.
Thính giả tên Sơn ở Việt Nam muốn biết email gởi cho RFA có bị chính quyền Việt Nam theo dõi không? Thưa có và không. Nghĩa là điều này tuỳ thuộc vào cơ sở cung cấp dịch vụ mạng cho người sử dụng có bị theo dõi hay không?
Thưa thính giả Du Hà, muốn download những file mp3 trên máy xuống để nghe xin bấm vào phần ‘Tải Xuống Để Nghe”.
Thưa vị thính giả ký tên “rảnh rỗi”, RFA chỉ gởi bản tin hàng ngày kèm proxy vượt tường lửa cho tất cả những thính giả dùng PC để nghe đài. Chúng tôi không thể gởi file mp3 đi vì dung lượng của những files này rất lớn e không tới được người nghe hay người đọc.
Bạn Trương Anh Lâm mến, bản tin hàng ngày đã được gởi đi, nhưng nếu đang ở xa và ít có cơ hội online thì tạm thời bạn hãy nghe chương trình qua radio vậy nhé. Bận tới nếu truy cập mạng mà vẫn không vào trang nhà RFA được xin bạn báo ngay cho chúng tôi.
Thính giả tên Chương, cho biết vẫn nhận được bản tin hàng ngày mà hầu như chẳng mở được, thỉnh thoảng mới mở được một vài tin…
Thưa ông trong mỗi bản tin hàng ngày đều có kèm proxy để vượt tường lửa. Những proxy này chỉ có giá trị trong tối đa vài ngày thôi. Nếu hôm nay ông nhận được mà để đó không dùng thì chỉ vài ba hôm proxy đó bị block.
Vì thế khi muốn truy cập xin ông click vào bản tin hàng ngày mới nhất, từ đó vẫn nghe được các chương trình đã phát. Kính thư.
Nhắn gửi của Thính giả
Đã bước sang tuần lễ thứ hai của tháng Năm mà âm vang của loạt bài thuyền nhân do RFA thực hiện vẫn đậm trong tâm tư người nghe.
Đó là nội dung các thơ phản hồi của thính giả Kim Chi ngày trước vượt biển tới Batam Indonesia, thính giả Trần Quang ở San Jose California, thính giả Hồ Minh Đào ở Montpellier, Pháp.
Mặc dù loạt bài thuyền nhân của RFA đã xong, nhưng bài quí vị gởi về vẫn sẽ được chúng tôi đọc và chia sẻ. Đa tạ
Thưa vị thính giả ký tên Henry Nguyễn, Thy Nga gởi lời cảm ơn ông. Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân ở San Jose mở của mỗi ngày từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Ngày cuối tuần cần lấy hẹn. Địa chỉ: 1650 Senter Road, San Jose, CA 95112.
Thưa ông Nguyễn Học, những tài liệu ông gởi cho RFA đều có ích cho công việc đưa tin của chúng tôi. Rất cám ơn.
Một thính giả, cho biết đang tu tập theo Pháp Luân Công, gởi cho RFA bức thư dài. Ghi nhận ý kiến và quan điểm của ông hay bà. Kính thư.
Và tất nhiên cũng như chắc chắn là bản tin hàng ngày kèm proxy vượt tường lữa đã được gởi đi theo yêu cầu của quí vị Lê Sơn, Tuấn Xuân, Linh Nguyễn, đang sử dụng gmail, thính giả Nguyên Hương hay Nguyễn Hương ở Pháp, thính giả Nguyễn Hùng hay Nguyễn Hưng, xin đừng phiền nếu Thanh Trúc bỏ dấu sai, hai vị đang dùng yahoo mà nếu ở ngoài này thì không có vấn đề.
Thưa thính giả họ Hồ đang ở thành phố Hồ Chí Minh, để nhận bản tin hàng ngày của RFA xin đổi qua gmail hay hotmail thay vì yahoo như hiện tại.
Cảm ơn thính giả Hùng Anh, ân cần và chu đáo cho RFA biết đã nhận được tin của đài. Bạn không xao nhãng chương trình buổi tối nào của đài chứ?
Đến đây thì Thanh Trúc nghĩ có có thể mời quí vị nghe một vài lời thoại:
Phát thanh đời sống tôn giáo về Việt Nam rất nhiều, tôi xin cảm ơn, bà con nông dân Việt Nam rất tin vào đài RFA…
Thính giả VN
“Tôi là một dân oan ở tỉnh Tiền Giang, tôi bị người cộng sản cướp đất và bị đánh mà không ai giải quyết hết. Cái nỗi ao ước của tôi bình dị lắm, tôi muốn chị đưa tiếng nói của tôi đến thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để trả lại tài sản hợp pháp cho tôi, các ông ấy phải bồi thường oan sai. Xin điện cho tôi theo số điện thoại….”
Một người nghe từ Nebraska:
“Kính gởi đài Á Châu Tự Do, hôm qua cũng khoảng giờ này chúng tôi nghe tới tin anh em công nhân ở Việt Nam qua bên Mỹ này lao động và chúng tôi truyền miệng nhau hoặc mở cho đồng hương nghe lại. Rất là tức tối! Một người Việt ở bên New Orleans, đã mang một số công nhân Việt Nam qua bên này lao động mà làm những điều không tốt. Nếu có thể được tôi muốn chia sẻ thông tin này…”
Thính giả trong nước:
“…Phát thanh đời sống tôn giáo về Việt Nam rất nhiều, tôi xin cảm ơn, bà con nông dân Việt Nam rất tin vào đài RFA…”
Rất tiếc là có nhiều âm thanh trong hộp thoại chứng tỏ cho chúng tôi thấy quí vị đã gọi nhưng sau tiếng bíp và khoảng im lặng để chờ quí vị nhắn vào mày thì nhiều người đã ngập ngừng không rõ phải làm gì ngay lúc đó.
Hay là lời chỉ dẫn của chúng tôi không được rõ lắm? Điều này Thanh Trúc rất muốn biết để có thể điều chỉnh lại, bởi quí thính giả đã bỏ thì giờ lẫn tốn kém để gọi cho RFA mà không nói gì được thì quả là hoài công, phải không ạ.
Bây giờ Thanh Trúc xin phép được chia tay quí vị với lời hứa trở lại tối thứ Sáu tuần tới.
Một lời tái bút đến bạn trẻ ký tên Đức Huy, cũng như các chuyên mục phát thanh khác, thời lượng của Trả Lời Thư Tín không thể kéo dài mười lăm mười sáu phút như em mong. Nhưng Thanh Trúc có bao giờ quên em đâu, phải không?
Thanh Trúc kính thư với lời cầu chúc bình an sức khỏe!

2 Bài Viết của Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn

2 Bài Viết của Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn

Cựu Thủ Tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn vừa đột ngột từ trần vào ngày Thứ Tư 20-5-2009 nhằm ngày 26 tháng 4 năm Kỷ Sửu.

Toàn thể bộ biên tập Take2Tango xin thành kính phân ưu cùng cựu Thủ Tướng Phu Nhân và Tang Quyến. Cựu Thủ Tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn, đã lìa bỏ cỏi trần sau khi hoàn thành thủ tục đệ nạp hồ sơ về Thềm Lục Địa Việt Nam cho Liên Hiệp Quốc hôm 11-5-2009, và phê bình hồ sơ của CSVN là bỏ ngõ hải phận có thể giúp cho Trung Cộng thôn tính thêm lãnh hải và các quần đảo Việt Nam.

Chúng tôi mạn phép xin đăng bài tùy bút "Cần Thơ, quê hương tôi", cũng như bài viết cuối cùng, mang tên "Kỷ niệm học trò" của vị Thủ Tướng cuối cùng của VNCH, một nhà ái quốc đáng kính.

KỶ NIỆM HỌC TRÒ

Tôi may mắn trúng tuyển vào trường trung học Phan Thanh Giản năm 1942, giữa lúc thế chiến 2 lan rộng ở Âu Châu, Á Châu và ầm ĩ khắp Thái Bình Dương. Thật là một niềm vui vô hạn cho gia đình tôi vì trường Phan Thanh Giản là trường trung học công lập duy nhất ở miền Tây Nam Việt. Mỗi năm, trường tổ chức thi tuyển cho hàng ngàn thí sinh không những cho các tỉnh Hậu Giang mà luôn cả hai tỉnh Vỉnh Long và Sa Đéc thuộc Tiền Giang cũng đến Cần Thơ để tranh giành độ 100 chổ vào năm thứ nhất (vừa đủ cho 2 lớp học A và B), tương đương với đệ thất của chương trình trung học ngày nay. Riêng đối với tôi còn là một danh dự và hảnh diện được vào học trong khu trường qui mô đồ sộ, có hàng chục lớp học, hàng dãy lầu đầy đủ phòng việc cho Văn Phòng, các phòng thí nghiệm, phòng đọc sách, cùng các cơ sở đặc biệt như phòng ăn, phòng ngủ, bếp núc, bệnh xá, v.v.. cho học sinh nội trú.

Trong thời điểm này, tại Đông Dương, quân đội Nhật Bổn tràn ngập từ Trung Hoa xuống tận Tân Gia Ba nên Chính quyền Bảo hộ của Pháp ở Đông Dương hợp tác với Nhật Bổn theo đường lối của Chính Phủ Vichy của Pháp chù trương hợp tác với phe Trục (Đức, Ý và Nhật) trong lúc Chính Phủ Pháp Tự Do thành lập tại Luân Đôn quyết tâm xếp hàng với Thế giới Tự Do để đánh bại phe Trục. Do đó từ Bắc vào Nam, quân đội Pháp phải tái phối trí để đề phòng bị quân đội Nhật đánh úp một ngày nào đó.

Tôi vừa học xong năm thứ nhất thì trường sở bị trưng dụng cho Trung đoàn 43 Bộ binh Thuộc địa (43ème RIC) sử dụng. Vì vậy bắt đầu năm thứ hai, trường trung học dời qua trường tiểu học. Cho tới khi tôi học xong chương trình trung học, trường vẫn chưa được dời về vị trí củ. Nhờ sự hợp tác với Pháp nên quân đội Nhật ngang nhiên đổ bộ vào Đông Dương và có mặt từ Bắc chí Nam của đất nước Việt Nam. Dưới thời Pháp thuộc, tại Nam Kỳ, chương trình giáo khoa của trung và tiểu học dạy toàn bằng Pháp văn. Mỗi tuần, chỉ có một giờ dành cho Việt văn, lúc bấy giờ gọi là “annamite”.

Sáu mươi sáu năm đã trôi qua với bao nhiêu biến cố thay đổi, từ chiến tranh sang hòa bình, từ chính trị lệ thuộc Pháp đến độc lập, từ cộng sản ở miền Bắc đến tự do dân chủ của 2 nền cộng hòa ở miền Nam, rồi từ hòa bình trở lại chiến tranh một lần nữa do cộng sản miền Bắc xâm lăng, trả thù đày đọa miền Nam và áp đặt nền “Bắc thuộc” độc tài toàn trị của cộng sản cho đến tận ngày nay. Viết lại chuyện cũ của tuổi học trò cách đây hơn nửa thế kỷ không thể tránh khỏi một vài lầm lổi thiếu sót.

Kỷ niệm đầu tiên là sân trường bổng nhiên được đào nhiều hầm trú ẩn hàng ngang dãy dọc để mỗi khi có còi hụ báo động máy bay Mỹ bay đến giội bom cơ sở quân sự Nhật Bổn thì toàn trường chạy nhanh xuống hầm để tránh bom. Thú thật tuổi học trò là tuổi biếng nhác và ham vui. Dân Cần Thơ chạy bom cả trăm lần nhưng chưa hề bị giội bom lần nào. Do đó khi đến trường học là mong có còi hụ, nhất là bữa nào mà đêm trước đó bị còi hụ, toàn tỉnh lỵ tắt hết đèn nên không ai thuộc bài học phải trả hôm sau. Ngoài ra, thời gian trú ẩn dưới hầm là thời gian vui nhộn nhất. Bao nhiêu câu chuyện vui buồn, “chọc huê”, tiếu lâm đều được mang ra tường thuât chọc cười ồn ào như nhóm chợ.

Cũng cần nhắc lại trong 2 năm 1944 và 1945, vì Sài Gòn bị giội bom quá nặng nên các trường học tại Sài Gòn đều bị đóng cửa. Các chị Gia Long nguyên quán Cần Thơ tản cư về tỉnh nhà xin vào học lớp tương đương của trung học Phan Thanh Giản. Mỗi lần có còi hụ là khổ sở cho các chị vì học sinh toàn trường đều mang guốc đi học nên khi bị thúc hối chạy nhanh xuống hầm, nam cũng như nữ đều bỏ rớt guốc lại sau lưng mình. Mỗi lần còi hụ chấm dứt là một màn tìm guốc và đổi guốc vô cùng nhôn nhịp sôi nổi, nhất là đổi guốc giữa nam và nữ học sinh. Chưa hết. Khi trở vào lớp học thì cả lớp cười rần lên vì trong lúc bỏ lớp chạy, thế mà có cậu nào trốn ở lại một phút để viết trên bản đen hàng chử to tướng “CÁ ĐỐI NẰM TRONG CỐI ĐÁ”. Đến khi thầy Đối giám thị nghe quá ồn ào, vào kiểm soát hỏi ai viết thì lặng im cả lớp. Đúng là nhất quỷ, nhì ma, thứ ba …”.

Trong năm thứ nhất, GS Hựu dạy Pháp văn. Các giáo sư Trần dạy Lý Hóa, GS Tuyết dạy Vạn Vật, GS Tiến dạy Sử Địa, GS Can dạy Toán, GS Tứ dạy Việt Văn, GS Ty dạy hội họa, v.v… Riêng GS Hựu đã để lại trong trí tôi nhiều ấn tương sâu đậm khó quên. Ông rất hiền đức, đôn hậu, tận tụy, chăm sóc học sinh từng chi tiết. Mỗi lần dạy tới bài nào, ông cũng bỏ bục cao bước xuống sàn gạch vừa đọc bài, vừa làm bộ tịch y như đóng kịch, mô tả đúng từng câu, từng chử, làm cho học sinh không sao quên được. Tôi còn nhớ rõ khi dạy bài “Người tiều phu” (Le bucheron), ông vừa đọc câu đầu “Un pauvre bucheron, tout couvert de ramée”, vừa khom lưng xuống nửa người, hai tay đưa lên vai phải giống như đang kềm bó củi nặng trĩu trên vai, đi từng bước ngắn để diễn tả bó củi quá nặng, vừa lê bước chậm chạp vừa thở hổn hển. Ông vốn thấp người, khổ người hơi tròn mặc dù lúc bấy giờ giáo sư hảy còn trẻ, nhưng đóng đúng vai tiều phu trong truyện, một tiều phu phải lam lũ cực nhọc lắm mới kiếm được miếng ăn hàng ngày. Thật là sống động. Tôi vẫn còn nhớ hình dáng Thầy Hựu y như mới đâu đây mặc dù 66 năm đã trôi qua.

Sang năm thứ hai, giáo sư Pháp văn là Thầy Trương Vĩnh Khánh, cháu nội của nhà văn hào bác học Trương Vĩnh Ký. Giáo sư thuộc gia đình giàu có, quyền quý trong Nam, đậu bằng cử nhân văn chương bên Pháp. Khác với tất cả giáo sư dạy trường Phan Thanh Giản, GS Khánh to lớn, phương phi hơn mọi người. Thời buổi chiến tranh, gạo châu củi quế. Trong lúc các thầy mặt quần short và áo sơ-mi đến trường, GS Khánh lúc nào cũng mặt đồ lớn loại tuýt-so (tussor) đắt tiền. Nếu các thầy khác đi bộ hoặc đạp xe máy đến trường thì GS Khánh chểm chệ ngồi xe kéo, miệng ngậm điếu xi-gà trông oai phong lẩm liệt. Khi thầy giảng bài trong lớp, các học sinh đàn anh bỏ ghế ngồi dưới lớp lên giành ngồi ghế hàng đầu. Để bò lên phía sau bảng đen lượm điếu thuốc xi-gà tắt lửa bị thầy quăng vào góc tường sau tấm bảng. Có lần thầy bắt được một anh lượm thuốc, thầy ôn tồn bảo “Xi-gà khi tắt rồi thì khét lắm. Có đốt lại hút cũng không ngon”. Mặc cho thầy giải thích, nếu điếu thuốc bị liệng chưa hút được phân nửa thì các học sinh ghiền thuốc vẫn lượm như thường… Thầy dạy luôn môn Luân lý. Có lần dạy tới bài “Biết ơn cha mẹ”, thầy gọi một trò lên để hỏi “Tại sao trò phải biết ơn cha mẹ?”. Trò này trả lời “Vì cha mẹ sanh ra tôi”. Ông vặn hỏi “Trò đâu có xin ổng bả sanh ra trò đâu?”. Trò này cũng khá lanh trí nói thêm “Vì cha me có công nuôi dưỡng dạy dỗ tôi”. Ông vặn hỏi tiếp “Sanh ra mà không nuôi, rủi trò chết đói thì ổng bả ở tù sao?”. Đối đáp một lúc thì học trò đuối lý. Tôi miển trình bày GS Khánh giải thích lý do tại sao, vì sẽ làm mất nhiều thời giờ. Điều tôi muốn lưu ý là phương pháp giảng bài bằng cách đối đáp giúp cho học sinh dể nhớ và dể hiểu hơn là đơn phương đọc bài làm cho học sinh nhàm chán.

Cũng nên mở dấu ngoặc tại đây để nói thêm là sau khi thế chiến 2 chấm dứt, Pháp trở lại tái chiếm Nam Kỳ. Trong lúc chiến tranh giành độc lập bộc phát trên toàn quốc, Pháp vẫn cố gìn giử thuộc địa cũ là Nam Kỳ, nên mới thiết lập Chính Phủ Nam Kỳ tự trị. Khi bác sĩ Lê Văn Hoạch, người Cần Thơ được mời làm Thủ Tướng Nam Kỳ, GS Trương Vĩnh Khánh được tham gia nội các với chức vụ Tổng Trưởng Giáo Dục. Rủi thay, trong một chuyến kinh lý miền Tây, khi đoàn xe của ông đến Giồng Dứa thuộc xã Long Định, cách ngã ba Trung Lương độ 3 cây số thì bị Việt Minh phục kích, hạ sát ông tại đây.

Sang năm thứ ba (1944), GS dạy Pháp văn là Bà Le Guezenec, phu nhân của Trưởng Ty Bưu điện Cần Thơ. Từ năm thứ ba lên năm thứ tư, có thay đổi một số giáo sư như GS Trực dạy toán, GS Trọng dạy Vạn Vật, GS Giỏi dạy Việt Văn, v.v…. Riêng Bà Le Guézenec đã để một kỷ niệm khó quên cho lớp tôi trong giờ văn phạm Pháp văn, khi Bà dạy cách chia động từ có vần “OUDRE” sau cùng. Lý do là vì Bà gọi môt nam sinh chia động từ “remoudre” và một nữ sinh chia động từ “recoudre” làm cho cả lớp cười rộ lên cả mấy phút, không ngừng được, làm nghẻn lớp học, khiến bà nổi giận bỏ ra về. Học sinh lại càng mừng thêm, được dịp mạnh ai nấy to tiếng phát biều ầm lên. Đến lượt các chị phải bỏ lớp và sau cùng ra về luôn.

Sang năm thứ tư, thầy dạy Pháp văn là thầy Nguyễn Bá Cường. Thầy này cũng đỗ cử nhân Văn Chương bên Pháp. Thầy dạy rất hay, hấp dẫn, thao thao bất tuyệt. Ngặt một nổi, thầy nói tiếng Pháp còn nặng giọng Bắc nên mỗi vần “AIN” sau cùng của bất cứ chử nào cũng được thầy đọc rất mạnh thành “ANH” (đọc theo Bắc), khiến anh em chúng tôi làm một câu sau đây “DeMANH maTANH (Demain matin), un petit MaroCANH (Marocain), tout habillé de saTANH (satin), grimpe le Massif ArmoriCANH (Armoricain), en quête des raiZANH (raisins), v.v… Cứ độ còn 5 phút trước khi thầy đến lớp dạy, cả lớp đồng lượt đọc câu này, và nhấn thật mạnh vần “ANH”, rồi cùng cười rộn cả lớp. Tuổi trẻ thật hồn nhiên.

Ngoài việc học hành, tôi còn được chọn tham gia đội bóng tròn của trường, thường giao đấu với các hội bạn trong tỉnh. Rảnh rỗi hơn nữa thì đi bơi lội ở sông Cần Thơ hoặc sông Cáí Khế, hoặc tản bộ lên Bình Thũy hay vô Cái Răng. Ngoài ra, có môn chạy bộ là vui nhất. Tôi có chân trong toán chạy bộ của trường. Hàng ngày tập dượt chạy bộ từ đường Ngô Quyền xuống đến Hoà Bình (còn gọi là Hàng Xoài) thì quẹo mặt, đến đường Nguyễn An Ninh (còn gọi là Hàng Bả Đậu) thì quẹo trái, thẳng xuống tận đường mé sông thì quẹo trái, tới giáp Ngô Quyền thì chạy trở về trường. Có lẽ nhờ chơi nhiều môn thể thao lúc còn trẻ nên sau này khi được phục vụ tại các tỉnh, tôi có điều kiện thuận tiện chơi thêm hai môn khác nữa là tennis và trượt nước (ski nautique), giúp tôi gìn giử sức khỏe và trí tuệ đến ngày nay, còn đủ khả năng viết lách và tham gia tích cực vào công cuộc đấu tranh cho đất nước.

Đã nhắc đến các thầy cô khả kính mà không nói đến một vài đồng môn thân thiết là một thiếu sót. Trong suốt mấy năm học, mỗi lần lên lớp đều được chỉ định chổ ngồi theo thứ tự mẫu tự nên các bạn ngồi cùng bàn gặp nhau trở lại như những năm trước. Nào là Huỳnh Ngọc Anh, thuộc gia đình trung lưu, vừa ra trường thì được đi du học bên Pháp. Sau khi đổ tiến sĩ dược khoa, anh Anh về phục vụ đất nước, trước hết ở Bộ Y Tế, làm đến chức Tổng Giám Đốc. Kế tiếp là Đặng Tứ Bửu, con của một bác sĩ ở Cần Thơ, cũng sang Pháp du học về hàng hải, sau về nước phục vụ cho Hải Quân Công Xưởng. Tôi (Cẩn) ngồi giữa Bửu và Huỳnh Đăng Giai, bị một giáo sư gọi “bộ ba BCG” (tên tắt của một loại thuốc chích ngừa bệnh lao phổi). Cho tới nay, chúng tôi vẫn chưa rõ vì sao bị gán một biệt danh như vậy. Hồi xưa, học sinh rất sợ các thầy nên không dám hỏi lý do tại sao. Ra trường (năm 1947) được 6 năm thì tôi gặp trở lại anh Giai cùng trúng tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh với tôi. Nhiệm sở cuối cùng của Giai là Phó Tỉnh Trưởng Gia Định. Đến năm 1967, tôi được gặp trở lại anh Anh cùng đắc cử với tôi vào Hạ nghị viện đệ nhị cộng hòa. Một anh bạn khác là Cao Minh Thiện, học nhất lớp, vừa ra trường thì đi theo kháng chiến, hy sinh cho đất nước trong thời gian Khu 9 cách mạng ở miền Tây đánh Pháp “thất điên bát đảo”. Một anh bạn rất thân khác cùng lớp và ở trọ cạnh nhà tôi là anh Trần Văn Trọng viết nhạc từ lúc còn theo học Phan Thanh Giản Cần Thơ, về sau trở thành nhạc sĩ tài danh “Anh Việt” rất được đồng bào ngưỡng mộ. Năm 1951, tôi gặp lại anh Trọng trong bối cảnh bị động viên vào Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Đến ngày mất nước, anh Trọng là đại tá đảm nhận chức vụ Cục trưởng Quân cụ QLVNCH.

Mỗi năm đến ngày đọc diễn văn chúc Tết thầy cô, học sinh chúng tôi góp tiền để tặng hoa và mua sắm bánh trái cùng nước ngọt để khoản đãi thầy cô và liên hoan trọn lớp. Đây là một cơ hội để tôi hát giúp vui với nhạc đệm của Anh Việt. Khi mới vào trung học thì những bài tôi thường hát gồm có “Làng tôi”, “Chùa Hương”, “Thiên Thai” hoặc Bến Cũ” của Anh Việt. Nhưng hai năm chót, cùng với cao trào yêu nước bùng cháy trong lòng người dân khai mào cho “cách mạng mủa thu”, sinh hoạt trong lớp học cũng thay đổi theo. Đơn ca được thay thế bằng đồng ca của cả lớp với những bản nhạc hùng yêu nước Chí Lăng và Bạch Đằng Giang nổi tiếng.

Trong năm đồng môn vừa kể, bốn người đã quá vãng, chỉ trừ anh Giai là còn sống nhưng đang ở trong tình trạng tàn phế tại một “nursing home” của miền Đông Hoa Kỳ. Thời gian tàn phá vạn vật, kể cả con người, một cách khác nhau tùy theo định mệnh do Thượng Đế ban cho.

Riêng tôi rời Cần Thơ ở tuổi 20, lên Sài Gòn làm việc được vài tháng thì bị động viên vào Khóa 1 Thủ Đức. Sau khi giải ngũ vì lý do sức khỏe, tôi trúng tuyển vào Khóa 1 Học viện Quốc Gia Hành Chánh. Rồi thì một chuổi dài dấn thân trên đường phục vụ đất nước. Bước đi chập chững đầu tiên là cùng đồng bào quận Cái Bè (Định Tường) động viên nhân tài vật lực xã ấp đánh bại chiến tranh du kích của Cộng sản trong quận, tạo điều kiện để nhân dân địa phương vùng lên quản trị công việc điều hành quê hương của họ ở giai tầng xã ấp. Tôi lớn lên bên bờ Sông Hậu, phục vụ ở quận và tỉnh dọc theo Sông Tiền, Sông Vàm Cỏ và vàm sông Soái Rạp ở miền Nam. Tôi có cơ hội thăm viếng chiến sĩ và đồng bào từ Bến Hải đến Cà Mau cùng thu lượm kinh nghiệm để tìm phương thức đương đầu với thế chiến nhân dân do cộng sản Bắc Việt chủ trương để xích hóa miền Nam. Tôi được rèn luyện dưới thời đệ nhất và trưởng thành trong thời đệ nhị Cộng Hòa (1954-75), suốt 21 năm mà đồng bào miền Nam được hưởng đời sống tự do dân chủ nhất trong lịch sử nước nhà, tất nhiên hơn xa cả ngày nay dưới cái chế độ ngục tù được gọi là xã hội chủ nghĩa.

Một sự ngẫu nhiên trong đời phục vụ đất nước của tôi là dành chuyến kinh lý cuối cùng cho vùng Thủ Thừa Bến Lức, Long An, một tỉnh cũ tôi từng phục vụ, trước khi tôi từ chức chỉ huy hành chánh địa phương để ứng cử dân biểu Hạ nghị viện. Tháng 4 năm 1975. Cộng sản Bắc Việt vừa chiếm xong tuyến phòng thủ Phan Rang và đang chuyển quân áp lực Vùng 3 trong khi 2 sư đoàn chủ lực Bắc Việt đang tìm cách đánh bại Sư đoàn 18 bộ binh anh hùng của Quân Lực VNCH tại Long Khánh. Ngày 18 tháng 4, tôi đến thị sát mặt trận Thủ Thừa, nơi mà lực lượng địa phương quân của ta được tăng cường một trung đoàn của SĐ7BB chống trả mãnh liệt sức tấn công của 2 sư đoàn 5 và 8 của Việt Cộng với ý đồ cắt đứt quốc lộ 4 nối liền thủ đô với toàn thể các tỉnh miền Tây. Lúc bấy giờ, Sư đoàn 22 bộ binh từ miền Trung được tái phối trí về Bến Lức án ngữ cửa ngỏ miền Tây của đô thành. Cộng sản cũng vận dụng quân số cấp sư đoàn bao vây SĐ22BB để ngăn chận không cho tiếp cứu lực lượng ta tại Thủ Thừa.

Sau khi từ giã Thủ Thừa, trên đường bay lên Bến Lức viếng thăm SĐ22BB, tôi được thông báo Nam Vang đã rơi vào tay Khmer Đỏ và tin đau lòng là Hoàng thân Sirik Matak, Cố Vấn Chính Phủ và Tướng Long Boret, Thủ Tướng Kam Pu Chia đã bị lực lượng Pol Pot hạ sát. Số phận Kam Pu Chia và Việt Nam gắn liền nhau trong thế bất khả phân sau khi Hoa Kỳ đã bắt tay sống chung hòa bình với Trung Cộng và Nga Xô, và như vậy thì trong chính sách đối ngoại của cường quốc này không còn chổ đứng cho hai tiền đồn chống Cộng ở bán đảo Đông Dương nữa.

Thật bất hạnh cho dân tộc mình đã chọn lầm một đồng minh bất nghĩa.

Nguyễn Bá Cẩn


CẦN THƠ, QUÊ HƯƠNG TÔI

Nguyễn Bá Cẩn

Đoàn học sinh tuổi trung bình từ 12 đến 18 đang diễn hành đều bước trên Lộ Mới là một trong những con đường nhộn nhịp nhất chạy từ trung tâm thành phố Cần Thơ đến sông Cái Khế. Con đường này, nay được gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Cách đây 60 năm, người Pháp cai trị Đông Dương nên đã có thời kỳ con Lộ Mới này được đổi tên là Capitaine d'Hers, sau nữa đổi thành Phan Thanh Giản cho đến năm 1975. Nó chạy xuyên ngang một khu đông đúc gồm có trại gia binh và trường trung học Phan Thanh Giản ở phía Nam và khu gia cư ở phía Bắc lên đến tận sông Cái Khế. Cứ mỗi buổi chiều, đến giờ thể dục thì học sinh trung học tập đi diễn hành ngoài đường và ca ngợi nước Pháp với hai câu hát được Chính Phủ Pháp tung ra, “Maréchal! Nous voilà! Devant toi le sauveur de la France” (Thưa Thống Chế, vị cứu tinh của nước Pháp! Chúng tôi đang trình diện trước mặt Ngài!), để vinh danh Thống Chế Pétain, vị anh hùng của trận Verdun hồi thế chiến thứ I.

Năm 1941, khi Phát Xít Đức xâm chiếm các nước Âu Châu, trong đó có Pháp, Chánh Phủ Cộng Hòa Pháp kể cả Quốc Hội tự động giải tán. Quốc gia Pháp được thành lập tại miền Nam nước Pháp dưới quyền lãnh đạo của Thống Chế Pétain, chủ trương hợp tác với Phát Xít Đức để cứu vãn nước Pháp, ít lắm là theo lời tuyên bố của ông ta, trong lúc đại đa số người dân Pháp hướng về Thiếu Tướng De Gaulle, đang kêu gọi toàn quốc kháng chiến, từ Luân Đôn (Anh Quốc) là nơi ông đã thành lập Chính Phủ Pháp Tự Do và lãnh đạo cuộc chiến đánh đuổi Đức Quốc Xã để giải phóng nước Pháp.

Tại buổi ra mắt sách của Văn Đàn Đồng Tâm.

Nhà tôi nghèo. Quê tôi là làng Phú Hữu, ở tận cực Nam của tỉnh Cần Thơ, cách tỉnh lỵ độ 18 cây số. Bên nội tôi sống bằng nghề nông. Trước năm 1945, xã Phú Hữu cũng như tất cả các xã khác, trừ xã tại quân lỵ, chỉ vỏn vẹn có một lớp Đồng Ấu để dạy trẻ con biết đọc và viết mà thôi. Với hoài bảo cho các con ăn học để tương lai được sáng sủa hơn là cứ miệt mài với ruộng vườn quanh năm suốt tháng mà không thoát cảnh nghèo nàn, ba mẹ tôi dời lên ở tỉnh lỵ Cần Thơ, cất nhà sát bên cạnh trường trung học Lộ Mới, tiện cho việc học hành của các con sau này.

Quê tôi nghèo. Bên nội tôi gồm khoảng 50 gia đình thuộc ba bốn thế hệ chia nhau chiếm trọn con Kinh Nhỏ là nơi phát nguồn của Rạch Mái Dầm giáp ranh với tỉnh Sóc Trăng. Toàn dân trong xã làm ruộng, hết mùa lúa ở quê nhà thì rủ nhau bơi xuồng xuống Ba Xuyên gặt lúa để kiếm thêm chút đỉnh, hoặc bằng tiền hoặc bằng hiện vật là lúa để tăng cường lợi tức thấp kém của mình. Lúc bấy giờ trong nước chỉ làm ruộng một mùa. Người nào siêng năng cần cù thì trồng thêm vài luống khoai hoặc bắp, kiếm thêm thức ăn độn cho gia đình. Nông thôn ta lúc bất giờ chưa biết làm lúa hai mùa hoặc trồng rẫy qui mô để sinh lợi. Sau khi gặt hái, còn lại nửa năm không biết làm gì nên dân làng thường tổ chức cờ bạc và đá gà.

Đất nước tôi nghèo, nghèo lắm. Hơn 90 phần trăm nhân dân sống lam lũ ở nông thôn. Ngoại trừ một thiểu số làm công chức và nghề tiểu công nghệ hoặc tiểu thương, đa số quần chúng sống trong cảnh nghèo đói theo định nghĩa “nghèo đói” của Liên Hiệp Quốc ngày nay. Nước nghèo lại gặp cảnh thế chiến. Gạo thừa thải chút đỉnh nhưng xuất cảng không được. Ngoài ra, Pháp và Nhật tung đòn đánh phá nhau về kinh tế gây nạn đói ở Bắc Việt chết hàng triệu người. Có đủ gạo thì ăn cơm, thiếu gạo thì phải độn khoai cho đỡ đói, và đừng mong mua được đồ biến chế ngoại quốc vì các phe lâm chiến phong tỏa khắp các mặt biển và hải trình.

Trong trọn tỉnh lỵ Cần Thơ, tôi chỉ thấy một chiếc xe hơi của Chánh Tham Biện tức Tỉnh Trưởng người Pháp. Lúc bấy giờ, thế giới chưa có máy lạnh (air conditioner), và máy truyền hình. Tôi cũng chỉ thấy có một tủ lạnh (refrigerator) nơi tư thất của một trong 10 gia đình giàu nhất ở chợ Cần Thơ. Ngoài ra, từ trường trung học cho đến sông Cái Khế, trọn một khu gia cư dọc theo đại lộ Phan Thanh Giản gồm có cả trăm gia đình mà chỉ có nhà ông giáo Chưởng, thầy dạy tôi lớp vỡ lòng tại trường tiểu học tỉnh lỵ, là có một cái máy phát thanh duy nhất. Chiều chủ nhật nào, Lộ Mới cũng đông nghẹt nơi đây vì lối xóm ngồi chiếm nửa mặt lộ trước nhà ông giáo này để nghe Huyền Vũ tường thuật các trận túc cầu quốc tế ở Sài Gòn.

Anh cả của tôi dạy học, lương khoảng 100 đồng bạc Đông Dương. Một người anh khác làm thợ máy cho Công Chánh, lương khoảng 70 đồng. Từng ấy lợi tức giúp má tôi nuôi một gia đình gồm má tôi và 8 anh em. Cho đến khi học năm thứ ba trung học, tôi vẫn còn mặc bà ba và mang guốc cây để đi học như 90 phần trăm bạn bè cùng trường. Một vài học sinh giàu mới mua sắm được “sơ mi” và quần tây ngắn. Ngay cả giáo sư trung học và các công chức cũng đều mặc quần ngắn, lý do là vì hằng 4, 5 năm kể từ ngày thế chiến bùng nổ, không có nhập cảng hàng vải được nữa. Công tư chức mới mua được một chiếc xe đạp để đi làm và dùng cho mọi cuộc di chuyển khác sau giờ làm việc hoặc cuối tuần. Trong lớp học của tôi chỉ có một học sinh duy nhất là anh Lê Đình Thêm, em vợ kỹ sư Phan Khắc Sửu (sau cuộc Cách Mạng và Chỉnh Lý, đảm nhận vai trò Quốc Trưởng Việt Nam), mới có xe đạp. Toàn dân mang guốc cuốc bộ. Cho đến đường cát, sữa đặc và diêm quẹt cũng phải đến Quận Châu Thành hoặc Tòa Hành Chánh Tỉnh xin phiếu mua dùng. Nêu lên một vài cảnh sinh hoạt kinh tế tại tỉnh lỵ mỹ miều Cần Thơ để biết mức độ nghèo khổ của quê hương yêu dấu trước 1945.

Tại tỉnh lỵ thì còn thấy người dân ăn no mặc ấm. Nhưng khi đi sâu vào nông thôn như tôi năm nào cũng sống hai tháng hè tại quê nội, là nơi mà 90 phần trăm dân ta sinh sống, thì cảnh nghèo khó biến thành bần cùng. Đa số nhân dân ăn mặc rách rưới. Vì không có vải nhập cảng nên đã bắt đầu thấy “vải ta” xuất hiện, mình vải hết sức thô vì được dệt bằng bông vải nội địa và dệt bằng tay theo lối tiểu công nghệ. Nhiều gia đình nghèo không mua nổi vải, phải may quần áo bằng bố tời (loại bao bố chỉ gai màu xám lợt để làm bao đựng lúa hoặc đựng gạo). Chính mắt tôi chứng kiến nhiều gia đình nghèo đến nỗi chỉ mua sắm được có một bộ quần áo, dù là bằng bố tời. Khi có việc phải ra khỏi nhà thì vợ hoặc chồng mới dùng đến bộ quần áo duy nhất đó. Ở thôn quê chí rận nhiều, vì vừa nghèo vừa thiếu điều kiện vệ sinh. Cho nên trước khi mặc quần áo bằng bố thì phải trải trên mặt phản và lấy ve chai loại 1 lít, đè thật mạnh và lăn qua lăn lại để giết chí rận, đè nát lên bọn chúng, tiếng nghe “răng rắc”.

Đó là thực tế đời sống ở miền Nam trước khi thế chiến II chấm dứt. Những mỹ từ thường được dùng như “Hòn Ngọc Viễn Đông” để ám chỉ Sài Gòn, bao lơn Thái Bình Dương khi nói đến Việt Nam, và “Tây Đô bên bờ sông Hậu” cũng chỉ nhằm an ủi niềm đau khổ thấp hèn của người dân thuộc địa mà thôi. Có lẽ độc giả thắc mắc tại sao ai cũng nói miền Nam Việt Nam, nhất là miền Tây là một vùng giàu có nhất trong nước, thế mà tại sao tôi lại mô tả đen tối đến thế.

Miền Tây Việt Nam còn được gọi là Hậu Giang chỉ có lúa ruộng. Phần lớn đất đai do người Pháp khai khẩn, như tại Cần Thơ có một số đồn điền người Pháp canh tác ruộng lúa tại những vùng Thới Lai, Cờ Đỏ và miệt kinh xáng như Kinh Bảy Ngàn. Nếu không ở trong tay của Pháp thì cũng ở trong tay của Hoa Kiều vốn dĩ có nhiều vốn liếng lại còn được hưởng đặc quyền đặc lợi thụ đắc qua các hiệp ước ký kết với Triều Thanh trong tinh thần Pháp Hoa lưỡng lợi, chia sẽ miếng mồi thuộc địa. Có một số chủ điền Việt Nam có từ năm, mười cho đến vài trăm mẫu ruộng do hai ba đời cần cù làm lụng tiết kiệm để tậu mãi. Còn lại đa số là tiểu điền chủ có từ một vài sào cho đến một hai mẫu ruộng là cùng. Gặt hái xong được vài chục hoặc vài trăm giạ lúa, một số để dành làm giống cho mùa sau, còn lại để ăn trong năm, thiếu trước hụt sau. Đại đa số người dân trong xã không có ruộng phải xin thuê ruộng để canh tác, được gọi là tá điền, lại còn nghèo hơn tiểu điền chủ hai ba bậc. Trong đại đa số này có một số khá đông không thuê được ruộng thì đi làm công cho chủ điền, từ công việc cày bừa, gieo cấy cho đến khi gặt hái, được trả “lương chết đói” bằng hiện vật là lúa.

Đừng đánh giá Hậu Giang giàu sang khi nhìn thấy một số đại điền chủ người Việt hoặc Minh Hương (Việt lai Tàu) sinh sống thảnh thơi hoặc khi đọc truyện các công tử Bạc Liêu phung phí tài sản trong đó có Cậu Ba Qui con của một đại điền chủ giàu khét tiếng miền Tây, mỗi cuối tuần tự lái máy bay riêng lên Sài Gòn khiêu vũ trác táng với gái “hạng sang” tột bực, đến chiều thứ hai mới lái về nhà. Do đó, mỗi chiều thứ hai, trẻ con chúng tôi ở Lộ Mới thường tụ tập để đón xem máy bay của “Cậu Ba” bay ngang tỉnh lỵ, trên đường về Bạc Liêu.

Trong thời gian thế chiến II, Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương không theo đường lối của nước Pháp Tự Do do De Gaulle lãnh đạo, mà lại nghiêng về Chính Phủ Vichy, tức là chính phủ hợp tác với phe Trục (Đức/Ý/Nhật) ngỡ mong được Nhật Bản để yên. Hy vọng này trở nên hão huyền vì ngày 9/3/1945, Nhật Bản đảo chính Đông Dương để làm bàn đạp tiến chiếm Mã Lai và Singapore. Chính Phủ Trần Trọng Kim ra đời, rồi tiếp đến “Cách Mạng Mùa Thu”, Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị để làm công dân một nước độc lập. Từ trước năm 1944, Đảng Cộng Sản Đông Dương, với một số cán bộ nòng cốt được huấn luyện tại Moscow về đấu tranh giai cấp và cách mạng lật đổ chính quyền, đã biết lợi dụng thời cơ tổ chức kháng chiến đánh phá Nhật Bản, mục đích là mua lòng Trung Hoa và Hoa Kỳ để được viện trợ vũ khí của hai nước này hầu phát triển lực lượng võ trang của họ. Cộng Sản đã lấn lướt các phe phái Quốc Gia trên bình diện chính trị và ngoại giao.

Về nội bộ thì Cộng Sản sẵn có cái vốn kỹ thuật xách động quần chúng đấu tranh nên đã chiếm ưu thế lãnh đạo trong các tổ chức cứu quốc như Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc và sau đó là Cộng Sản liên minh với Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội của Nguyễn Hải Thần, Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh và Đại Việt Dân Chính của Nguyễn Tường Tam. Đến khi Nhật Bản đầu hàng và Chánh Phủ Trần Trọng Kim từ chức, thì thời thế đã chín muồi cho Cộng Sản Hồ Chí Minh phát động quần chúng biểu tình áp lực Bảo Đại và dư luận toàn quốc phải để cho Việt Minh thành lập chính phủ. Cộng Sản vừa có kế hoạch, vừa có cán bộ cuồng nhiệt và liều lĩnh để thực thi kế hoạch, nên ngày 17/8/1945, bọn chúng đã biến cuộc biểu tình tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, thay vì để ủng hộ Chính Phủ Trần Trọng Kim, thành ủng hộ Việt Minh và bất thần cho cán bộ đến chiếm Tòa Công Sứ một cách dễ dàng.

Tại Sài Gòn cũng vậy, trong lúc cán bộ Cộng Sản do Moscow đào tạo Trần Văn Giàu thuyết phục Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất gồm có Đại Việt, Cao Đài và Hòa Hảo gia nhập VNĐLĐMH để giải phóng đất nước thì được tin Bảo Đại mời Việt Minh thành lập chính phủ. Do đó mà Mặt Trận tuyên bố giải tán để trở thành Ủy Ban Lâm Thời Nam Bộ do Trần Văn Giàu cầm đầu. Cứ như thế mà Cộng Sản nhờ núp dưới chiêu bài Việt Minh kháng chiến lần lượt tiếm thâu quyền hành từ Hà Nội, Huế, Sài Gòn và các tỉnh trong toàn quốc. Tại Nam Kỳ, lúc bấy giờ Phật Giáo Hòa Hảo do Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ sáng lập thu hút hàng triệu tín đồ. PGHH chủ trương “hành Đạo giúp Đời” và đặt Ân Đất Nước lên hàng đầu trong Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Do đó các tôn giáo khác, các chánh đảng và đoàn thể yêu nước qui tụ lại thành Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp do Đức Thầy lãnh đạo với sứ mệnh đánh đuổi Pháp để tranh thủ độc lập cho nước nhà.

Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ của Việt Minh là đảng viên Cộng Sản Trần Văn Giàu lo ngại uy thế của Đức Thầy và Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp. Sẵn dịp ngày 8 tháng 9 năm 1945, lãnh tụ PGHH Năm Lửa ở miền Tây tổ chức biểu tình hàng ngàn người tại Cần Thơ để kêu gọi nhân dân ủng hộ Chính Phủ Việt Minh và yêu cầu võ trang quần chúng để chống xâm lăng, Trần Văn Giàu chụp mũ Hòa Hảo nổi loạn để đàn áp cuộc biểu tình và bắt giữ một số tín đồ PGHH, mặc dù cuộc biểu tình đã được thông báo trước cho nhà cầm quyền địa phương. Ngày hôm sau, tức ngày 9 tháng 9, Trần Văn Giàu cho Quốc Gia Tự Vệ Cuộc bao vây trụ sở PGHH tại Sài Gòn để lùng bắt Đức Thầy nhưng Đức Thầy thoát nạn.

Thế chiến thứ II vừa chấm dứt thì Chính Phủ Pháp do De Gaulle lãnh đạo mang quân qua tái chiếm thuộc địa cũ là Nam Kỳ. Tuy Việt Minh chưa ra lệnh “Tiêu thổ kháng chiến”, nhưng chỉ thị dân chúng thi hành chánh sách “Vườn không nhà trống”, bỏ trống thành thị tản cư về quê.. Quân đội Pháp sau khi chiếm xong Sài Gòn đang chuẩn bị tiến đánh các tỉnh. Trước khi chiến cuộc lan tràn đến tỉnh nhà, mẹ tôi hướng dẫn trọn gia đình di tản bằng đường thủy về quê ngoại tại quận lỵ Tam Bình thuộc tỉnh Vĩnh Long. Gia đình chúng tôi chỉ kịp mang theo quần áo và mùng mền, bỏ lại tất cả tài sản, khóa cửa nhà lại để xuống ghe từ chợ Cần Thơ theo sông Cửu Long xuôi miền Nam đến Trà Ôn rồi nương theo kinh đào đến quận Tam Bình. Ghe vừa đến ngang quận lỵ thì thấy dân chúng tập họp đông đảo khác thường tại cầu tàu. Đến khi lại gần thì chứng kiến một cảnh tượng hãi hùng. Trên cầu tàu, một người tuổi độ tứ tuần bị lột áo để mình trần, đang bị cán bộ Cộng Sản hành quyết bằng cách mỗ bụng vì tội đàn áp phong trào “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” của Cộng Sản trước đó vài năm. Nạn nhân là một cựu Chánh Tổng trước kia có cộng tác với cơ quan an ninh của chính quyền Pháp ruồng bắt cán bộ Cộng Sản tổ chức khá đông tại Tam Bình. Một hai tuần sau đó, tôi có dịp chứng kiến một loạt hành quyết khác tại các xã xung quanh quận lỵ. Khác với lần đầu mỗ bụng, các lần sau Cộng Sản chặt đầu các nạn nhơn bằng mã tấu. Thì ra, thay vì dùng súng, Cộng Sản cố tình dùng những phương pháp rùng rợn hơn như chặt đầu và mỗ bụng moi gan để gây khiếp đảm và khủng bố tinh thần dân chúng.

Tạm trú tại Tam Bình độ một tháng thì được tin quân đội Pháp tiến đánh Vĩnh Long nên gia đình tôi lại phải xuống ghe đi qua xã Phú Hữu phía cực Nam của tỉnh Cần Thơ. Gia đình tôi tạm trú tại nhà bà nội tôi ở ấp Kinh Nhỏ. Bà ở một mình trong một căn nhà ba gian, khá lớn. Gian giữa có bàn thờ tổ tiên, cùng một bộ tràng kỷ gõ đen, cẩn ốc xa cừ để tiếp khách. Hai bộ phản bằng ván gõ dầy 1 tấc chiếm phía trước hai gian bìa, còn phía sau thì hai phòng ngủ có cửa gài khóa lại. Phía sau bề ngang rộng ba gian dùng làm kho, sát vách hè có 10 mái đầm (lu cỡ thật lớn ở miền Tây), 5 mái chứa nước mưa để uống quanh năm, 5 mái còn lại đựng lúa giống để gieo mạ mùa lúa tới.

Sở dĩ nhà nội tôi có phần khá hơn bà con trong xóm vì khi sanh tiền, ông nội tôi bao tá được vài chục mẫu ruộng. Sau khi ông qua đời, bà tôi chỉ còn giữ lại ngôi nhà, còn lợi tức cũng chỉ đủ sống đấp đổi qua ngày như đa số bà con nghèo khác. Hai anh tôi mỗi người được Ủy Ban Kháng Hành Tỉnh (Kháng chiến Hành chánh) phát cho hai tháng lương. Mẹ tôi rất tiện tặn vì dự trù có thể tản cư cả năm thì phải lo kinh tế tự túc chớ đâu thể ỷ lại vào hai tháng lương này được. Lớn nhỏ đều đổ ra đồng làm rẫy, hàng ngang hàng dọc. Nào là dọc theo mương thì thả giàn trồng bầu, bí đao, mướp, dưa leo, khổ qua, v.v.. Tận dụng các khoảng đất trống xung quanh nhà để trồng các loại đậu xanh, đỏ, đen, cùng bí rợ, và các loại cải trắng, cải xanh, cải rổ, v.v.. Ngoài công việc trồng trọt, còn phải nghĩ đến thịt, cá để tăng cường dinh dưỡng. Tôi và người anh thứ tư của tôi tổ chức giăng câu, thả chà dưới sông, đặt lọp, lưới cá, mò tôm, v.v.. Các em nhỏ tôi thì chăn nuôi, săn sóc các bầy gà vịt, lượm trứng, cho ấp nở các bầy khác, Gia đình chúng tôi ít được dùng gà vịt vì phải dành để đổi lấy gạo, đường, nước mắm, và các loại vật dụng khác mỗi khi có “ghe hàng” thổi “tù và” báo cho đồng bào trong xóm đến đổi chác cho nhanh vì ghe còn phải qua các làng khác.

Chỉ tại vùng đồng bằng Cửu Long ở Miền Tây là câu tục ngữ “trời sinh voi sinh cỏ” có ý nghĩa nhất. Đừng có lo. Đến mùa mưa lúa lớn mạnh như thổi cùng với tôm cá sinh sản tràn đồng. Kịp đến ruộng khô không còn tôm cá nữa thì đến mùa lúa chín, là mùa chim và chuột ăn lúa chín mập tròn. Còn rắn thì nhờ bắt được nhiều chuột hơn trước nên cũng to béo hẳn lên. Chim thì “rô-ti”, rắn thì nấu cháo đậu xanh. Thịt chim hay rắn đều có thể bầm nhỏ xào củ hành xúc bánh tráng, lớn nhỏ đều ưa thích. Chuột thì thui rồi lột da, vứt bỏ đồ lòng, giữ lại mỡ sa để thắng thành dầu thắp đèn ban đêm. Thân chuột banh ra mập trắng như heo sữa bày bán ở các sạp thịt nhà lồng chợ. Món anh em tôi thích nhất là chuột ớp sả ớt, kẹp nướng than hồng, ăn với cơm trắng và nước mắm tỏi ớt. Tuy nhiên, trong các tháng nước kém, cạn lòi lòng sông, cá tôm hoàn toàn biến mất. Chuột rắn cũng không còn. Nhiều hôm không tìm được gì thì lấy nước mắm kho sệt lại để ăn với rau luộc. Có sống ở nông thôn mới biết nước mình nghèo. Có chia sẻ cọng rau hột muối với nông dân mới thương dân mình nghèo, dân mình đói

Nguyễn Bá Cẩn
Cựu học sinh PTG Cần Thơ 1942-47
(Tháng 2, 2009)

Việt Nam - Trung Hoa, Núi liền núi, Sông liền sông,

Sáng tác: Đỗ Nhuận (1922-1991)
Việt Nam - Trung Hoa,
Núi liền núi,
Sông liền sông,
Chung một biển Đông mối tình hữu nghị sáng như rạng đông.
Bên sông tắm cùng một dòng,
Tôi nhìn sang đấy anh nhìn sang đây!
Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng.
A á ! Chung một ý chung một lòng! Đường ta đi hồng mầu cờ cách mạng.
A á ! Nhân dân ta ca muôn năm!
Hồ Chí Minh - Mao Trạch Đông!
Nhạc sĩ ơi, nhạc sĩ không còn sống để thấy cái ngày người ta không thèm ca cái bài hát của nhạc sĩ nữa rồi. Những bài hát của nhạc sĩ rất hay Du kích ca, Đoàn lữ nhạc, Hành quân xa, Trên đồi Him Lam, Chiến thắng Điện Biên, Tình Việt Bắc, Lửa rừng, Tiếng hát đầu quân, Áo mùa đông, Đèo bông lau, nhưng cái bài này vừa dở mà bây giờ còn thêm bị đề-mốt !
To view this multimedia content, please enable Javascript.

CHÚ-THÍCH:Tôi trích "Đố vui Lịch-Sử" này ở Đặc-san Xuân Đinh-Sửu của Cộng-Đồng người Việt Quốc-Gia Dallas, Texas. Theo như lời giới thiệu thì phần câu hỏi là của luật-sư Đào-hữu-Dương, phần đáp là của giáo-sư Toàn-Phong. Tôi chỉ là người đem áng văn này vào trang nhà hầu giúp phổ biến mà thôi.

CÂU ĐỐ của Đào Tiên-sinh:
1. Vua nào mặt sắt đen sì ?
2. Vua nào trong buổi hàn-vi ở chùa ?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua ?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương-Thông ?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng ?
6. Voi ai nhỏ lệ ở dòng Hoá giang ?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng ?
8. Súng ai rền ở Vũ-Quang thuở nào ?
9. Còn ai đổi mặc hoàng-bào ?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai ?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài ?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương ?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương ?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha ?
15. Anh hùng đại thắng Đống-Đa ?
16. Đông du khởi xướng, bôn ba những ngày ?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây ?
18. Hồng-Sơn liệp hộ triều Tây ẩn mình ?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh ?
20. Ấu nhi tập trận cỏ tranh làm cờ ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ ?
22. Hùng-Vương Quốc-tổ đền thờ ở đâu ?
23. Đại vương bẻ gãy sừng trâu ?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng ?
25. Hại dân bán nước tên Cung ?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng ?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng ?
28. Bình Ngô ai soạn bản văn lưu truyền ?
29. Mười ba liệt-sĩ thành Yên ?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thuở nào ?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào ?
32. Bình Khôi chức hiệu được trao cho người ?
33. Tây Sơn có nữ tướng tài ?
34. Cần Vương chống Pháp bị đầy xứ ta ?
35. Tổ ngành Hát Bộ nước nhà ?
36. Khúc ngâm chinh-phụ ai là tác nhân ?
37. Vua nào sát hại công thần ?
38. Nhà văn viết chuyện Tố Tâm trữ tình ?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh ?
40. Hà-Ninh tổng-đốc vị thành vong thân ?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần ?
42. Nêu gương hiếu-tử diễn âm lưu truyền ?
43. Công lao văn-học Nguyễn Thuyên ?
44. Lừng danh duyên hải dinh-điền là ai ?
45. Nhà thơ sông Vị biệt tài ?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa ?
47. Ngày nào kỷ-niệm Đống Đa ?
48. Biên thùy tiễn-biệt lời cha dặn-dò ?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ ?
50. Bến Hàm Tử bắt quân thù xâm lăng ?
51. Húy danh hoàng-đế Gia-Long ?
52. Tướng nào hương khói lăng ông thuở giờ ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ ?
54. Thánh Trần nay có đền thờ ở đâu ?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu ?
56. Tướng Châu-văn-Tiếp ở đâu bỏ mình ?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình ?
58. Cha con cùng quyết hy-sinh với thành ?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh ?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành từ quan ?
61. Công thần vì rắn mắc oan ?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến-tranh ?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh ?
64. Vĩnh-Long thất thủ liều mình tiết trung ?
65. Ngày nào trảy hội đền Hùng ?
66. Ngày nào sông Hát, Nhị Trưng trầm mình ?
67. Núi nào ngự trị Sơn Tinh ?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào ?
69. Gốc nguồn hai chữ "đồng bào" ?
70. Bôn ba tổ-chức phong trào Đông-Du ?
71. Hùm thiêng trấn đóng chiến khu ?
72. Vua nào thành lập hội thơ Tao-Đàn ?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang sơn ?
74. Thiết triều nằm lả, khiến tàn nghiệp Lê ?
75. Hóa giang giữ trọn lời thề ?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao ?
77. Móng rùa thần tặng vua nào ?
78. Bình Chiêm, dẹp Tống, Lý trào nổi danh ?
79. Dâng vua sách lược trị bình ?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen ?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên ?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình ?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh ?
84. Lê triều sử-ký soạn thành, họ Ngô ?
85. Công thần mà bị quật mồ ?
86. "Vân Tiên" tác giả loà mù là ai ?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài ?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân ?
89. Dâng vua cải cách điều trần ?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào ?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao ?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai ?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm-sai ?
94. Phòng khuê vọng tiếng thuyền chài, tương-tư ?
95. Đông y lừng tiếng danh sư ?
96. Lời thề diệt địch bên bờ Hóa giang ?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang ?
98. Am Mây ẩn dật chẳng màng lợi danh ?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh ?
100. Bao giờ trở lại thanh-bình Việt-Nam ?

GIẢI ĐÁP của Toàn Phong

Trước đèn đọc sách Đào quân,
Đố vui Việt-Sử, gieo vần họa thơ.
Duyên văn, tao ngộ từ xưa,
Nặng lòng non nước bây giờ luyện thi.
***
1. Vua nào mặt sắt đen sì ?
Tướng Mai-Hắc-Đế, sử ghi chống Đường.
2. Quét chùa mà tướng đế vương,
Lý Công, tên Uẩn xuất Đuờng lên ngôi.
3. Phò vua chống giặc cõi ngoài,
Đức Trần-Hưng-Đạo dẹp xuôi hận lòng.
4. Bút thần đâu sợ Vương Thông,

Thù cha Nguyễn-Trãi có công dựng triều.
5. Gậy thần ngựa sắt cao siêu,
Thiên Vương Phù-Đổng một chiều thét vang.
6. Voi lầy nhỏ lệ Hoá giang.
Đại Vương Hưng-Đạo quyết đường dẹp Nguyên.
7. Kiếm thần, lập quốc, báo đền,
Vua Lê trả lại rùa thiêng trên hồ.
8. Vũ-Quang chống Pháp lập đô,
Súng do Cao-Thắng, phất cờ cụ Phan.
9. Lê-Lai đổi mặc áo vàng,
Để vua Lê-Lợi thoát vòng gian lao.
10. Triệu, Trưng kể lại biết bao,
Nữ nhi sánh với anh hào kém chi.
11. Ngang tàng, cung, kiếm, cầm, thi,
Ông Cao-Bá-Quát sá gì phân thây.
12. Thoát-Hoan, Vạn-Kiếp sa lầy,
ống đồng chui rúc từ đây kéo về.
13. Nước Nam làm quỷ ai thề,
Tướng Trần-Bình-Trọng chẳng nề Bắc Vương.
14. Lông ngan làm chuốc dẫn đường,
Mỵ-Châu, Trọng-Thủy còn vương hận lòng.
15. Đống-Đa thây giặc điệp trùng,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ, anh hùng phương nam.
16. Họ Phan có cụ Sào-Nam,
Bôn ba khởi xướng luận bàn Đông Du.
17. Nguyễn Vương giữ vững cơ-đồ,
Lũy xây Trương Dục, Duy-Từ có công.
18. Nguyễn-Du tạm lánh sơn trung,
Truyện Kiều thi phẩm, anh hùng nổi danh.
19. Triệu Bà Lệ-Hải tài trinh,
Ngàn năm dân Việt tôn vinh phụng thờ.
20. Mục đồng tập trận ấu thơ,
Tiên Hoàng Bộ-Lĩnh phất cờ bông lau.
21. Thánh Tôn nguyên súy, công hầu,
Tao-Đàn lập hội, lựa câu họa vần.
22. Đền Hùng hương khói phong vân,
Lâm Thao là chốn nhân dân hướng chầu.
23. Phùng-Hưng bẻ gẫy sừng trâu,
Tôn thờ Bố Cái, sức đâu hơn người.
24. Lam Sơn, áo vải, lòng trời,
Vua Lê khởi nghĩa, muôn đời ghi công.
25. Họ Hồ chính Nguyễn Sinh Cung,
Liên-Sô dâng nước, khốn cùng nhân dân.
26. Yết-Kiêu, Dã-Tượng sả thân,
Đục chìm thuyền địch mấy lần Đằng Giang.
27. Lý triều Vạn Hạnh cao tăng.
Cùng Từ-Đạo-Hạnh tiếng vang pháp thiền.
28. Bình Ngô Đại Cáo, sách tuyên,
Văn tài Nguyễn Trãi lưu truyền mai sau.
29. Thành Yên liệt-sĩ rơi đầu,
Lưu danh Thái-Học, lưu sầu Quốc dân.
30. Tiên Du treo ấn từ quan,
Giáng Tiên, Từ Thức theo nàng lên tiên.
31. Âu-Cơ trăm trứng nở truyền,
Ngàn năm Hồng-Lạc, con Tiên, cháu Rồng.
32. Bình-Khôi chức hiệu Nguyên nhung,
Lệnh bà Trưng Nhị được phong tướng tài.
33. Tây Sơn lẫm liệt thần oai,
Quần thoa ai sánh tướng Bùi-thị-Xuân.
34. Cần Vương vì nước gian truân,
Vua Hàm-Nghi trải tấm thân lưu đày.
35. Lập nghành Hát-Bộ từ đây,
Tổ sư Đào-Tấn, bậc thầy xướng ca.
36. Đoàn thư, Chinh Phụ dịch ra,
Trần-Côn trước tác khúc ca ngậm ngùi.
37. Gia Long từ độ lên ngôi,
Công thần giết hại nhiều người thác oan.
38. Tố Tâm tác giả Song An,
Chữ Hoàng ngọc Phách, lời than tự tình.
39. Thái Nguyên chống Pháp dấy binh,
Lưu danh Đội Cấn, gây tình quốc gia.
40. Pháp quân tiến đánh thành Hà,
Tuẫn trung Hoàng-Diệu, Chính ca một thời.
41. Chiêu Hoàng nhà Lý truyền ngôi,
Cho chồng Trần Cảnh nối đời làm vua.
42. Diễn âm gương hiếu ngày xưa,
Ghi công Văn Phức, vốn thừa Lý gia.
43. Hán văn chuyển tiếng nước nhà,
Thơ Nôm, Đường luật chính là Nguyễn Thuyên.

44. Kim Sơn, Tiền Hải dinh điền,
Uy danh Công Trứ, tiếng truyền đời sau.
45. Tú Xương, sông Vị, không giầu,
Tiếng thơ cao ngạo, ai rầu mặc ai.
46. Duy Tân vì nước rời ngai,
Thực dân uy hiếp đưa ngài đảo xa.
47. Mồng năm kỷ-niệm Đống Đa,
Tháng giêng chiến thắng, hùng ca Ngọc-Hồi.
48. Tiễn cha Nguyễn Trãi nhớ lời,
Phi Khanh còn vẳng núi đồi Nam Quan.
49. Bà Trưng khôi phục giang san,
Mê-Linh khởi nghĩa, dẹp tan quân thù.
50. Danh Trần-Quang-Khải ngàn thu,
Chương-Dương cướp giáo, bắt tù Hàm Quan.
51. Nguyễn triều khởi sự gian nan,
Bôn ba Phúc Ánh, Bắc Nam hợp lòng.
52. Tả-Quân, thờ phụng Lăng Ông.
Tướng Lê-văn-Duyệt có công phá thành.
53. Âu-Cơ tiên nữ dáng trần,
Hợp duyên cùng Lạc-Long-Quân, giống rồng.
54. Đức Trần-Hưng-Đạo phá Mông,
Đền thờ Kiếp-Bạc tôn sùng khói hương.
55. Ngàn năm thời đại Hùng Vương,
Lạc-Hầu, Lạc-Tướng, chức thường gọi quan.
56. Tướng Châu-văn-Tiếp thân tàn,
Vĩnh-Long, Mang-Thít đầu hàng Tây-Sơn.
57. Trạng Trình phong tước Quốc Công,
Bỉnh-Khiêm họ Nguyễn, vốn dòng Cổ-Am.
58. Hùm thiêng sớm đã về âm,
Tri-Phương cùng với Nguyễn-Lâm giữ thành.
59. Chống Lương Dạ-Trạch uy danh,
Triệu Vương, Quang-Phục hiển vinh một thời.
60. Chu hiền xin chém bảy người,
Vua nghe kẻ nịnh, xin rời chức quan.
61. Vì tay Thị-Lộ thác oan,
Công thần Nguyễn-Trãi gia toàn chu di.
62. Diên-Hồng quyết chiến còn ghi,
Đời Trần bô lão kém gì tráng sinh.
63. Tổ Hùng tên hiệu Đế-Minh,
Dương Vương Lộc-Tục con mình phong vua.
64. Vĩnh-Long chống Pháp đành thua,
Ông Phan-thanh-Giản ơn vua tuẫn người.
65. Dù ai buôn ngược bán xuôi.
Đền Hùng trẩy hội mồng mười tháng ba.
66. Hàng năm kỷ-niệm hai bà,
Tháng hai mồng sáu trầm hà Hát giang.
67. Tản-Viên che phủ mây vàng,
Sơn-Tinh chuyện cũ đưa nàng lên cao.
68. Tản-Đà bút hiệu thi hào,
Núi sông hai chữ ghép vào thành tên.
69. Cùng trong một bọc rồng tiên,
Trứng trăm con nở nối truyền đời ta.
70. Đông Du cách mạng sơn hà,
Bội-Châu lừng lẫy tiếng nhà họ Phan.
71. Hùm thiêng Yên-Thế họ Hoàng,
Nổi danh Hoa-Thám giữ vùng chiến khu.
72. Đời Lê bình trị thiên thu,
Thánh-Tôn mới lập hội thơ Tao-Đàn.
73. Thăng-Long giữ vững giang-sơn,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ đánh tàn quân Thanh.
74. Ngọa Triều tửu sắc liệt mình,
Uổng cho Long-Đĩnh, tan tành nghiệp Lê.
75. Hóa giang giữ trọn lời thề,
Thánh Trần không thắng, không về tới sông.
76. Mười năm kháng chiến thành công,
Ơn vua Lê-Lợi non sông phục hồi.
77. Kim Quy chuyện móng ngàn đời,
An Dương Vương được rùa trời ban giao.
78. Bình Chiêm, dẹp Tống Lý hào,
Câu thơ Thường-Kiệt: Nam trào, Nam cư.
79. Đời Lê lương đống tâm tư,
Đắc Bằng, quốc sách dâng thư trị bình.
80. Trạng-Nguyên họ Mạc thấp mình,
Đĩnh-Chi thảo phú ví tình hoa sen.
81. Hà-Tiên Nam Việt cuối miền,
Nhờ tay Mạc Cửu dựng nên mật trù.
82. Thái-Nguyên chống Pháp giặc thù,
Ông Lương-Ngọc-Quyến thiên thu tuyệt mình.
83. Quy-Nhơn Võ-Tánh quyên sinh,
Đài cao đốt lửa, chiếm thành Tây-Sơn.
84. Sĩ-Liên, Sử-Ký Đại Toàn,
Triều Lê soạn thảo, danh thần họ Ngô.
85. Nguyễn phò xây dựng cơ đồ,
Tướng Lê-Văn-Duyệt quật mồ thảm thay.
86. "Vân Tiên" tác giả ai hay,
Cụ đồ Đình-Chiểu xưa nay mù lòa.
87. Đại-Từ cách mạng sơn hà,
Hải-Thần, cụ Nguyễn bôn ba nước ngoài.
88. Thám Hoa Nhữ Học thiên tài,
Học nghề in sách miệt mài dạy dân.
89. Tâu vua Trường Tộ điều trần,
Tiếc thay Tự-Đức canh tân không màng.
90. Ngọc-Hân tài sắc vẹn toàn,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ, điện vàng sánh duyên.
91. Văn tài Bá Quát vô tiền,
Quốc-Oai treo ấn, cự thiên, kháng đình.
92. Lũy thầy, Đồng-Hới, Quảng-Bình,
Duy-Từ nổi tiếng xây thành khai sơn.
93. Khâm-sai Bắc-Việt chiêu dân,
Cụ Phan-Kế-Toại, văn thần vua phong.
94. Trương Chi hát vọng khuê phòng,
Mỵ Nương nghe tiếng đem lòng tương-tư.

95. Đông-y Hải-Thượng danh sư,
Dương An Toàn Thạch, đề thư tụng truyền.
96. Trận này không phá giặc Nguyên,
Không về Thanh-Hoá, lời nguyền Đạo Vương.
97. Vân-Đồn thắng địch tuyệt lương,
Quân Nguyên nản chí, công dường Khánh-Dư.
98. Bạch-Vân về ngụ, tâm tư,
Thi văn, lý đoán, ẩn cư Trạng Trình.
99. Quang Trung thần tốc phát binh,
Mùa xuân Kỷ-Dậu, chiếm thành Thăng-Long.
100. Lời ca con cháu tiên rồng,
Cộng nô tiêu diệt, non sông thanh-bình.

Nỗi niềm thổ lộ cùng ai?

Nỗi niềm thổ lộ cùng ai?

Không chỉ là 272 đầu việc "ngập đầu", cán bộ phường còn phải thường xuyên bị ngập trong các cuộc hội họp triền miên. Theo tài liệu chúng tôi có được, trong năm 2007, một phường ven ở Q.Tân Phú (TP.HCM) đã tổ chức tổng cộng... 1.084 buổi họp, trong đó chỉ có 279 buổi họp bàn công tác chuyên môn, còn lại là triển khai nghị quyết và nội dung khác. Thậm chí, "lịch công tác" từ 28.7 đến 4.8.2008 của phường này cho thấy, Chủ tịch phải dự họp 5 cuộc với quận và khoảng 4 cuộc họp "trao đổi nhanh" tại phường. Ngoài ra, "nếu khu phố nào có vấn đề cần tháo gỡ" thì đích thân Chủ tịch phường phải họp với khu phố đó, tổng cộng cũng cả chục cuộc mỗi tháng, cho đến khi nào giải quyết xong thì thôi.
Trả lời trưởng đoàn khảo sát về việc cán bộ phường Nguyễn Cư Trinh xin nghỉ việc hàng loạt, một cán bộ là bí thư khu phố phường này nói như phân bua. Nội dung câu nói hàm ý cán bộ phường để làm được việc cho dân thì đôi khi phải xé rào, bị "trên la rầy". Còn cứ khư khư theo những công thức hành chính cũ thì trễ nải việc dân, bị "dân kêu". Đã thế, nói như chị L.H, cán bộ một phường ở Q.Bình Thạnh: "Mọi công việc đều được đẩy xuống cấp phường. Nhưng cán bộ, công chức cấp phường lại không được nhìn nhận trong dự thảo Luật cán bộ, công chức. Đó là một nghịch lý!".
Theo ông N., cán bộ địa chính một phường ven ở Q.Tân Phú, nhiều khi các ông phải thi hành những việc mà chính các ông cũng không thể giải thích được, không thể thổ lộ cùng ai. Chẳng hạn, trong việc xác nhận hồ sơ hợp thức hóa quyền sở hữu nhà cho dân, theo yêu cầu thì chủ tịch phải làm bản tường trình về trường hợp xin hợp thức hóa đó, không chấp nhận tường trình của chủ nhà. Trong bản tường trình, chủ tịch phải nêu rõ và phải chịu trách nhiệm về tường trình của mình là nhà đó được xây dựng năm nào? Theo ông N., có hai điều không hợp lý trong quy định này: Trước hết, chủ tịch phường, nhất là ông chủ tịch phường không phải là người sống lâu năm tại địa phương, mà cho dù là người địa phương đi nữa thì cũng không thể biết được hết nguồn gốc tất cả các nhà dân. Thứ hai, không công nhận tường trình, hay cam kết của dân thì vô tình đã tước đi quyền... chịu trách nhiệm trước pháp luật của công dân. Tương tự, trong xác nhận diện tích đất lộ giới để giải tỏa - đền bù, Chủ tịch phường cũng phải xác nhận là đất đó do dân lấn ra từ trước hay sau ngày 15.10.1993.
"Những trường hợp như vậy làm sao mà ông Chủ tịch biết được nếu không căn cứ vào bản tự khai của dân? Xác nhận sai thì chủ tịch phường phải bỏ tiền túi ra đền. Còn nếu ngại không xác nhận thì quyền lợi của dân bị thiệt hại, dân kêu ca. Rất khổ!", ông N. than với chúng tôi như vậy.
Tiền lương thắt thỏm
Trao đổi với chúng tôi, anh Phó chủ tịch phường Nguyễn Cư Trinh còn rất trẻ vừa cắm cúi trước chồng hồ sơ phải ký ngay, vừa cho biết, lương tháng của anh vỏn vẹn chỉ 1,6 triệu đồng, không còn khoản nào khác. Ông Đ., nhân vật chúng tôi vừa đề cập ở phần trên, có thâm niên công tác 21 năm, hệ số lương 3.6, được gần 2 triệu đồng/tháng. Vợ ông cũng là một cán bộ chuyên môn của phường, lương xấp xỉ 2 triệu đồng/tháng. Ông Đ. cho biết, tối nào không phải hội họp, ông lái xe đưa vợ đi tiếp thị thuốc tây cho các cơ sở y tế tư nhân. Công việc này giúp ông bà có thêm 2 triệu đồng nữa, vị chi thu nhập của hai vợ chồng là 6 triệu đồng/tháng.
Còn vị chủ tịch UBND một phường ven của Q.Tân Phú thì tiết lộ, lương ông cộng với 600.000 đồng tiền trợ cấp học đại học do TP cấp, tổng cộng cũng chỉ 2,4 triệu đồng/tháng, đủ đổ xăng, cà phê sáng và ăn cơm hộp. Theo ông, làm chủ tịch cũng giống như... làm dâu; mỗi một cử chỉ, hành động, lời nói người dân đều nhìn vào. Mỗi năm, chủ tịch phường như ông phải đi dự trên dưới 30 cái đám cưới; rồi ma chay, đám tiệc. "Đã là chủ tịch thì đi phong bì cũng phải coi cho được...". Đi sớm, về khuya với ông chủ tịch này là chuyện thường ngày. Ông bảo, từ khi làm chủ tịch đến giờ, chi tiêu mọi thứ trong gia đình do một tay vợ ông lo. Thời gian dành cho gia đình quá ít; tiền lương èo uột trong khi vật giá leo thang. Gia đình ông sinh lục đục.
Chia sẻ với chủ tịch phường, ông bí thư phường ven ở Q.Tân Phú hy vọng những bức xúc mà cán bộ phường đang gặp phải sẽ sớm được cấp trên nhìn nhận và điều chỉnh. Vì theo ông, chế độ tiền lương đối với cán bộ phường và những cải cách cần thiết sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho "công bộc của dân", mà gián tiếp mang lại lợi ích cho cả người dân. "Vì vậy, chúng tôi tự động viên nhau, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ thôi".
Nguyên Thủy

Giáo hội Việt Nam hay Tòa Thánh Vatican xin lỗi?

Giáo hội Việt Nam hay Tòa Thánh Vatican xin lỗi?
VietCatholic News (16 Jan 2010 17:52)
Công Đồng Vatican II được coi như một Lễ Hiện Xuống Mới. Vì đã thổi một luồng gió mạnh và mát mẻ trên Giáo Hội, quét đi những bụi bặm, già nua của thời gian, cả những khuyết điểm và thiếu sót. Trong mấy thập niên cuối cùng của thế kỷ trước, các ĐGH Phaolô VI, Gioan Phaolô II cũng đã có những thái cử và ngôn ngữ xin lỗi mọi người và các tôn giáo về những lỗi lầm trong quá khứ. Các Ngài gọi đó là thanh tẩy lương tâm.

Giáo Hội gồm những con người yếu đuối và giới hạn, bị ảnh hưởng và chi phối bởi những yếu tố rất phức tạp của lịch sử…Do đó Giáo Hội đã có những chọn lựa, quyết định, hành động không mấy phù hợp với Tin Mừng.

Giáo Hội Việt Nam có mặt trên dải đất chữ S hơn kém 500 năm. Bắt đầu thiết lập các Giáo phận đầu tiên “Đàng ngoài” và “Đàng trong” từ những năm đầu thế kỷ 17, nghĩa là đã 350 năm.

Giáo hội Việt Nam phát triển và trưởng thành từ đó, nên Tòa Thánh đã thiết lập hàng Giáo Phẩm (1960), để hàng Giáo phẩm Việt Nam trực tiếp lãnh đạo Giáo hội địa phương về đường hướng sống đạo, truyền đạo và hội nhập…

Năm nay (2009 – 2010), chúng ta tổ chức Năm Thánh để kỷ niệm hai biến cố quan trọng đó. Đồng thời để tạ ơn, cầu nguyện, nhìn lại và sám hối thanh tẩy quá khứ, đề ra phương hướng và nhiệm vụ cho tương lai.

Trong ngày lễ khai mạc Năm Thánh (24/11/2009) tại Sở Kiện, mọi người đều rất phấn khởi và xúc động khi thấy các ĐGM đã có một cái nhìn bao quát và khoan dung về tương lai, thích ứng với hiện tại: Các Ngài đã can đảm xin lỗi “các anh em lương dân không cùng một tôn giáo với mình, xin lỗi tất cả mọi người không phân biệt chính kiến, vị trí và tín ngưỡng tâm linh, mọi thành phần xã hội và tôn giáo vì chưa đủ hòa mình và đồng hành. Xin lỗi người nghèo, người hẩm hiu xấu số, người khuyết tật đau khổ, vì chưa đủ quan tâm”. Thẳng thắn nhìn nhận về “những thiếu sót của mình đối với dân tộc và quê hương, đất nước…cách riêng đối với Chúa và anh chị em của mình.”

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gửi Giáo hội Việt Nam nhân dịp khai mạc Năm Thánh (17/11/2009), cũng nhắn nhủ: “ Năm Thánh là một thời điểm chứa chan ân sủng, thuận lợi cho việc hòa giải với Thiên Chúa và anh em đồng loại. Trong ý tưởng đó, chúng ta (GHVN) nên nhìn nhận những sai lỗi chúng ta đã phạm trong quá khứ và hiện tại, đối với anh em đồng đạo và đồng bào, và xin mọi người tha thứ …”

Như vậy đã rõ: Giáo hội Việt Nam xin lỗi chứ không phải Tòa Thánh Vatican như đã viết trong bản tin của Thông tấn xã Việt Nam.

Theo TTXVN thì: “Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp Đức Bênêđictô XVI, ghi nhân và hoan nghênh sứ điệp của ĐGH gửi Giáo hội Công giáo Việt Nam, dịp khai mạc Năm Thánh 2010, trong đó Vatican nhìn nhận những sai lầm trong quá khứ và hiện tại và xin tha thứ”. Chi tiết này cũng được Gérard O’Connell, Đặc phái viên của UCA News ở Rôma, trích lại để minh họa cho bài bình luận “Tình hữu nghị triển nở giữa Tòa Thánh và Viêt Nam” (CG&DT số 1739, tr. 29).

Một vị Giám mục cho biết, sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gửi Giáo hội Việt Nam đề ngày 17/11/2009, đến với HĐGMVN ngay trong đêm trước ngày khai mạc (24/11/2009). Trong sứ điệp này, chúng ta không gặp lời lẽ nào của Vatican nhìn nhận những sai lầm trong quá khứ và hiện tại của mình. Cũng được biết chương trình chi tiết của lễ khai mạc Năm Thánh đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam soạn thảo trọn vẹn và rất kỹ lưỡng trong dịp Đại hội HĐGMVN tại Bà Rịa – Vũng Tàu trước khi đi Ad Limina.

Thiết nghĩ các mối quan hệ, hiệp thông chỉ có thể xây dựng trên sự tôn trọng sự thật và tương kính. Chủ thể xin lỗi, cũng như đối tượng tha thứ không hề “mất mát” gì. Trái lại còn tăng thêm nhân cách và tư cách. Có nhìn nhận sự thật và thành khẩn từ cõi lòng trung thực, sự xin lỗi mới được chấp nhận. Đối tượng tha thứ không có mặc cảm tự tôn hoặc thái độ kẻ cả, vì ý thức rằng: Con người bị điều kiện hóa bởi hoàn cảnh, bởi thiên hình vạn trạng những yếu tố phức tạp: thật-hư, đen-trắng, sáng-tối… kể cả những điều mọi người coi là thật mà thực chất không phải. Bản chất sự việc, con người, hiện tượng, nhiều khi không rõ rệt, không dễ dàng phân định… Và như vậy, đối tượng tha thứ cũng có thể mắc những sai lầm trầm trọng mà một ngày nào đó trong lịch sử, sẽ bị phát hiện và được phơi bày.

Thành ngữ La-tinh viết: “Errare est humanum” - con người thì sai lầm. Thánh Kinh cũng nói: “ quidquid latet, apparebit” (Lc 12,2; Mt 10,26)- Bất cứ điều gì dấu kín, một ngày nào đó sẽ tỏ hiện…Người Việt Nam thích nói theo lối văn tượng hình: “ Cây kim bọc kín, rồi sẽ có lúc lòi ra.”

Giáo hội chỉ khẳng định sự vô ngộ trong đức tin và luân lý, vì đức tin và luân lý quan hệ đến phần rỗi của con người. Kỳ dư đều có thể sai lầm…

(Giáo xứ Châu Sơn BMT)
LM. Antôn Vũ Thanh Lịch