Từ Thức
Saturday, 20. October 2007, 08:50:16
Truyền thuyết
Thời nhà Trần, ở Tiên Phú Kinh Bắc (Hà Bắc ngày nay) có viên quan huyện trẻ tuổi hào hoa phong nhã, tên gọi Từ Thức, quê ở Hóa Châu (nay thuộc vùng ven biển Nga Sơn, Thanh Hóa). Cha là quan Đại thần đã nghỉ hưu, nên theo điều lệ, chàng được tập ấm, bổ chức tri huyện.
Trái với số đông các đồng sự, thời ấy cũng như về sau, chỉ chăm nhăm vào hai việc là bóp nặn dân đen và nịnh nọt quan trên, ngõ hầu mau thăng quan tiến chức để có thêm cơ hội vơ vét và hưởng bộc lộc, Từ Thức lại là người không màng danh lợi, có lòng thương người và xét xử công minh. Những vụ kẻ giàu ức hiếp người nghèo hoặc những anh chồng vũ phu đối xử tàn nhẫn với vợ, đều bị chàng nghiêm trị. Ở công đường, ngoài những vụ xử kiện, còn mọi giấy tờ sổ sách khác thảy đều làm cho chàng chán ngán, chỉ làm một cách chiếu lệ, có khi công văn chậm trễ cả tháng trời. Quan trên đã nhiều lần nhắc nhở, nhưng xem ra chàng cũng chẳng thay đổi gì nhiều.
Thật vậy, chí hướng của Từ Thức đã không đặt vào con đường danh lợi. Làm quan đối với chàng chẳng qua chỉ là bất đắc dĩ, do Triều đình bổ dụng, và cũng do phụ thân nhắc nhở một phần. Là trang phong lưu công tử, chữ nghĩa đầy bồ, chàng chẳng muốn cầu cạnh một ai, lại cũng chẳng muốn ép mình vào vòng khuôn phép. Là người giàu lòng trắc ẩn, chàng không nỡ ngồi hưởng vinh hoa phú quý trong khi trăm họ đang rên xiết dưới ách sưu cao thuế nặng và điêu đứng nhiều bề về nỗi lắm bận thiên tai.
Ở giữa đám quan trường và thuộc hạ đông đúc, chàng chẳng tìm được bạn tâm giao, cho nên nhữõng khi rỗi rãi, thường chỉ một mình uống rượu ngâm thơ, hoặc cao hứng lên thì mượn cây đàn để giải khuây nỗi niềm tâm sự. Cũng có khi, vào khoảng giêng hai tháng rộng ngày dài, là mùa hội hè của dân chúng, chàng hay cải trang làm một nho sĩ, đi lẫn vào trong đám chúng sinh, đến thăm viếng văn cảnh chùa, hoặc dạo chơi ở những nơi danh lam thắng cảnh.
Thuở ấy, ở hạt Tiên Du có chùa Phật tích là ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng. Trước sân chùa có trồng một cây mẫu đơn rất lớn, quanh năm cành lá xum xê xanh tốt. Cây mẫu đơn lại trổ hoa đúng vào dịp hội làng, cho nên khắp nơi dân chúng kéo về trẩy hội đông như mắc cửi. Người người náo nức, ai ai cũng muốn được tận mắt nhìn ngắm cây hoa. Quả là danh bất hư truyền, vô vàn những cụm hoa màu đỏ tươi, nảy đều trên nền lá xanh thẫm, đầy đặn, tựa như một mâm xôi gấc cực lớn mà trời phật đã gia ân, ban phước ban lộc xuống cho mọi người. Nhưng vẫn chưa hết, cũng với vẻ đẹp diệu kỳ, còn là một mùi hương thơm ngát, lan tỏa ra trong không khí khắp bốn xung quanh, quấn quýt theo mỗi bước chân của du khách bộ hành đến dự hội.
Cây hoa đã gắn bó với ngôi chùa, tôn lên vẻ đẹp và làm phong cảnh nhiễm thêm màu huyền bí. Người ta đồn rằng, có cả Phật tổ và chư tiên thỉnh thoảng cũng giáng lâm, xuống thưởng ngoạn nơi đây. Người ta cũng đồn rằng, nếu ai nhìn thấy cây hoa một lần vào độ đang nở thì trong năm sẽ làm ăn thịnh vượng, khỏi mọi lo phiền, đau ốm, và con trai sẽ mau lấy vợ, con gái sẽ chóng đắt chồng ...
Thật là nhiều lời đồn đại! Và bỗng nhiên cây hoa đã trở thành một vật linh thiêng vào bậc nhất. Con trai con gái tấp nập tìm về, và trong số họ, không thiếu kẻ nhố nhăng nhiễu sự, những kẻ chuyên "đục nước béo cò". Họ cố tình gây ra những cảnh chen lấn và chen lấn xô đẩy và gào thét ầm ĩ, làm cho chốn linh thiêng bỗng chốc bị ô nhiễm bởi thói bỉ lậu và mùi vị kim tiền.
Để "dân lối chúng sinh", hay như bây giờ, là để "giữ gìn trật tự công cộng", nhà chùa đã cử hẳn ra hai vị sư nam, thực lực lưỡng khỏe mạnh, làm nhiệm vụ coi sóc cây hoa và chỉ dẫn người xem, nhưng nhiều khi , cảnh chen lấn xô đẩy vẫn cứ xảy ra. Thấy vậy, nhà chùa bèn đặt ra một lệ là hễ ai làm gẫy một cành hoa, sẽ bị phạt một khoản tiền rất lớn. Lệ đặt ra thì đúng, nhưng khi giải quyết cũng thật cứng nhắc, như sau này sẽ thấy.
Lần ấy, vào khoảng hai năm Bính Tý, niên hiệu Quang Thái thứ ba (1930), trong mùa hội làng, bỗng có một cô gái xinh đẹp tuyệt vời, không biết từ đâu tới trẩy hội. Cô gái vào chùa dâng lễ và thắp hương khấn vái, rồi đi ngắm hoa như mọi người. Cũng như thương vẫn diễn ra, khi khám phá thấy cô gái, đám thanh niên anh chị liền xô tới bám xung quanh và buông ra những lời thô tục. Cô gái đỏ bừng mặt, vội len vào chỗ đông người. Lập tức một cảnh xen lấn xô đẩy náo loạn diễn ra. Trẻ con, ông già bà già bị ngã dui dúi, tiếng kêu khóc rên la inh ỏi. Cô gái bị đẩy sát đến cành hoa, và để giữ thăng bằng trước làn sóng xô đẩy, đã bíu vào một cành hoa, nhưng tiếc thay, do sức xô đẩy quá mạnh, càn hoa mà cô bám vào đã bị gãy.
Chỉ vừa mới nghe tiếng "rắc" và thấy cành hoa lả xuống là đám thanh niên bám quanh cô đã nhanh chóng đánh bài chuồn và lủi đi như chuột. Những người khác cũng dãn ra cả. Thế là chỉ còn một mình với cành hoa bị gãy. Cô gái luống cuỗng chưa hiểu sự tình thế nào thì lập tức hai vị sư nam có mặt. Cô bị điệu ngay về gian nhà nhỏ mé sau chùa, ở đó cô sẽ phải bỏ tiền ra nộp phạt.
Nhưng khi hỏi đến tiền thì cô gái sờ vào túi và lắc đầu. Hỏi đến quê quán thì cô trả lời là ở rất xa. Thê là người ta giữ cô lại, để chờ người nhà tìm đến chuộc về. Thấy cảnh tượng như thế, dân chúng thập phương tỏ lời ca thán, đàm luận. Họ cám cảnh cho cô gái, xinh đẹp là thế mà bỗng đâu chịu phải tai ương. Họ cũng phàn nàn về nhà chùa, luật lệ đặt ra sao mà bất công, không tìm bắt kẻ chủ mưu gây ra cảnh chen lấn xô đẩy, mà lại đi bắt người vô tội. Tuy thế, dẫu có nghe những lời chê trách thế nào thì những vị sư coi chùa vẫn làm ngơ, và cô gái cũng chẳng được thả ra, bởi vì luật lệ dẫu sao cũng vẫn là luật lệ!
Chừng một tiếng đồng hồ sau khi cô gái bị giam giữ, thì quan huyện Tiên Du xuất hiện, nhưng trong trang phục một nho sinh và không có lính đi kèm, nên cũng chẳng mấy ai để ý tới. Khi trị nhậm huyện đường, năm nào cũng vậy, cứ đến ngày này, Từ Thức lại ra chùa Phật tích, tước thì cúng Phật, còn sau là ngắm cảnh và thử cầu may một lần trong năm xem sao.
Khi từ Phật điện bước ra sân ngắm hoa thì Từ Thức nghe thấy những lời dân chúng bàn tán. Chàng lắng nghe rồi lẳng lặng đi về phía sau chùa, ở đó có cô gái đã bị giam giữ.
Cô gái lúc đó đang cúi mặt xuống và dáng điệu ủ rũ tựa như tàu lá héo. Tuy vậy, khi cô ngẩng lên thì Từ Thức lập tức nhận ra đó là một vẻ đẹp thiên thần.
Trong nỗi buồn, vẻ đẹp ấy lại mang thêm một sắc điệu thánh thiện, khiến cho chàng cảm thấy choáng váng. Chưa bao giờ chàng thấy một người con gái nào như thế. Một thoáng thẫn thờ hiện trên nét mặt, nhưng rồi chàng cũng trấn tính lại được, và hỏi han hai bên đương sự xem sự thể ra sao. Sau khi nghe rõ câu chuyện, chàng sờ vào túi tìm tiền, nhưng khi rút ra đếm thì chỉ thấy có vài đồng bạc lẻ, số tiền quá ít so với lệ phải nộp.
Ngay lập tức, chàng cởi chàng cởi chiếc áo khoát đang mặc trên người. Đó là chiếc áo gấm màu trắng sang trọng mà chàng mới may dạo cuối năm ngoái, trị giá đến một lượng vàng, hôm nay do trời lạnh nên chàng mặc vào để đi xem hội.
Đặt chiếc áo lên bàn, chàng nói:
- Xin gửi hai sư huynh chiếc áo làm tin. Ngày mai tôi sẽ đem tiền đến chuộc, còn nếu không, coi như tôi đã nộp phạt bằng chiếc áo này. Xin hai sư huynh thả cô gái này ra.
Thật đột ngột, hai sư nam chẳng kịp có phản ứng gì, chỉ kinh ngạc đưa mắt nhìn nhau rồi lại kinh ngạc nhìn chàng trai trẻ. Họ không biết đó là quan huyện Tiên Du. Họ nói với cô gái: "Thôi, cô về đi", rồi vái nhẹ chàng nho sinh, cầm chiếc áo, đoạn bước ra ngoài. Trên mặt cả hai người đều thoáng một nỗi buồn, chắc là nỗi buồn thân phận.
Từ Thức tiến lại gần cô gái. Nàng e lệ cúi đầu, miệng nói lời cảm tạ còn hai tay chắp lại toan vái. Chàng vội vã đưa tay làm dấu ngăn lại, đoạn cả hai, kẻ trước người sau, bước ra phía cổng chùa, trước con mắt ngạc nhiên thán phục của mọi người.
Họ không nói với nhau một lời nào trên suốt đoạn đường đi. Chỉ có bước chân nhẹ nhàng lướt trên nền đất điểm lá. Khi vừa ra ngoài cổng, nàng bỗng vượt lên, rồi chắp tay lại phía chàng, chắp cả hai tay: "Xin đa tạ quý nhân. Hẹn có ngày gặp lại!"Vừa nói xong, nàng đã quay mặt, rồi đi lẫn vào đám đông, được một lúc sau thì khuất dạng.
Sự việc diễn ra quá đột ngột, khiến cho chàng Từ Thức chết lặng hẳn người, chẳng kịp đôi hồi, chỉ còn biết dõi mắt nhìn theo và trong lòng cũng rộn lên muôn điều ngàn nỗi. Đến khi tầm mắt không còn phân biệt được gì, thì chàng cảm thấy hoàn toàn thất vọng. Tưởng như trời đất bỗng đâu nghiêng ngã quay cuồng, và chàng phải đứng tựa vào cổng chùa để giữ cho khỏi ngã. Ôi! Thế mới biết, cõi nhân gian này mới bé nhỏ và tội nghiệp làm sao! Cõi nhân gian này cũng thực mông lung dầy niềm bất trắc thế nào vậy!
Trở lại huyện đường, Từ Thức sống như người mộng ảo, chẳng thiết tha gì đến công việc. Hình bóng người đẹp in hằn lên mỗi bữa ăn, mỗi giấc ngủ của chàng. Chàng cảm thấy cuộc đời này sao mà nhàm chán vô nghĩa hơn nữa. Lúc nào cũng phải nghiêm trang, phải tuân theo giờ giấc răm rắp. Lại tỏ ra có phần khúm núm quỳ lụy trước quan trên, ra thưa vào bẩm. Đấy là còn chưa kể hàng đống sổ sách, công văn, giấy tờ phải ghi phải đọc và phải thực hiện ...
Tin tức người đẹp lại vẫn tuyệt nhiên chẳng thấy ở đâu. Không thê hỏi han, không thể thăm viếng nên cũng không thể tuyệt vọng. Từ Thức vô cùng buồn bã. Trong thời gian ca mấy tháng mà chàng làm đến cả ngàn bài thơ để diễn tả nỗi cô đơn và nỗi buồn của mình. Ôi! Những kẻ si tình, khi lâm vào hoàn cảnh ấy thì còn có thể bộc bạch lòng mình bằng cách nào khác được?
Kể ra thì nỗi buồn cũng không đến nỗi làm chàng Từ Thức quỵ ngã. Chàng vẫn có thể gắng gượng để lo phận sự của mình. Tuy nhiên, có một lần quan trên đến thanh tra, thấy công văn để ùn tắc lâu quá, đã nghiêm nét mặt lại mà khiển trách: Thân phụ thầy đã làm đến đại thần mà thầy lại không làm nổi một chức tri huyện hay sao?
Lúc ấy Từ Thức đỏ bừng mặt, lặng yên không nói năng gì, nhưng đêm về, lại nghĩ thấy hổ thẹn trong lòng: Làm trai mà để nhục cho cha mẹ thì thực mang tội bất hiếu. Lại nghĩ, bản tính mình vốn không có duyên phận với nghề làm quan, thì chẳng thà lui về quê còn hơn. Ở lại chỉ bận chuốc thêm lấy bực mình, và biết đâu, lại chẳng chuốc thêm lấy tai vạ. Khi mà lưng không uốn thì lộc cũng nên từ, ấy là cái lẽ đời mà mình cần phải tuân thủ.
Ngay đêm hôm đó, Từ Thức viết đơn từ quan. Mấy ngày sau, bàn giao xong công việc, chàng ghé qua thăm chùa Phật tích một lần cuối cùng, rồi nhẹ bước về quê, trong lòng chẳng mảy may hối tiếc.
Gia tử nguyên quan đại thần họ Từ, phụ thân của chàng, dĩ nhiên cũng thuộc loại bề thế, sang trọng, đầy những tòa ngang dẫy dọc. Biết tính khí con từ bé nên người cha cũng chỉ nhắc nhở qua loa, còn để mặc cho chàng sỗng theo sơ nguyện, miễn là không làm điều gì có hại đến luân thương đạo lý. Ông còn có mấy người con trai nữa nên cũng chẳng lo không có người để mở mày mở mặt với hậu thế sau này.
Trở về quê, Từ Thức sống những ngày an nhàn, thanh thản. Chỉ có người đẹp ở chùa Phật tích là thỉnh thoảng lại gợi nỗi sầu muộn trong trái tim chàng. Những lúc như thế, chàng thường dạo chơi trong vùng, đến những nơi có phong cảnh đẹp. Núi Chính Trợ uy nghiêm, đầy vẻ trầm tư. Động Lục Vân huyền bí, lung linh những sắc màu kỳ ảo. Còn sồn Lãi thì uốn lượn, lúa ngô xanh tốt đôi bờ. Cửa Nga Sơn quanh năm lộng gió, sóng biển dâng cuồn cuộn, thấp thoáng bóng thuyền bè. Hồn thơ lúc nào cũng lai láng, đến nơi nào Từ Thức cũng có thơ đề vịnh. Duy có điều, trong tất cả bài thơ, đều thấy phảng phất nỗi buồn.
Một hôm vào khoảng tháng hai khí trời thoáng đãng, Từ Thức dậy từ rất sớm ra cửa Thần Phù ngắm cảnh. Bống ở phía khơi xa có đám mây ngũ sắc hợp lại, kết thành hình đóa hoa sen rực rỡ. Chưa thấy sự lạ như thế xảy ra bao giờ, Từ Thức vội vàng chèo thuyền ra xem, nhưng đến nơi lại thấy đấy là một trái núi tuyệt đẹp. Từ kinh ngạc nhủ thầm: "Ta đã từng du ngoạn khắp nơi. Những thắng cảnh ở miền Đông Nam này có chỗ nào mà ta chưa đặt chân tới? Không biết trái núi này từ đâu hiện ra ở ngay trước mắt mình. Có lẽ thần tiên hóa phép ra như vậy chăng?"
Nghĩ đoạn, Từ Thức liền kéo thuyền lên bãi, nhưng khi ngoảnh lên thì thấy trước mặt là một vách đá dựng đứng, cao ngút tầm mắt. Đang băn khoăn chưa biết thế nào thi bỗng đâu Từ nghe tiếng "chát" rất lớn, rồi thấy vách đá tự nhiên nức ra một cái hang, hình vòng tròn, rộng đến chừng mọt trượng. Từ đánh bạo bước ngay vào hang vì nghĩ rằng đất hẳn có tình ý chi đây, nên mới biến hóa ra như vậy.
Nhưng khi Từ bước vào cửa hang và đi được vài bước thì bỗng thấy trời đất tối sầm. Ngoảnh lại Từ thấy cửa hang tự nhiên đã khép kín miệng lại. Đánh liều, Từ cũng đành mò mẫm bước tiếp, nhưng càng đi càng thấy chột dạ. Hang đá sâu lại trơn nhaÜn, thành thử vừa đi Từ vừa phải vịn tay theo từng mô đá cho khỏi ngã. Nghĩ phen này chắc phải rơi xuống địa ngục thì vừa lúc tay sờ thấy một khe nhỏ hướng lên phía trên. Mừng quá, Từ vội vàng bám vào vách đá trườn lên, Từ càng có cảm giác như khe đá được nới rộng ra thêm, và một lúc sau, đã thấy ánh sáng le lói ở ngay phía trước mặt. Từ vẫn gắng gượng leo tiếp, được một lúc nữa thì tựa nhiên ánh sáng ở đâu ập tới. Thế là đã ra khỏi miệng hang, và bây giờ, trước mặt Từ hiện ra một quang cảnh vô cùng choáng ngợp, chưa từng thấy bao giờ. Đấy là hàng dãy những tòa lâu đài và thành quách được dát bằng vàng bằng bạc, và ở phía trước mỗi lâu đài, đều có treo đèn lồng lớn bằng ngọc bích. Có lẽ là chốn thần tiên, Từ Thức xiết bao sửng sốt bàng hoàng.
Đang dõi mắt ngắm nhìn cảnh vật, Từ chợt thấy một cô gái mặc áo xanh đến thi lễ ở ngay trước mặt rồi nói:
- Xin chào quý công tử. Phu nhân tôi có lời mời công tử đến lại thăm nhà.
Từ đáp lễ rồi đi theo cô gái. Sau khi vòng quanh một bức tường phủ gấm, lại bước qua một khung cửa điểm ngọc, trước mặt Từ bây giờ là một cung điện nguy nga, tỏa ánh sáng huyền ảo, lung linh.
Một bà tiên đang ngồi trên giường thất bảo khảm bằng ngọc lưu ly bước xuống ra cửa đón chàng. Khi hai bên thi lễ xong, bà mời Từ ngồi xuống chiếc giường nhỏ bên cạnh làm bằng gỗ đàn hương có khảm ngọc trai. Bà tiên mời từ uống nước, rồi nói:
- Từ ngày con gái tôi lâm nạn được công tử cứu giúp đến nay, tính theo lịch hạ giới, đã trọn một năm. Bây giờ mới có dịp mời công tử đến để trả ơn, xin công tử thứ lỗi cho.
Từ vội thưa lên:
- Thưa quý phu nhân, người dạy quá lời. Kẻ hàn sĩ làm việc nghĩa, ấy cũng là theo lẽ tự nhiên. Chỉ hiềm nỗi khi ấy công nương lại ra đi đột ngột, khiến cho trong lòn lúc nào cũng tơ tưởng nhớ mong. Bây giờ nếu được gặp lại thì thực có vui mừng nào bằng.
Bà tiên mỉm cười, ra hiệu cho cô gái hầu. Một lúa sau, có một nàng tiên dáng điệu thướt tha bước lại.
Vừa trông thấy người đẹp , Từ Thức đã bồi hồi xúc động. Dung quang nàng vẫn như ngày xưa, còn vẻ vui tươi thì tăng thêm gấp bội phần.
Bà tiên trỏ vào con gái, bảo:
- Con tôi đây là Giáng Hương. Chuyện năm ngoái cháu đã về thưa lại. Ơn cứu mạng thì suốt đời báo đáp. Luật trần gian hay luật trên trời thì cũng đều thảy như vậy vả. Nếu công tử không chê, xin hãy ở lại cùng Giáng Hương nên vợ nên chồng, để cho trọn tình trọn nghĩa.
Thực là lời nói như cởi tấm lòng, Từ Thức chẳng có vui mừng nào hơn nữa. Chàng bước ra khỏi giường, đến quỳ xuống trước mặt bà tiên và xin nhận làm nhạc mẫu.
Ngày cử hành hôn lễ của Từ Thức, Giáng Hương là một ngày hội chư tiên tưng bừng. Dưới trần gian, dẫu các hạng vua chúa lấy vợ lấy chồng cũng không thể nào so sánh. Mỗi loại tiên mang một loại trang phục khác nhau, đều cực kỳ sang trọng và trang nhã, lại cưỡi trên những con vật quý mà dưới trần gian mới chỉ nghe tên. Mỗi khi một cơn gió thổi tới cùng với mùi hương trầm thơm ngát, là lại thấy một vị tiên mới xuất hiện.
Khi các chư tiên đã tề tựu đông đủ thì yến tiệc được bày ra, nhanh cũng chỉ trong một thoáng. Đầy các của ngon vâït lạ mà sơn hào hải vị ở dưới trần gian cũng chẳng sánh bằng. Các thức ăn được bày trên bát đĩa bằng ngọc thạch và được đặt trên mâm vàng mâm bạc. Khi các chư tiên mở rượu khai vị thì mùi hương thơm ngài ngạt lan tỏa ra khắp bầu trời.
Các tiên lần lượt đến chúc mừng cho ngày vui và hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ. Vẻ hào hoa thanh lịch hiện ra trong mỗi ánh mắt nụ cười. Để đáp lại, Giáng Hương, Từ Thức cũng biểu hiện những cử chỉ thực muôn phần duyên dáng, nhã nhặn.
Sau bữa tiệc, ácc chư tiên cũng nhau múa hát tưngbừng. Những vũ điệu thực nhẹ nhàng, uyển chuyển, hào quyện trong tiếng nhạc thật du dương trầm bổng, tưởng như cuộc vui sẽ kéo dài ra mãi thời gian và ra khắp không gian.
Từ Thức nhân đó bảo khẽ với Giáng Hương:
- Có lẽ các vị chư tiên cũng có lòng vật dục như người ở dưới trần gian chăng?
Giáng Tiên nghiêm sắc mặt lại trả lời:
- Xin chàng chớ nên nghĩ như thế. Chỉ có riêng mình thiếp là lòng còn vướng bụi trần. Các chư tiên khác đều là do khí huyền nguyên của trời đất mà sinh ra cả.
Nghe thấy thế Từ Thức xiết bao kinh ngạc, nhưng không để lộ ra nét mặt bên ngoài. Lại chợt nghĩ dẫu sao mình cũng có niềm tin tưởng: Về cốt cách, Giáng Hương chẳng có điểm tương đồng với mình đó sao?
Sau hôn lễ, Từ Thức tập làm quen dần với đời sông tiên cảnh. SaÜn nếp hào hoa phong nhã, chàng có cách ứng xử hợp tình hợp lý, khiến cho nhạc mẫu rất vừa ý và Giáng Hương cũng thực đẹp lòng. Lại saÜn hồn thơ lai láng, có lần chàng vẫy bút làm đến cả chục bài thơ, mà bài nào cũng thuộc loại "lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" cả. Còn khi cao hứng lên thì chàng đàn hát cũng thật mê mẫn, say sưa. Những ngón đàn tuyệt kỹ khiến cho các chư tiên nghe thấy cũng phải thán phục, lắc đầu. Ôi! Những ngày sống vô tư lự, sống hết mình của chàng mới thực sung sướng,mới thực hoàn mỹ làm sao! Chẳng bao giờ phải lo đến chuyện sinh kế. Muốn có thứ gì chỉ cần hóa phép ra một lần là đủ. Cũng chẳng bao giờ có sự ganh ghét, đố kỵ, là những thói xấu xa, phàm tục của người đời. Ở miền tiên giới, cảnh đã đẹp như gấm như hoa, các tiên đối xử với nhau lại rất mực khoan hòa, độ lượng. Chẳng thế mà bao nhiêu đời nay, cả loài người đã từng mơ ước, thèm khát đời sống ấy sao?
Thế nhưng cuộc sống ấy lâu dẫn hóa ra lại không thích hợp vời chàng Từ Thức. Không phải ngày nào cũng làm thơ, ngày nào cũng ca hát được. Của ngon vật lạ ngày nào cũng có, nhưng vì như thế mà ra tầm thường. Bạc vàng châu báu dùng mãi rồi cũng cẳnng thấy sang quý nữa. Đã thế, các chư tiên ở đây còn có bầu bạn xum vầy, chứ Từ Thức thì biết chuyện trò, chia sẻ tâm sự cùng ai, chẳng lẽ lúc nào cũng quấn quýt bêm vợ? Hoa lá cỏ cây, con đò bến nước, và nhiều thứ khác ..., đành rằng chỉ cần hóa phép ra là có, nhưng bất chợt cặp mắt muốn nhìn, thì nào có thấy đâu? Lại còn cha mẹ, anh chị em, họ hàng làng xóm nữa, làm sao chàng có thể nguôi quên được họ? Đấy là còn chưa kể đến bao nhiêu công việc làm ăn sinh sống và những nỗi lo toan, mà cho dù cực nhọc, cho dù khốn khó, thì dẫu sao cũng vẫn là nguồn động viên, là nguồn hy vọng và sự kích thích năng lực con người. Thiếu những thứ đó, con người tưởng được thanh nhàn, tưởng được nghỉ ngơi, nhưng hóa ra lại làm cho chân tay bải hoải, và tâm hồn cũng ngưng trệ, trống rỗng.
Chung quy, cũng chỉ tại Từ Thức vẫn còn mang nặng kiếp người, chứ chưa thể khoác ngay "lốt" tiên vào được. Xem thế đủ biết, kiếp trần này mà cũng thật nặng tình, không thể vứt bỏ đi, để thay vào đó là một kiếp tiên hoàn hảo được!
Sau mấy tháng, nỗi buồn mới chỉ bất chợt hen nhóm trong lòng Từ Thức, nhưng sau một năm, thi nỗi buồn ấy đã hiện ra trên nét mặt, nên tránh sao khỏi cặp mắt nhìn của Giáng Hương. Một hôm, nàng hỏi chồng:
- Chẳng biết thiếp đối với chàng có điều gì không phải, nên chàng mới không hài lòng như thế chăng?
Lúc đầu Từ Thức còn chối quanh, nhưng về sau chàng cũng đành thú thực:
- Chẳng dấu gì nàng. Ở đây tuy là miền cực lạc, nhưng dẫu sao nhiều khi tôi vẫn còn canh cánh lòng trần.
Giáng Hương nghe thấy thế buồn bã nói:
- Vậy ... hóa ra là như thế ư? Tưởng bấy lâu nay chàng đã một lòng một ý với thiếp rồi? Thôi việc này tùy chàng định liệu. Làm sao thiếp có thể thay thế ước muốn của chàng được?
Mấy ngày sau, Từ Thức xin với phu nhân cùng Giáng Hương cho chàng được trở lại thăm quê hương một lần.
Phu nhân dịu dàng nói:
- Chẳng hay con đã suy nghĩ kỹ càng chưa?
Từ Thức suy nghĩ hồi lâu rồi cung kính đáp:
- Thưa nhạc mẫu, con đã suy nghĩ kỹ càng rồi.
Phu nhân đứng dậy, phất tay một cái, tự nhiên một cỗ xe cẩm vân lướt đến trước thềm. Phu nhân chỉ chiếc xe nói:
- Ta tặng con vật này, đi đường xa cho đỡ mệt nhọc. Chúc con lên đường may mắn.
Nói rồi phu nhân lui gót vào trong. Lúc ấy Giáng Hương mới tiến lại phía chàng:
- Thiếp tưởng sẽ cùng chàng ăn đời ở kiếp, nhưng nào ngờ, bây giờ giữa đường ...
Nói đoạn, nàng rút từ ống tay áo ra một bức lụa cuốn, rồi nói tiếp:
- Thiếp xin gửi chàng vật này. Khi về tới cõi trần, chàng hãy mở ra. gọi là một chút kỷ vật ...
Vừa nói, nước mắt nàng vừa lã chã tuôn rơi. Chàng cũng thấy mình nước mắt vòng quanh, phải đưa khăn lên lau mặt.
Xe cẩm vân chỉ thoáng chốc đã đưa Từ Thức về đến trước nhà. Nhìn quanh, thấy cảnh núi non, sông suối vẫn như xưa, nhưng làng mạc, nhà cửa thì đã thay đổi, họa hoằn lắm mới còn chút dấu vết như lúc trước. Từ Thức cảm thấy bùi ngùi trong dạ. Đường làng tuy có nhiều người đi lại, nhưng nhìn ai chàng cũng thấy lạ lẫm vì chưa từng gặp bao giờ. Chợt có ông lão râu tóc bạc phơ tiến lại gần, chàng bèn chấp lấy tay hỏi han. Cụ già nói:
- Thuở bé tôi có nghe nói em ông cụ tam đại nhà tôi cũng có tên như ông, nhưng đã đi ra biển, rồi không thấy trở về. Tính ra từ đó đến nay thì đã hơn một trăm năm rồi ...
Nghe thấy thế, Từ Thức bỗng như bừng tỉnh, chợt hiểu rõ sự tình. thì ra một năm trên tiên cảnh bằng cả trăm năm dưới hạ giới, trách chi mà chẳng vật đổi sao dời. Chàng chào ông lão, rồi lại toan bước lại gần cỗ xe, nhưng ngay lập tức, cỗ xe hóa ra một con chim loan, bay đi mất.
Từ Thức tìm đến tấm lụa vẫn để ở một bên tay áo, nhơ lời Giáng Hương dặn dò, chàng mở ra xem. Đọc đến hai chữ "vĩnh biệt" ở cuối thư, thì chàng hiểu rằng, con đường trở lại cõi tiên của chàng không còn nữa.
Chàng lững thững bước ra khỏi làng, rồi cứ như thế, đi mãi, đi mãi ...
Người ở các đời sau đã đàm luận khá nhiều về câu chuyện chàng Từ Thức này. Chẳng mấy ai không tiếc cho chàng: Sao không ở lại cõi tiên mãi mãi?
Nhưng có lẽ cũng chẳng mấy ai thực sự thông cảm với chàng: Hễ cứ muốn từ bỏ cõi trần là trong lòng thanh thản và có thể thực hiện được hay sao?
Ôi! Cõi trần! Phải chăng đó chính là định mệnh, là số kiếp của con người ta?
Sunday, July 11, 2010
Uy Minh Vương Lý Nhật Quang
Uy Minh Vương Lý Nhật Quang
Saturday, 20. October 2007, 08:47:07
Truyền thuyết
Con trai thứ tám của Thái tông, vua thứ hai triều Lý, tên gọi Lý Hoảng, hiệu Nhật Quang, là người trung tín, phong độ dàng hoàng, làm việc tận tụy, hành động quả cảm.
Bấy nhiêu nết tốt ... nhưng đến một lúc không được tin dùng, do sự dèm pha, nghi kỵ, và khi qua đời, đã để lại trong dân chúng nhhiều nỗi tiếc thương.
Biết là con cháu sau này lắm vợ nhiều con, nên để chọn một người kế vị xứng đáng, vua sáng lập triều Lý (tức Lý Thái Tổ) đã đặt ra lệ là phong tước cho các con của mẹ đích là vương, các con của mẹ thứ là hầu, và không đặt ngôi hoàng thái tử.
Làm như vậy để khuyến khích các con chăm làm điều thiện, qua đó mà chọn được người xứng đáng để truyền ngôi.
Nhưng trái lại với ý tưởng đó, trên thực tế đã xảy ra nhiều vụ tranh giành, bằng hành vi mờ ám và bằng cả bạo lực.
Tuy vậy, cũng vẫn có những vị Hoàng tử làm đúng theo giáo huấn của Lý Thái Tổ, đã tu nhân tích đức, làm tròn phận sự và không nghĩ đến sự tranh giành quyền lực.
Con thứ tám của Lý Thía Tông là một trong những vị Hoàng tử như vậy.
Thời Lý Thái Tông trị vì, Lý Hoảng là con mẹ thứ nên được phong tước hầu. Năm Càn phù hữu đạo thứ nhất (1039), nhận thấy đã khôn lớn, Lý Thái Tông giao cho Lý Hoảng đảm nhiệm việc thu thuế ở châu Nghệ An.
Đến nơi nhậm chức, rồi ở lại mấy mùa, Lý Hoảng làm việc tận tụy, thu đủ số thuế phải nộp, ngoài ra không nhân cơ hội đó để hà lạm thêm của dân như nhiều vị quan thu thuế khác, vì vậy đã được tiếng là người thnah liêm, chính trực.
Hai năm sau (1041) xét thâý có thể tin tưởng hơn, Lý Thái Tông giao cho Lý Hoảng làm tri châu Nghệ An, tước hiệu là Uy minh hầu Lý Nhật Quang.
Khi ấy, Lý Thái Tông đã có ý định đánh Chiêm Thành, bèn tiến hành những công việc chuẩn bị. Ở châu Nghệ An, nhà vua giao cho Nhật Quang làm một hoành doanh dọc theo sông Bà Hòa (nay là xã Đông Hòa huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa) gọi là trại Bà Hòa.
Trại này có vị trí hiểm trở, kiên cố. Bốn mặt trại có hào sâu, lũy cao, còn ở trong là nền đất rộng có thể chứa được ba, bốn vạn quân lưu thủ, ngoài ra lại có các kho tàng chứa vật dụng, và lương thực thì dự trữ đủ dùng trong ba năm liền. Xung quanh trại đặt các điếm canh, ngày đêm tổ chức tuần tra canh phòng cẩn mật.
Ba năm sau (1044) Lý Thái Tông cất đại quân đi đánh Chiêm Thành. Nhờ kho hậu cứ Bà Hoà được chuẩn bị chu đáo, nên vật dụng và lương thực dồi dào, quân sĩ yên tâm chiến đấu.
Trong trận đánh lớn ở bờ Nam sông Ngũ Bồ (có thể là hạ lưu sông Thu Bồn, chảy ra cửa Đại Chiêu, ở Quảng Nam Đà NaÜng ngày nay), Tướng Quách Gia Di chém được đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu. Quân ta đại thắng.
Nhà vua khải hoàn, dẫn quân trở về, tới hoành doanh Bà Hòa thì nghỉ lại. Nhật Quang đón tiếp nhà vua và sắp xếp nơi ăn chốn nghỉ cho quân sĩ đầy đủ, chu đáo, được nhà vua khen ngợi.
Khi xem xét các giấy tờ sổ sách, thấy ghi chép cẩn thận, rõ ràng. Xem kho tàng cùng nhiều nơi khác, thấy sắp đặt gọn gàng, đâu ra đấy. Nhà vua rất hài lòng, thăng cho Lý Nhật Quang từ tước hầu lên tước vương, lại cho cai quản thêm một lộ mới cùng với châu Nghệ An.
Sau khi căn dặn Nhật Quang ở lại lo tròn nhiệm sở, bắt tay vào công việc ...
Cùng thuộc hạ kiểm tra và ghi chép lại sổ sách của lộ mới thêm, một vừa làm vừa vất vả vừa tỉ mỉ - gồm 6 huyệnn 4 trường, 60 giáp với 46.450 hộ, 54.364 nhân khẩu. Theo lêïnh chỉ của nhà vua, Uy Minh Vương sắp xếp và đặt tên lại cho các chức vụ trong lộ mới.
Ở châu Nghệ An và lộ mới sát nhập, bấy giờ (và cả sau này) có nhiều bộ tộc người thiểu số (thời ấy gọi là Di, Lạo) và có đường biên giới vừa dài vừa hiểm trở cung với nước Ai Lao (Lào). Các bộ tộc thiểu số lúc ấy phần lớn chưa chịu nôi thuộc triều đình, còn ở biên giới thì hay xảy ra những vụ tranh chấp.
Được nhà vua ủy thác, Uy Minh Vương mang tiết việt dẫn quân đi tuần tra biên giới và các vùng có người thiểu só ở.
Các vị tù trưởng từ đấy đều về thuần phục triều đình. Cuối đợt "thị sát" Uy Minh Vương thu được 5 châu, 22 trại, 56 sách và vẫn để các vị tù trưởng cai quản địa hạt như cũ. Ở biên giới, Uy Minh Vườngcung quan alị địa phương của Ai Lao xác định lại các vị trí, rồi dựng bia cắm trụ (tức "cột mốc") để ghi nhớ về sau.
Năm 1054, Lý Thái Tông băng hà. Lý Nhật Tôn, con trai trưởng của Thái Tông kế vị, tức là vua Lý Thánh Tông.
Như đã thành thông lệ, động thái đầu tiên của một vị vua mới lên ngô bao giờ cũng gồm các việc: Đặt niên hiệu, tôn phong (hoặc truy phong) cha mẹ, phong tặng quan lại tuớng sĩ (nhất là những người có công trực tiếp) và đại xá thiên hạ.
Vì sự tranh chấp ngôi vua giữa các vị Hoàng tử là điều xảy ra khá thường xuyên, nếu không bộc lộ trực tiếp thì chí ít cũng ở dạng tiềm ẩn, ngấm ngầm, vì vậy khi mới lên ngôi, vị vua nào cũng đều có sự đề phòng. Và sự đề phòng này nhiều khi cũng thực quá đáng. Cho nên, đừng tưởng nhà vua mới đăng quang phong tặng, đại xá ... thì đều là đức độ và dễ dãi cả đâu. Không ít trường hợp, đấy chỉ là sự lừa mị, che mắt thiên hạ. Vì vậy, điều đáng buồn xảy ra với các vị hoàng tử không được làm vua mà thực bụng (tức là không có ý định tranh giành ngôi báu)là vẫn bị nhà vua nghi kỵ, đề phòng. Và đó chính là điều đã xảy ra với vị Hoàng tử của đời vua trước, em của đời vua sau, là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang này.
Khi nghe tin vua Lý Thái Tông băng hà, ở vùng biên giới và dân tộc thiểu số thuộc châu Nghệ An, Ông Yết và Lý Bí khởi loạn, thnàh thế mỗi ngày một lớn.
Là viên quan tri nhậm trực tiếp, Uy Minh Vương tính rằng: nếu theo lệ thường, cho người phi báo về kinh rồi thì người đó mang lêïnh chỉ của nhà vua trở về, thì đường xa xa xôi, đi lại tất mất nhiều thời gian. Nếu đến lúc đó mới mang quân đánh dẹp thì tức là đã để lỡ thời cơ, không đúng với phép dùng binh. Vì vậy, vừa cho người về kinh, Uy Minh Vương vừa xuất quân đi đánh Ông Yết, Lý Bí.
Sau mấy tháng hành quân, đánh dẹp vất vả, Uy Minh Vương thắng lợi trở về nhiệm sở, cũng là lúc có chiếu chỉ nhà vua mới tới. Tưởng là chiếu chỉ khen thưởng, những nào ngờ, khi quỳ xuống ghe đọc thì lại là chiếu chỉ trách cứ. "Thực là nhục nhã" - Uy Minh Vương tự nhủ.
Thời gian mấy tháng Uy Minh Vương dẫn quân đi đánh dẹp thì cũng là lúc Lý Thánh Tông đã lên ngôi xong, và cũng nghe đủ mọi tin tức từ miền Nghệ An tới. SaÜn tâm lý đề phòng, nghi kỵ, lại nghe có vị triều thần xu nịnh tâu rằng như thế là Uy Minh Vương tự quyền, nên Lý Thánh Tông ban ra chiếu chỉ trách cứ để răn đe trước ấy.
Uy Minh Vương và Lý Thánh Tông chỉ là anh em cùng cha khác mẹ, tình cảm lâu nay cũng chẳng có gì thân thiết. Việc Nhật Quang dược vua cha khen ngợi rồi phong lên tước vương lúc này chỉ làm cho Lý Thánh Tông càng thêm đố kỵ. Hơn nữa, lúc này Uy Minh Vương đang tụi nhậm cả một vùng rộng lớn, được dân chúng mến phục, lại có saÜn quân quyền trong tay, nên Lý Thánh Tông còn lo cả việc Minh Vương sẽ làm phản, như đã thường xảy ra như thế. Vì vậy, cùng với chiếu tách cứ "tự quyền", Lý Thánh Tông cũng không quên căn dặn viên quan công vụ vốn là thuộc hạ cũ ở Đông cung, hãy kín đáo dò xét mọi thái độ, hành vi của Uy Minh Vương mà cho người mật báo về kinh ngay.
Vốn là người từng trãi, nên thoáng thấy viên quan công vụ cùng thái độ của chỉ của y là Uy Minh Vương đã hiểu rõ sự tình. Ngài buồn về nỗi nhân tình thế thái sao mà bạc bẽo, bỉ lậu đến vậy. Anh em dẫu sao không cùng mẹ nhưng cũng cùng huyết thống, tưởng sẽ nâng đỡ, tin cậy nhhua hơn, vậy mà lại nghi kỵ còn hơn cả gnười ngoài. Những khi lặn lội, xông pha ở miền biên ải, Uy Minh Vương không ngờ có lúc chính mình sẽ phải nếm trải nông nỗi, nguồn cơn này.
Cứ theo như di huấn của Lý Thái Tổ mà Lý Thái Tông chịu thực hiện, tức là đem việc chọn người ra bàn bạc thì rất nhiều có thể người được chọn là Nhật Quang. Những đức tính rồi cả những công việc mà Nhật Quang đã làm chắc cả triều đình đều biết. Việc Nhật Quang được ban khen, thăng tước, được dân sở tại yêu mến kính trọng, thì cả triều đình cũng chẳng lạ gì.
Tuy Nhật Tôn(tức Lý Thánh Tông) đã ở Đông cung, lại đã từng được "giám quốc", được "lưu thủ kinh sư" khi Lý Thái Tông đi đánh dẹp xa, nhưng uy tín đức độ so với Nhật Quanh chắc gì đã hơn? Nếu thực sự công khai bằng công bằng thì có thể nói chắc là Nhật Tôn còn kém nữa!
Nhật Tôn có lời thế là con trưởng, tuổi lớn hơn Nhật Quang. Nhật Tôn lại luôn óc mặt ở kinh thành, vì vậy, khi Lý Thái Tông có triệu chứng xấu về sức khỏe, thì đã cho Nhâït Tôn coi chầu nghe chính sự (tháng 7 - 1054). Hơn hai tháng sau Lý Thái Tông băng hà(1/10/1054).
Có thể nói như thế này: Một vị Hoàng tử được phong ở Đông cung (thường là con trưởng, tuổi lớn nhất) khi vua cha còn sống và còn khỏe mạnh thì chính yếu đấy là một biện pháp dự phòng, chứ chưa thể nói chắc là người ấy sẽ được kế vị, vì rất có thể nhà vua sẽ thay đổi quyết định. Trường hợp Nhật Tôn trước tháng 7 - 1054 là như thế. Nhưng khi nhà vua đau ốm thì người được gọi vào"coi chầu nghe chính sự" sẽ là người kế vị. Đây lại là một giải pháp tình thế hơn là một giải pháp chiến lược, do vậy, người lên ngôi mới chưa hẳn là người tài cao đức cả nhất trong số các hoàng tử. Và trường hợp Nhật Tôn sau tháng 7 - 1054 cũng chính là như thế!
Hành động của Nhật Quang mang quân dẹp loạn là xuất phát từ quyền lợi của cả vương triều chứ đâu phải là "làm việc chuyên quyền, tự ý dùng quân đánh dẹp", do vậy "sự ngờ vực" của Lý Thánh Tông có thể xem như sự nghi kỵ, đề phòng, tuy là ra oai, nhưng đã chứng tỏ một sự kém độ lượng.
Lịch sử cung đình xưa nay vẫn chứa đựng nhiều tấn bi kịch, và đây chỉ là một ví dụ.
Sau khi nhận thức rõ tình thế của mình, Uy Minh Vương đã đệ đơn lên nhà vua xin từ chức. Sự việc đó xảy ra vào năm Long Thụy thứ hai (1055) của triều Lý Thánh Tông, nhưng thực ra chỉ cách khoảng nửa năm kể từ ngày nhà vua mới đăng quang (5 - 1054).
Có thể hiểu được tâm trạng của Uy Minh Vương lúc này là đang lâm vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan". Ở lại thì nhục nhã, vì có công mà bị quở trách. Nhưng ra về thì tự chuốc lấy tai họa, vì đã chạm đến lòng tự ái của nhà vua.
Còn đối với Lý Thánh Tông, bên trong thì mừng thầm vì như vậy đã trừ đi một hậu họa (sợ bị làm phản) nhưng bên ngoài thì rõ ràng bẽ mặt với các hoàng tử và triều thần, vì vừa mới lên ngôi mà đã có vị Hoàng thân vào loại đức độ, uy tín nhất xin từ chức.
Trong hai giải pháp: nhận đơn (thuận cho từ chức) hoặc bác đơn (không hco từ chức), Lý Thánh Tông đã chọn giải pháp thứ nhất. Giải pháp ấy vừa thỏa mãn lòng tự ái, vừa có lợi, nhưng đó cũng là sự"dứt tình", là dấn sâu thêm vào sự đề phòng và nghi kỵ đã có.
Khi hay tin có quan mới đến tri nhậm, lại hay tin Uy Minh Vương đang dời nhiệm sở, đông đảo dân chúng từ nhiều nơi trong châu Nghệ An kéo về, người níu xe, kẻ giữ ngựa, rồi khóc lóc thảm thiết, xin Vương ở lạ.
Dân chúng vốn không Uy Minh Vương đã có đơn từ chức, và họ chỉ hành động theo những tình cảm tự nhiên bồng bột và chất phát của mình, nhưng sự viêïc ấy, vô hình trung lại gây tai họa thêm cho tính mạng của Vương.
Lý Thánh Tông sau khi phê đơn để Uy Minh Vương từ chức, liền cử ngay một viên quan thân tín vào thay thế. Việc Uy Minh Vương ra về đưọc đông đảo dân chúng ái mộ làm cho viên quan mới này khó chịu, và khoét sâu thêm lòng tự ái đã có của Lý Thánh Tông.
16 năm xa kinh thành rồi vào đây thu thuế rồi ở lại trị nhậm, trên thực tế Uy Minh Vương và gia đình (vợ, con, đầy tớ ...)đã trở thnàh những người địa phương cả rồi. Vì vậy, việc một Hoàng thân đã từng tri châu lâu năm, nay là thường dân nhưng đã "địa phương hóa" và được dân chúng mến mộ, tất nhiên sẽ là cái gai ở ngay trước mắt của quan sở tại mới.
Quan sở tại muốn nhổ cái gai ấy, còn nhà vua đương nhiệm, không biết có muốn nhổ hay không nhưng chắc chắn là Ngài chẳng ưa gì ...
Cái chết của Uy Minh Vương đến sau đó ít lâu, vì thế vẫn còn là điều bí mật. Không ai vén bức màn này lên cả. Tuy nhiên vẫn có câu chuyện truyền thuyết về cái chết của Ngài ...
Tư ngày trở thành "phó thường dân" (như danh từ của thời hiện đại), Uy Minh Vương Nhật Quang (tất nhiên vẫn còn tước hiệu cũ, chỉ không còn chức mà thôi!) cùng gia đình về sống tại xã Bạch Đường, huyện Nam Đường, Nghệ An. Ngài trồng hoa, nuôi chim, gặp gỡ bạn bè,v.v ... Nói chung nhìn từ bề ngoài vào, thấy cuộc sống của Ngài cũng khá an nhàn, thoải mái.
Một hôm, Ngài đang ngồi trong nhà, bỗng thấy một con quạ bay đến trước mặt, làm cho bầy chim nuôi xao xác. Người nhà chạy ra định bắt thì Ngài khoát tay bảo rằng để xe nó thế nào. Con quạ bay quanh trong nhà ba vòng, vừa bay vừa kêu, rồi xà vào trong lòng Ngài.
Bỗng nhiên con quạ biến thành một tờ giấy trắng , ở trong có hình lờ mờ như hình rồng mây ...
Chẳng biết Ngài thấy linh tính báo trước điều gì mà không tiện nói ra, nhưng chỉ biết sau đó, Ngài cho người nhà đi khắp nơi mời bạn bè gần xa đến, rồi sai người nhà chuẩn bị cỗ bàn thật thịnh soạn để tiếp đãi khách ...
Bữa ấy, Ngài và gia đình cùng bạn bè đã "vui vẻ" với nhau một "trận" thật thoải mái. Ăn uống xong lại còn đàn sáo, ca hát thật tưng bừng. Đêm đã khuya, bạn bè lúc ấy vẫn còn đông đủ, nhưng Ngài mệt quá, rồi gục xuống bàn ngủ thiếp đi. Bạn bè cũng thế, ai muốn ngủ thì cứ ngủ, còn ai thích đàn thích hát thì cứ tiếp tục đàn hát ...
Trong giấc ngủ mơ màng, Ngài bỗng thấy một ông già, chừnng sáu mươi nhăm tuổi nhưng còn quắc thước, đầu đội mũ đính ngọc có giải, mình mặc áo đại trào màu tía, ngang lưng thắt đai dát vàng, chân đi hài thêu. tay ông già cầm thanh long đao có lưỡi như vành trăng. Ông tiến đến trước mặt Ngài, vái chào rồi nói:
- Tôi là sao Vũ Khúc trên trời , vâng lệnh Ngọc Hoàng mời Ngài đến sở của Tử Hư đế quân để thảo một chương ngọc điệp.
Ngài thấy ngạc nhiên quá bèn đáp lại:
- Có lẽ Ngài nhầm đấy, tôi người trần mắt thịt, làm sao có thể làm việc ở trên thiên đình? Nói xong Ngài đứng thẳng dậy luôn, mắt nhìn thẳng vào mặt ông già rồi gạt thanh long đao ra.
Cùng lúc với động tác đó, mệng Ngài nhẩm thành tiếng "Lạ thật", rồi thức dậy ngay liền.
Bạn bè thấy Ngài thức dậy như vậy, lại nhìn vẻ mặt, thấy có vẻ ngơ ngác, bèn xúm lại hỏi han: "Làm sao mà như thế"
Ngài thuật lại giấc mộng của mình. Rồi một người nói: "Chắc là điềm lành đấy", nhưng chỉ thấy Ngài lắc đầu có vẻ buồn bã. Ngài bảo bạn bè: Ai còn sức thì cứ vui chơi ca hát đi, còn mình thấy hơi váng đầu, xin phép được đi nằm, lúc nào tỉnh dậy sẽ tiếp tục cuộc vui ...
Không ai ngờ rằng, đó là những lời nói cuối cùng của Ngài.
Khi đêm đã khuya, một vài người bạn còn thức đến lay gọi xem Ngài đã tỉnh hay chưa, khi sờ vào, đã thấy tay chân và toàn thân Ngài lạnh toát.
Mọi người nháo nhác, cùng xúm vào lay gọi, nhưng Ngài đã đi vào cõi vĩnh hằng rồi.
Đám tang của Ngài rất đông, gần kín cả một cánh đồng. Tiếng khóc, tiếng kêu than thảm thiết như lay động cả đất trời. Khi đã chôn xong, hàng tuần sau còn thấy dân chúng khắp các nơi trong châu kéo về để thắp hương trên mộ Ngài. Từ trẻ con đén cụ già, ai ai cũng thấy hai mắt đỏ hoe, giọt lệ sụt sùi. Họ thực sự tiếc thương một con người mà trong suốt cuộc đời đã hết lòng thương yêu và gắn bó với họ.
Dân chúng tin rằng không phải Ngài mất đi mà chính là Ngài đã được Ngọc Hoàng thượng đế đưa vào cõi bất tử.
Đền thờ chính của Ngài được lập tại xã Bạch Đường, nơi mà Ngài đã sống những ngày cuối đời. Còn những nơi khác, rải rác khắp trong châu Nghệ An mà suốt 16 năm qua Ngài đã từng gắn bó, nhiều đền thờ nữa cũng được lập nên. Ngày tuần, ngày tiết, rồi ngày Tết, ngày kỵ giỗ, dân chúng đều đến thắp hương dâng lễ vật, để tưởng nhớ và cầu mong Ngài làm cho mưa thuận gió hòa, cho sản vật dồi dào và mọi người an cư lạc nghiệp ...
Những lời cầu mong ấy bao giờ cũng được đáp ứng! Ở triều đình, nhà vua thấy vậy, liền ra sắc phong Ngài là đại phúc thần của cả châu Nghệ An.
Từ đó về sau, mỗi khi nhà vua hay các tướng lĩnh mang quân đi đánh dẹp qua các châu này, thảy đều mang hương hoa, lễ vật đến đền chính của Ngài để xin hiển ứng phù trợ. Rồi bao giờ cũng thấy một kiệu rước bài vị của Ngài đi trước hàng quân. Lại cũng thấy, trong những trận giáp chiến của quân ta, có cả tiếng binh mã vang dậy trên trời như góp thêm thanh thế. Đó là vì, Ngài đã mang thiên binh trở về giúp dập để quân ta chiến thắng quân địch.
Rõ rệt nhất là trong đờiù Trần Thái tông, niên hiệu Nguyên Phong, khi nhà vua mang quân đi đánh Chiêm Thành, đã cho thuyền chở kiệu của Ngài đi trước. Chẳng có chèo lái, cũng chẳng có gió thổi, vậy mà thấy thuyền chở kiệu của Ngài lướt sóng băng băng tiến lên phía trước. Vua Trần Thái tông cả mừng, nói rằng đấy là điềm báo trước sự thắng trận.
Quả nhiên sau đó, chỉ một trận đánh, quân Chiêm Thành đã đại bại. Vua Chiêm chạy thoát, nhưng Hoàng hậu, thê thiếp và nhiều quân sĩ khác đã bị bắt (1252).
Lúc khải hoàn, quân đội ra về qua huyện Nam Đường, Vua Trần Thái tông thân đến đền chính của Ngài để tạ ơn rồi phong tặng Ngài là "Uy Minh dũng liệt đại vương".
Các triều đại về sau cũng noi gương đó mà làm theo ...
Saturday, 20. October 2007, 08:47:07
Truyền thuyết
Con trai thứ tám của Thái tông, vua thứ hai triều Lý, tên gọi Lý Hoảng, hiệu Nhật Quang, là người trung tín, phong độ dàng hoàng, làm việc tận tụy, hành động quả cảm.
Bấy nhiêu nết tốt ... nhưng đến một lúc không được tin dùng, do sự dèm pha, nghi kỵ, và khi qua đời, đã để lại trong dân chúng nhhiều nỗi tiếc thương.
Biết là con cháu sau này lắm vợ nhiều con, nên để chọn một người kế vị xứng đáng, vua sáng lập triều Lý (tức Lý Thái Tổ) đã đặt ra lệ là phong tước cho các con của mẹ đích là vương, các con của mẹ thứ là hầu, và không đặt ngôi hoàng thái tử.
Làm như vậy để khuyến khích các con chăm làm điều thiện, qua đó mà chọn được người xứng đáng để truyền ngôi.
Nhưng trái lại với ý tưởng đó, trên thực tế đã xảy ra nhiều vụ tranh giành, bằng hành vi mờ ám và bằng cả bạo lực.
Tuy vậy, cũng vẫn có những vị Hoàng tử làm đúng theo giáo huấn của Lý Thái Tổ, đã tu nhân tích đức, làm tròn phận sự và không nghĩ đến sự tranh giành quyền lực.
Con thứ tám của Lý Thía Tông là một trong những vị Hoàng tử như vậy.
Thời Lý Thái Tông trị vì, Lý Hoảng là con mẹ thứ nên được phong tước hầu. Năm Càn phù hữu đạo thứ nhất (1039), nhận thấy đã khôn lớn, Lý Thái Tông giao cho Lý Hoảng đảm nhiệm việc thu thuế ở châu Nghệ An.
Đến nơi nhậm chức, rồi ở lại mấy mùa, Lý Hoảng làm việc tận tụy, thu đủ số thuế phải nộp, ngoài ra không nhân cơ hội đó để hà lạm thêm của dân như nhiều vị quan thu thuế khác, vì vậy đã được tiếng là người thnah liêm, chính trực.
Hai năm sau (1041) xét thâý có thể tin tưởng hơn, Lý Thái Tông giao cho Lý Hoảng làm tri châu Nghệ An, tước hiệu là Uy minh hầu Lý Nhật Quang.
Khi ấy, Lý Thái Tông đã có ý định đánh Chiêm Thành, bèn tiến hành những công việc chuẩn bị. Ở châu Nghệ An, nhà vua giao cho Nhật Quang làm một hoành doanh dọc theo sông Bà Hòa (nay là xã Đông Hòa huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa) gọi là trại Bà Hòa.
Trại này có vị trí hiểm trở, kiên cố. Bốn mặt trại có hào sâu, lũy cao, còn ở trong là nền đất rộng có thể chứa được ba, bốn vạn quân lưu thủ, ngoài ra lại có các kho tàng chứa vật dụng, và lương thực thì dự trữ đủ dùng trong ba năm liền. Xung quanh trại đặt các điếm canh, ngày đêm tổ chức tuần tra canh phòng cẩn mật.
Ba năm sau (1044) Lý Thái Tông cất đại quân đi đánh Chiêm Thành. Nhờ kho hậu cứ Bà Hoà được chuẩn bị chu đáo, nên vật dụng và lương thực dồi dào, quân sĩ yên tâm chiến đấu.
Trong trận đánh lớn ở bờ Nam sông Ngũ Bồ (có thể là hạ lưu sông Thu Bồn, chảy ra cửa Đại Chiêu, ở Quảng Nam Đà NaÜng ngày nay), Tướng Quách Gia Di chém được đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu. Quân ta đại thắng.
Nhà vua khải hoàn, dẫn quân trở về, tới hoành doanh Bà Hòa thì nghỉ lại. Nhật Quang đón tiếp nhà vua và sắp xếp nơi ăn chốn nghỉ cho quân sĩ đầy đủ, chu đáo, được nhà vua khen ngợi.
Khi xem xét các giấy tờ sổ sách, thấy ghi chép cẩn thận, rõ ràng. Xem kho tàng cùng nhiều nơi khác, thấy sắp đặt gọn gàng, đâu ra đấy. Nhà vua rất hài lòng, thăng cho Lý Nhật Quang từ tước hầu lên tước vương, lại cho cai quản thêm một lộ mới cùng với châu Nghệ An.
Sau khi căn dặn Nhật Quang ở lại lo tròn nhiệm sở, bắt tay vào công việc ...
Cùng thuộc hạ kiểm tra và ghi chép lại sổ sách của lộ mới thêm, một vừa làm vừa vất vả vừa tỉ mỉ - gồm 6 huyệnn 4 trường, 60 giáp với 46.450 hộ, 54.364 nhân khẩu. Theo lêïnh chỉ của nhà vua, Uy Minh Vương sắp xếp và đặt tên lại cho các chức vụ trong lộ mới.
Ở châu Nghệ An và lộ mới sát nhập, bấy giờ (và cả sau này) có nhiều bộ tộc người thiểu số (thời ấy gọi là Di, Lạo) và có đường biên giới vừa dài vừa hiểm trở cung với nước Ai Lao (Lào). Các bộ tộc thiểu số lúc ấy phần lớn chưa chịu nôi thuộc triều đình, còn ở biên giới thì hay xảy ra những vụ tranh chấp.
Được nhà vua ủy thác, Uy Minh Vương mang tiết việt dẫn quân đi tuần tra biên giới và các vùng có người thiểu só ở.
Các vị tù trưởng từ đấy đều về thuần phục triều đình. Cuối đợt "thị sát" Uy Minh Vương thu được 5 châu, 22 trại, 56 sách và vẫn để các vị tù trưởng cai quản địa hạt như cũ. Ở biên giới, Uy Minh Vườngcung quan alị địa phương của Ai Lao xác định lại các vị trí, rồi dựng bia cắm trụ (tức "cột mốc") để ghi nhớ về sau.
Năm 1054, Lý Thái Tông băng hà. Lý Nhật Tôn, con trai trưởng của Thái Tông kế vị, tức là vua Lý Thánh Tông.
Như đã thành thông lệ, động thái đầu tiên của một vị vua mới lên ngô bao giờ cũng gồm các việc: Đặt niên hiệu, tôn phong (hoặc truy phong) cha mẹ, phong tặng quan lại tuớng sĩ (nhất là những người có công trực tiếp) và đại xá thiên hạ.
Vì sự tranh chấp ngôi vua giữa các vị Hoàng tử là điều xảy ra khá thường xuyên, nếu không bộc lộ trực tiếp thì chí ít cũng ở dạng tiềm ẩn, ngấm ngầm, vì vậy khi mới lên ngôi, vị vua nào cũng đều có sự đề phòng. Và sự đề phòng này nhiều khi cũng thực quá đáng. Cho nên, đừng tưởng nhà vua mới đăng quang phong tặng, đại xá ... thì đều là đức độ và dễ dãi cả đâu. Không ít trường hợp, đấy chỉ là sự lừa mị, che mắt thiên hạ. Vì vậy, điều đáng buồn xảy ra với các vị hoàng tử không được làm vua mà thực bụng (tức là không có ý định tranh giành ngôi báu)là vẫn bị nhà vua nghi kỵ, đề phòng. Và đó chính là điều đã xảy ra với vị Hoàng tử của đời vua trước, em của đời vua sau, là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang này.
Khi nghe tin vua Lý Thái Tông băng hà, ở vùng biên giới và dân tộc thiểu số thuộc châu Nghệ An, Ông Yết và Lý Bí khởi loạn, thnàh thế mỗi ngày một lớn.
Là viên quan tri nhậm trực tiếp, Uy Minh Vương tính rằng: nếu theo lệ thường, cho người phi báo về kinh rồi thì người đó mang lêïnh chỉ của nhà vua trở về, thì đường xa xa xôi, đi lại tất mất nhiều thời gian. Nếu đến lúc đó mới mang quân đánh dẹp thì tức là đã để lỡ thời cơ, không đúng với phép dùng binh. Vì vậy, vừa cho người về kinh, Uy Minh Vương vừa xuất quân đi đánh Ông Yết, Lý Bí.
Sau mấy tháng hành quân, đánh dẹp vất vả, Uy Minh Vương thắng lợi trở về nhiệm sở, cũng là lúc có chiếu chỉ nhà vua mới tới. Tưởng là chiếu chỉ khen thưởng, những nào ngờ, khi quỳ xuống ghe đọc thì lại là chiếu chỉ trách cứ. "Thực là nhục nhã" - Uy Minh Vương tự nhủ.
Thời gian mấy tháng Uy Minh Vương dẫn quân đi đánh dẹp thì cũng là lúc Lý Thánh Tông đã lên ngôi xong, và cũng nghe đủ mọi tin tức từ miền Nghệ An tới. SaÜn tâm lý đề phòng, nghi kỵ, lại nghe có vị triều thần xu nịnh tâu rằng như thế là Uy Minh Vương tự quyền, nên Lý Thánh Tông ban ra chiếu chỉ trách cứ để răn đe trước ấy.
Uy Minh Vương và Lý Thánh Tông chỉ là anh em cùng cha khác mẹ, tình cảm lâu nay cũng chẳng có gì thân thiết. Việc Nhật Quang dược vua cha khen ngợi rồi phong lên tước vương lúc này chỉ làm cho Lý Thánh Tông càng thêm đố kỵ. Hơn nữa, lúc này Uy Minh Vương đang tụi nhậm cả một vùng rộng lớn, được dân chúng mến phục, lại có saÜn quân quyền trong tay, nên Lý Thánh Tông còn lo cả việc Minh Vương sẽ làm phản, như đã thường xảy ra như thế. Vì vậy, cùng với chiếu tách cứ "tự quyền", Lý Thánh Tông cũng không quên căn dặn viên quan công vụ vốn là thuộc hạ cũ ở Đông cung, hãy kín đáo dò xét mọi thái độ, hành vi của Uy Minh Vương mà cho người mật báo về kinh ngay.
Vốn là người từng trãi, nên thoáng thấy viên quan công vụ cùng thái độ của chỉ của y là Uy Minh Vương đã hiểu rõ sự tình. Ngài buồn về nỗi nhân tình thế thái sao mà bạc bẽo, bỉ lậu đến vậy. Anh em dẫu sao không cùng mẹ nhưng cũng cùng huyết thống, tưởng sẽ nâng đỡ, tin cậy nhhua hơn, vậy mà lại nghi kỵ còn hơn cả gnười ngoài. Những khi lặn lội, xông pha ở miền biên ải, Uy Minh Vương không ngờ có lúc chính mình sẽ phải nếm trải nông nỗi, nguồn cơn này.
Cứ theo như di huấn của Lý Thái Tổ mà Lý Thái Tông chịu thực hiện, tức là đem việc chọn người ra bàn bạc thì rất nhiều có thể người được chọn là Nhật Quang. Những đức tính rồi cả những công việc mà Nhật Quang đã làm chắc cả triều đình đều biết. Việc Nhật Quang được ban khen, thăng tước, được dân sở tại yêu mến kính trọng, thì cả triều đình cũng chẳng lạ gì.
Tuy Nhật Tôn(tức Lý Thánh Tông) đã ở Đông cung, lại đã từng được "giám quốc", được "lưu thủ kinh sư" khi Lý Thái Tông đi đánh dẹp xa, nhưng uy tín đức độ so với Nhật Quanh chắc gì đã hơn? Nếu thực sự công khai bằng công bằng thì có thể nói chắc là Nhật Tôn còn kém nữa!
Nhật Tôn có lời thế là con trưởng, tuổi lớn hơn Nhật Quang. Nhật Tôn lại luôn óc mặt ở kinh thành, vì vậy, khi Lý Thái Tông có triệu chứng xấu về sức khỏe, thì đã cho Nhâït Tôn coi chầu nghe chính sự (tháng 7 - 1054). Hơn hai tháng sau Lý Thái Tông băng hà(1/10/1054).
Có thể nói như thế này: Một vị Hoàng tử được phong ở Đông cung (thường là con trưởng, tuổi lớn nhất) khi vua cha còn sống và còn khỏe mạnh thì chính yếu đấy là một biện pháp dự phòng, chứ chưa thể nói chắc là người ấy sẽ được kế vị, vì rất có thể nhà vua sẽ thay đổi quyết định. Trường hợp Nhật Tôn trước tháng 7 - 1054 là như thế. Nhưng khi nhà vua đau ốm thì người được gọi vào"coi chầu nghe chính sự" sẽ là người kế vị. Đây lại là một giải pháp tình thế hơn là một giải pháp chiến lược, do vậy, người lên ngôi mới chưa hẳn là người tài cao đức cả nhất trong số các hoàng tử. Và trường hợp Nhật Tôn sau tháng 7 - 1054 cũng chính là như thế!
Hành động của Nhật Quang mang quân dẹp loạn là xuất phát từ quyền lợi của cả vương triều chứ đâu phải là "làm việc chuyên quyền, tự ý dùng quân đánh dẹp", do vậy "sự ngờ vực" của Lý Thánh Tông có thể xem như sự nghi kỵ, đề phòng, tuy là ra oai, nhưng đã chứng tỏ một sự kém độ lượng.
Lịch sử cung đình xưa nay vẫn chứa đựng nhiều tấn bi kịch, và đây chỉ là một ví dụ.
Sau khi nhận thức rõ tình thế của mình, Uy Minh Vương đã đệ đơn lên nhà vua xin từ chức. Sự việc đó xảy ra vào năm Long Thụy thứ hai (1055) của triều Lý Thánh Tông, nhưng thực ra chỉ cách khoảng nửa năm kể từ ngày nhà vua mới đăng quang (5 - 1054).
Có thể hiểu được tâm trạng của Uy Minh Vương lúc này là đang lâm vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan". Ở lại thì nhục nhã, vì có công mà bị quở trách. Nhưng ra về thì tự chuốc lấy tai họa, vì đã chạm đến lòng tự ái của nhà vua.
Còn đối với Lý Thánh Tông, bên trong thì mừng thầm vì như vậy đã trừ đi một hậu họa (sợ bị làm phản) nhưng bên ngoài thì rõ ràng bẽ mặt với các hoàng tử và triều thần, vì vừa mới lên ngôi mà đã có vị Hoàng thân vào loại đức độ, uy tín nhất xin từ chức.
Trong hai giải pháp: nhận đơn (thuận cho từ chức) hoặc bác đơn (không hco từ chức), Lý Thánh Tông đã chọn giải pháp thứ nhất. Giải pháp ấy vừa thỏa mãn lòng tự ái, vừa có lợi, nhưng đó cũng là sự"dứt tình", là dấn sâu thêm vào sự đề phòng và nghi kỵ đã có.
Khi hay tin có quan mới đến tri nhậm, lại hay tin Uy Minh Vương đang dời nhiệm sở, đông đảo dân chúng từ nhiều nơi trong châu Nghệ An kéo về, người níu xe, kẻ giữ ngựa, rồi khóc lóc thảm thiết, xin Vương ở lạ.
Dân chúng vốn không Uy Minh Vương đã có đơn từ chức, và họ chỉ hành động theo những tình cảm tự nhiên bồng bột và chất phát của mình, nhưng sự viêïc ấy, vô hình trung lại gây tai họa thêm cho tính mạng của Vương.
Lý Thánh Tông sau khi phê đơn để Uy Minh Vương từ chức, liền cử ngay một viên quan thân tín vào thay thế. Việc Uy Minh Vương ra về đưọc đông đảo dân chúng ái mộ làm cho viên quan mới này khó chịu, và khoét sâu thêm lòng tự ái đã có của Lý Thánh Tông.
16 năm xa kinh thành rồi vào đây thu thuế rồi ở lại trị nhậm, trên thực tế Uy Minh Vương và gia đình (vợ, con, đầy tớ ...)đã trở thnàh những người địa phương cả rồi. Vì vậy, việc một Hoàng thân đã từng tri châu lâu năm, nay là thường dân nhưng đã "địa phương hóa" và được dân chúng mến mộ, tất nhiên sẽ là cái gai ở ngay trước mắt của quan sở tại mới.
Quan sở tại muốn nhổ cái gai ấy, còn nhà vua đương nhiệm, không biết có muốn nhổ hay không nhưng chắc chắn là Ngài chẳng ưa gì ...
Cái chết của Uy Minh Vương đến sau đó ít lâu, vì thế vẫn còn là điều bí mật. Không ai vén bức màn này lên cả. Tuy nhiên vẫn có câu chuyện truyền thuyết về cái chết của Ngài ...
Tư ngày trở thành "phó thường dân" (như danh từ của thời hiện đại), Uy Minh Vương Nhật Quang (tất nhiên vẫn còn tước hiệu cũ, chỉ không còn chức mà thôi!) cùng gia đình về sống tại xã Bạch Đường, huyện Nam Đường, Nghệ An. Ngài trồng hoa, nuôi chim, gặp gỡ bạn bè,v.v ... Nói chung nhìn từ bề ngoài vào, thấy cuộc sống của Ngài cũng khá an nhàn, thoải mái.
Một hôm, Ngài đang ngồi trong nhà, bỗng thấy một con quạ bay đến trước mặt, làm cho bầy chim nuôi xao xác. Người nhà chạy ra định bắt thì Ngài khoát tay bảo rằng để xe nó thế nào. Con quạ bay quanh trong nhà ba vòng, vừa bay vừa kêu, rồi xà vào trong lòng Ngài.
Bỗng nhiên con quạ biến thành một tờ giấy trắng , ở trong có hình lờ mờ như hình rồng mây ...
Chẳng biết Ngài thấy linh tính báo trước điều gì mà không tiện nói ra, nhưng chỉ biết sau đó, Ngài cho người nhà đi khắp nơi mời bạn bè gần xa đến, rồi sai người nhà chuẩn bị cỗ bàn thật thịnh soạn để tiếp đãi khách ...
Bữa ấy, Ngài và gia đình cùng bạn bè đã "vui vẻ" với nhau một "trận" thật thoải mái. Ăn uống xong lại còn đàn sáo, ca hát thật tưng bừng. Đêm đã khuya, bạn bè lúc ấy vẫn còn đông đủ, nhưng Ngài mệt quá, rồi gục xuống bàn ngủ thiếp đi. Bạn bè cũng thế, ai muốn ngủ thì cứ ngủ, còn ai thích đàn thích hát thì cứ tiếp tục đàn hát ...
Trong giấc ngủ mơ màng, Ngài bỗng thấy một ông già, chừnng sáu mươi nhăm tuổi nhưng còn quắc thước, đầu đội mũ đính ngọc có giải, mình mặc áo đại trào màu tía, ngang lưng thắt đai dát vàng, chân đi hài thêu. tay ông già cầm thanh long đao có lưỡi như vành trăng. Ông tiến đến trước mặt Ngài, vái chào rồi nói:
- Tôi là sao Vũ Khúc trên trời , vâng lệnh Ngọc Hoàng mời Ngài đến sở của Tử Hư đế quân để thảo một chương ngọc điệp.
Ngài thấy ngạc nhiên quá bèn đáp lại:
- Có lẽ Ngài nhầm đấy, tôi người trần mắt thịt, làm sao có thể làm việc ở trên thiên đình? Nói xong Ngài đứng thẳng dậy luôn, mắt nhìn thẳng vào mặt ông già rồi gạt thanh long đao ra.
Cùng lúc với động tác đó, mệng Ngài nhẩm thành tiếng "Lạ thật", rồi thức dậy ngay liền.
Bạn bè thấy Ngài thức dậy như vậy, lại nhìn vẻ mặt, thấy có vẻ ngơ ngác, bèn xúm lại hỏi han: "Làm sao mà như thế"
Ngài thuật lại giấc mộng của mình. Rồi một người nói: "Chắc là điềm lành đấy", nhưng chỉ thấy Ngài lắc đầu có vẻ buồn bã. Ngài bảo bạn bè: Ai còn sức thì cứ vui chơi ca hát đi, còn mình thấy hơi váng đầu, xin phép được đi nằm, lúc nào tỉnh dậy sẽ tiếp tục cuộc vui ...
Không ai ngờ rằng, đó là những lời nói cuối cùng của Ngài.
Khi đêm đã khuya, một vài người bạn còn thức đến lay gọi xem Ngài đã tỉnh hay chưa, khi sờ vào, đã thấy tay chân và toàn thân Ngài lạnh toát.
Mọi người nháo nhác, cùng xúm vào lay gọi, nhưng Ngài đã đi vào cõi vĩnh hằng rồi.
Đám tang của Ngài rất đông, gần kín cả một cánh đồng. Tiếng khóc, tiếng kêu than thảm thiết như lay động cả đất trời. Khi đã chôn xong, hàng tuần sau còn thấy dân chúng khắp các nơi trong châu kéo về để thắp hương trên mộ Ngài. Từ trẻ con đén cụ già, ai ai cũng thấy hai mắt đỏ hoe, giọt lệ sụt sùi. Họ thực sự tiếc thương một con người mà trong suốt cuộc đời đã hết lòng thương yêu và gắn bó với họ.
Dân chúng tin rằng không phải Ngài mất đi mà chính là Ngài đã được Ngọc Hoàng thượng đế đưa vào cõi bất tử.
Đền thờ chính của Ngài được lập tại xã Bạch Đường, nơi mà Ngài đã sống những ngày cuối đời. Còn những nơi khác, rải rác khắp trong châu Nghệ An mà suốt 16 năm qua Ngài đã từng gắn bó, nhiều đền thờ nữa cũng được lập nên. Ngày tuần, ngày tiết, rồi ngày Tết, ngày kỵ giỗ, dân chúng đều đến thắp hương dâng lễ vật, để tưởng nhớ và cầu mong Ngài làm cho mưa thuận gió hòa, cho sản vật dồi dào và mọi người an cư lạc nghiệp ...
Những lời cầu mong ấy bao giờ cũng được đáp ứng! Ở triều đình, nhà vua thấy vậy, liền ra sắc phong Ngài là đại phúc thần của cả châu Nghệ An.
Từ đó về sau, mỗi khi nhà vua hay các tướng lĩnh mang quân đi đánh dẹp qua các châu này, thảy đều mang hương hoa, lễ vật đến đền chính của Ngài để xin hiển ứng phù trợ. Rồi bao giờ cũng thấy một kiệu rước bài vị của Ngài đi trước hàng quân. Lại cũng thấy, trong những trận giáp chiến của quân ta, có cả tiếng binh mã vang dậy trên trời như góp thêm thanh thế. Đó là vì, Ngài đã mang thiên binh trở về giúp dập để quân ta chiến thắng quân địch.
Rõ rệt nhất là trong đờiù Trần Thái tông, niên hiệu Nguyên Phong, khi nhà vua mang quân đi đánh Chiêm Thành, đã cho thuyền chở kiệu của Ngài đi trước. Chẳng có chèo lái, cũng chẳng có gió thổi, vậy mà thấy thuyền chở kiệu của Ngài lướt sóng băng băng tiến lên phía trước. Vua Trần Thái tông cả mừng, nói rằng đấy là điềm báo trước sự thắng trận.
Quả nhiên sau đó, chỉ một trận đánh, quân Chiêm Thành đã đại bại. Vua Chiêm chạy thoát, nhưng Hoàng hậu, thê thiếp và nhiều quân sĩ khác đã bị bắt (1252).
Lúc khải hoàn, quân đội ra về qua huyện Nam Đường, Vua Trần Thái tông thân đến đền chính của Ngài để tạ ơn rồi phong tặng Ngài là "Uy Minh dũng liệt đại vương".
Các triều đại về sau cũng noi gương đó mà làm theo ...
Xuân Nương Công Chúa
Xuân Nương Công Chúa
Saturday, 20. October 2007, 08:44:31
Truyền thuyết
Châu Đại Man, nay là các huyện Tam Nông, Thanh thủy, Cẩm Khê của tỉnh Vĩnh Phú, dưới thời nhà Hán đô hộ, do một vị Lạc tướng người Việt trông coi tên là Hùng Sát. Hùng Sát thuộc dòng dõi Hùng Vương. Ông sinh được nhiều con, trong đó có con trai trưởng là Hùng Thắng và con gái út là Xuân Nương.
Khi Xuân Nương mới được hơn ba tháng thì bà mẹ nhuốm bệnh qua đời.
Hơn ba năm sau, người cha cũng mất. Xuân Nương ở với anh cả.
Khi Thi Sách cùng với hai chị em bà Trưng chuẩn bị khởi nghĩa thì Hùng Thắng cũng có tham dự. Việc bại lộ, cả Thi Sách, Hùng Thắng và mấy người em trai đều bị thái thú Tô Định giết chết. Xuân Nương phải bỏ nhà, trốn đi lang thang rồi sau đó vào ẩn náu trong một ngôi chùa. Ở đây ngày đêm bà tập luyện võ nghệ, nung nấu ý chí trả thù nhà đền nợ nước. Tiếng tăm của bà mỗi ngày mỗi lan rộng, nhiều hào kiệt và dân chúng trong vùng đã về đây tụ hội.
Trong những ngày đầu khi Hai Bà Trưng dấy nghiệp, Xuân Nương đã đem quân bản hộ về Mê Linh để gia nhập hàng ngũ nghĩa quân. Bà được Hai Bà Trưng giao cho quản lĩnh một doanh trại lớn, đóng ở xã Hương Nha ngày nay. Ngày đêm bà cùng quân lính tập luyện saÜn sàng chiến đấu.
Trong trận hạ phá thành Luy Lâu, Xuân Nương đã lập được nhiều chiến công. Hai Bà Trưng xưng vương, bà được phong là công chúa. Rồi chính Trưng Vương đứng ra xe duyên cho Xuân Nương lấy Thi Bằng là em chồng của bà.
Hai vợ chồng Thi Bằng là người thân tín, từng giúp rập Hai Bà Trưng nhiều công việc to lớn trong những ngày đất nước thanh bình.
Khi Mã Viện kéo quân sang xâm lược, hai vợ chồng Thi Bằng đều là những tướng lĩnh gan dạ, quyết tử.
Tướng quân Thi Bằng đã hy sinh oanh liệt giữa trận tiền. Hay tin, bà Xuân Nương nai nịt gọn gàng rồi phi trên mình ngựa, kéo quân đi đánh báo thù.
Trận chiến đấu kéo dài suốt từ sáng đến trưa. Lúc này Xuân Nương đã có mang 5 tháng nên sức lực suy kiệt, đành phải mở một đường máu rút lui.
Quân sĩ dìu Xuân Nương về đến bến Nam Cường thì bà bị động thai, hoàn toàn kiệt sức, phải nằm lại, lúc ấy cũng đã là đêm tối.
Sáng hôm sau, thấy tình thế hoàn toàn tuyệt vọng, bà dặn dò quân sĩ hãy tản đi các nơi, còn tự mình đi ngựa về phía chùa Hương Nộn.
Tại đây, bà đã gieo mình xuống dòng sông Thao ở phía trước để tử tiết.
Về sau, mọi người lập đền thờ bà tại xã Hương Nha và Hương Nộn, một nơi trước kia là đại bản doanh, còn một nơi là những phút lâm chung của bà. Bà được tôn là thần thành hoàng của cả hai xã.
Lễ hội hàng năm ở đây đều được tổ chức trọng thể.
Ở Hương Nha có làm cỗ chay để tưởng nhớ những ngày trước kia bà Xuân Nương khổ công luyện tập cùng quân sĩ. Lại có các trò chơi đánh vật, kéo co và hát đối đáp, cũng là để nhớ sự tập luyện và vui chơi của quân sĩ trong một thuở xa xưa ...
Ở Hương Nộn, ngoài các trò chơi, còn có hát xoan. Hát xoan là một tên gọi chệch của hát xuân, nhưng vì để kiêng tên bà, đã gọi ra như thế.
Xuân Nương công chúa thường hiển linh, phù hộ độ trì cho nhiều tướng lĩnh mỗi khi xuất quân ra trận. Các triều đại trước kia đều có sắc thượng phong cho bà.
Saturday, 20. October 2007, 08:44:31
Truyền thuyết
Châu Đại Man, nay là các huyện Tam Nông, Thanh thủy, Cẩm Khê của tỉnh Vĩnh Phú, dưới thời nhà Hán đô hộ, do một vị Lạc tướng người Việt trông coi tên là Hùng Sát. Hùng Sát thuộc dòng dõi Hùng Vương. Ông sinh được nhiều con, trong đó có con trai trưởng là Hùng Thắng và con gái út là Xuân Nương.
Khi Xuân Nương mới được hơn ba tháng thì bà mẹ nhuốm bệnh qua đời.
Hơn ba năm sau, người cha cũng mất. Xuân Nương ở với anh cả.
Khi Thi Sách cùng với hai chị em bà Trưng chuẩn bị khởi nghĩa thì Hùng Thắng cũng có tham dự. Việc bại lộ, cả Thi Sách, Hùng Thắng và mấy người em trai đều bị thái thú Tô Định giết chết. Xuân Nương phải bỏ nhà, trốn đi lang thang rồi sau đó vào ẩn náu trong một ngôi chùa. Ở đây ngày đêm bà tập luyện võ nghệ, nung nấu ý chí trả thù nhà đền nợ nước. Tiếng tăm của bà mỗi ngày mỗi lan rộng, nhiều hào kiệt và dân chúng trong vùng đã về đây tụ hội.
Trong những ngày đầu khi Hai Bà Trưng dấy nghiệp, Xuân Nương đã đem quân bản hộ về Mê Linh để gia nhập hàng ngũ nghĩa quân. Bà được Hai Bà Trưng giao cho quản lĩnh một doanh trại lớn, đóng ở xã Hương Nha ngày nay. Ngày đêm bà cùng quân lính tập luyện saÜn sàng chiến đấu.
Trong trận hạ phá thành Luy Lâu, Xuân Nương đã lập được nhiều chiến công. Hai Bà Trưng xưng vương, bà được phong là công chúa. Rồi chính Trưng Vương đứng ra xe duyên cho Xuân Nương lấy Thi Bằng là em chồng của bà.
Hai vợ chồng Thi Bằng là người thân tín, từng giúp rập Hai Bà Trưng nhiều công việc to lớn trong những ngày đất nước thanh bình.
Khi Mã Viện kéo quân sang xâm lược, hai vợ chồng Thi Bằng đều là những tướng lĩnh gan dạ, quyết tử.
Tướng quân Thi Bằng đã hy sinh oanh liệt giữa trận tiền. Hay tin, bà Xuân Nương nai nịt gọn gàng rồi phi trên mình ngựa, kéo quân đi đánh báo thù.
Trận chiến đấu kéo dài suốt từ sáng đến trưa. Lúc này Xuân Nương đã có mang 5 tháng nên sức lực suy kiệt, đành phải mở một đường máu rút lui.
Quân sĩ dìu Xuân Nương về đến bến Nam Cường thì bà bị động thai, hoàn toàn kiệt sức, phải nằm lại, lúc ấy cũng đã là đêm tối.
Sáng hôm sau, thấy tình thế hoàn toàn tuyệt vọng, bà dặn dò quân sĩ hãy tản đi các nơi, còn tự mình đi ngựa về phía chùa Hương Nộn.
Tại đây, bà đã gieo mình xuống dòng sông Thao ở phía trước để tử tiết.
Về sau, mọi người lập đền thờ bà tại xã Hương Nha và Hương Nộn, một nơi trước kia là đại bản doanh, còn một nơi là những phút lâm chung của bà. Bà được tôn là thần thành hoàng của cả hai xã.
Lễ hội hàng năm ở đây đều được tổ chức trọng thể.
Ở Hương Nha có làm cỗ chay để tưởng nhớ những ngày trước kia bà Xuân Nương khổ công luyện tập cùng quân sĩ. Lại có các trò chơi đánh vật, kéo co và hát đối đáp, cũng là để nhớ sự tập luyện và vui chơi của quân sĩ trong một thuở xa xưa ...
Ở Hương Nộn, ngoài các trò chơi, còn có hát xoan. Hát xoan là một tên gọi chệch của hát xuân, nhưng vì để kiêng tên bà, đã gọi ra như thế.
Xuân Nương công chúa thường hiển linh, phù hộ độ trì cho nhiều tướng lĩnh mỗi khi xuất quân ra trận. Các triều đại trước kia đều có sắc thượng phong cho bà.
Thiếu phụ Nam Xương
Thiếu phụ Nam Xương
Saturday, 20. October 2007, 09:04:13
Truyền thuyết
Đời vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072), ở huyện Nam Xương, thuộc ven sông Hoàng, nay là thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân (Nam Hà), có nhà họ Vũ, tuy gia sư không thuộc khá giả, nhưng lại nức tiếng gần xa vì có cô con gái xinh đẹp, nết na, vừa khéo tay, hay làm, lại biết đảm đang quán xuyến công việc. Nàng tên là Vũ Thị Thiết.
Con trai trong vùng đến dạm hỏi. Cha mẹ nàng cũng nhiều phen cân nhắc, đắn đo và cuối cùng nhận lời gã cho một chàng trai cùng làng, thuộc dòng họ Trương. Gia đình chàng Trương này rất giàu có, lại chỉ có hai mẹ con. Tuy nhiên, anh chàng này thuôïc loại người vai u thịt bắp, không đến trường lớp học hành gì cả.
Sự cân nhắc của cha mẹ cô gái kể ra cũng chu đáo. Xưa nay cha mẹ nào không muốn gả con cho gần? Lại gả vào nơi khá giả và không phải tranh giành với ai thì càng tốt chứ sao? Còn chàng rể tương lai, xem ra cũng thuộc loại "được": Khỏe mạnh, chăm chỉ lại hiền lành. Tuy kém về đường học hành, nhưng không ai thấy chàng ta đi ngang về tắt, hoặc sa vào con đường cờ bạc rượu chè. Ở nhà quê, suốt đời cày sâu cuốc bẩm và lo chí thú làm ăn, thì thử hỏi, chọn được chàng rể và gia đình như thế, có khác nào như bắt được vàng.
Họ nhà gái phấn khởi đã đành, còn họ đàng trai sự vui mừng càng tăng thêm gấp bội. Có cô con gái nhất làng làm về làm dâu họ, thì sao lại không vui mừng? Phen này nhất định sẽ tổ chức đám cưới thật to, các họ khác nhìn vào cứ gọi là lác mắt! Hoa thơm đã có người hái, người họ khác ngồi mà chờ đến mùa quýt sang năm!
SaÜn của, họ nhà trai thịt đến ba bò bảy lợn. còn rượu thì hàng trăm vò, thả sức uống say. Mọi người trong làng trong xã được dịp ra ra vào vào, nên mặt lúc nào cũng trông đỏ tưng bừng, còn làng nước thì đua nhau kéo đến trông nườm nượp. Ăn uống dòng dã suốt ba ngày liền. Phường chèo cũng về hát và làm trò suốt ba đêm. Từ các mâm rượu, từ các cuộc vui, mọi người cười nói oang oang. Xóm mạc tưng bừng như mở hội. Ở ngõ ngách nào cũng chỉ bàn về đám cưới. Thôi thì đủ các ý đẹp lời hay và các kiểu tán tụng. Rượu thịt nhiều thì kể ra cũng khác thật!
Vì thói đời thì hay phù thịnh, nên trong lúc say sưa, người nào người nấy cũng chỉ thấy nói đến sự tốt đẹp. Nào môn đăng hộ đối, nào giai lão bách niên, rồi con đàn cháu đống, rồi lại như hoa như nụ ... Thôi thì chẳng thiếu một mỹ tự nào!
Ngay cha mẹ cô dâu cũng vậy, cứ đinh ninh là đã chọn được một chàng rể nên người. Họ mừng thầm cho con gái, dẫu chưa vào được nơi sang quý, nhưng chí ít, cũng là chốn mát mặt thảnh thơi. Hỏi thử khắp cả làng này, đã có ai bằng được?
Nhưng thói đời thường hay phù thịnh, vì thế mà cũng thành ra nông nỗi thế nào. Chàng rể của họ, được tiếng rằng hiền, nhưng thực ra lại là một người rất cục. Nhà con một, lại được nuông chiều từ nhỏ và chẳng hay tiếp xúc với ai, nên cái cục ấy chưa có dịp phát lộ ra bên ngoài.
Không học hành gì, nên sự suy xét của chàng Trương cũng thật xốc nổi, nông cạn, chỉ được cái khôn vặt. Đã thế, đến lúc có vợ, tính khí của chàng lại thêm những điểm lạ lùng. Cứ như trên đời này chỉ mỗi vợ mình là đẹp, nên chàng ta canh chừng, cấm đoán, chẳng muốn cho vợ tiếp xúc , chuyện trò với ai. Đã đành trai gái hay ghen, nhưng ở chàng Trương, sự ghen tuông đã đến mức lố bịch, nó là sản phẩm của một lòng dạ nhỏ nhen và một đầu óc rất mực u tối. Từ khi về nhà chồng, cô gái họ Vũ quả nhiên trở thành một người vợ hiền, dâu thảo. Mọi việc, từ trong nhà đến đồng bãi đều do một bàn tay nàng quán xuyến, đảm đang. Lo ruộng trên bờ dưới nước phân giống má. Lo con lợn con gà, đường kim mũi chỉ, rồi cơm ngon canh ngọt cho cả nhà. Thôi thì thượng vàng hạ cám, chẳng thấy lúc nào nàng để tay chân không, công việc nối tiếp công việc, mà việc nào cũng thực chu đáo, đâu vào đấy cả. Mẹ chồng thấy nàng dâu như thế, vui như mở hội trong lòng. Còn anh chồng thì được thể, lại càng ăn no ngủ kỹ, giao hết công việc cho vợ lo liệu. Duy có điều, mỗi lần vợ ra khỏi nhà, anh ta cảm thấy lòng dạ chẳng yên, nên tìm mọi cách để theo, vì vậy, tiếng là đi làm, nhưng thực tình là để canh chừng vợ.
Biết ý chồng, chị vợ mỗi khi tiếp xúc với ai cũng hết sức dè chừng. Còn lo công việc thì dường như đã thành bản tính của chị. Vì thế, gia đình họ được tiếng là gia đình êm ấm, thuận hòa, đáng làm gương cho mọi gia đình khác. Lúc này chị vợ cũng đã bắt đầu có mang.
Giá như không có chiến tranh, không có sâu bệnh hạn hán lụt lội để cho dân chúng yên ổn làm ăn, lúc nào cũng ngô lúa đầy bồ, gia súc đầy sân thì còn vui mừng nào bằng. Và gia đình chàng Trương, dẫu anh chồng có tính hay ghen thì cũng chẳng làm sao. Anh ta ghen thế chứ ghen gấp mười lần thế, chị vợ cũng dè chừng được, và gia đình họ mãi mãi chẳng hề hấn gì.
Tuy nhiên, tai họa từ trên cao đổ ập xuống đầu mọi người: Chiến tranh nổ ra giữa Đại Việt và Chiêm Thành đúng lúc mà gia đình chàng Trương đang sum họp yên ổn ấy.
Vua Lý Thánh Tông Đại Việt cho rằng vua Chiêm Thành Chế Củ không biết lễ độ: Không giữ tình lân bang, chẳng chịu triều cống, lại còn hay cho quân lính cướp phá ở biên giới. Vậy nên cần phải mang quân đi "dậy" cho một bài học nhớ đời.
Nhà vua đích thân làm Đại nguyên soái thống lĩnh ba quân. lệnh ban xuống cho mỗi thôn ấp phải lấy cho đủ quân số. tất cả trai tráng, dù con một mà không đươc học hành gì, cũng phải lên đường. Bà mẹ chàng Trương ở lại miền Nam Xương, dù đã khóc đến hết nước mắt, lại mang lễ vật đến tất cả các cửa, mà cuối cùng con trai cũng không thoát "nạn".
Ngày chàng Trương lên đường, chị vợ nước mắt chạy quanh, lại đang bụng mang dạ chửa, nhưng cũng làm mâm cơm để mời anh em, họ hàng đến dự. Thôi thì đủ các lời động viên, cho nên bà mẹ phải chờ cho mọi người về hết mới dám khuyên con:
- Thôi thì đành vậy. Nhà vua đã có lệnh, mẹ cũng chẳng giữ được con ở nhà. Chỉ xin con nhớ rằng nhà mình mấy đời chân lấm tay bùn, nên chẳng cần con phải xông pha nơi mũi tên hòn đạn để thăng quan chức làm gì. Vinh hoa để dành cho người khác, còn con giữ lấy hai chữ "bình an" mà trở về, cho mẹ khỏi lo phiền.
Chị vợ cũng nắm lấy chồng vạt áo chồng, nói tiếp:
- Thiếp chỉ mong chàng làm được như lời mẹ dặn. Ở nhà mọi việc chàng cứ yên tâm, đã có thiếp đảm đương. Vợ chồng là nghĩa trăm năm. Đời thiếp trước sau chỉ một chàng. Gia đình ta mai ngày rồi sẽ được đoàn tụ ...
Chàng Trương lặng thinh không nói năng gì, cũng chẳng có cử chỉ nào. Chàng ta nhìn chăm chăm vào bụng vợ, rồi đột ngột đặt tay lên ngực mình mà nói:
- Tôi đã suy tính kỹ càng, chẳng có gì lo cho tôi đâu. Nàng hãy lo đến công việc ở nhà. Rừng ruộng nhiều thì cố mà làm, không nên chung đụng với người khác. Khi sinh con, đặt tên cho nó là thằng Đản, chắc nó sẽ là con trai ...
Nói rồi chàng điềm tĩnh bước ra khỏi nhà, không một lần ngoái đầu nhìn lại.
Anh lính họ Trương quả nhiên đã là một tay khôn ranh có hạng, nên trong suốt cuộc chiến tranh, đều tìm được cách thoát hiểm dễ dàng. Hiển nhiên anh ta không dũng cảm, cũng chẳng hăng máu vịt bao giờ. Luôn luôn tìm mọi cách, mọi cớ để tụt hậu, không phải đánh giáp lá cà. Khi ở tuyến sau, khi vào đội tải lương, lúc thì làm liên lạc. Khi buộc phải xông lên phía trước cùng đội quân đầu tiên, thì chỉ chục bước chân, anh ta đã tìm được cách ngã. Nếu quân ta thắng thì anh ta xông lên phía sau, còn nếu quân ta thua anh ta chạy lui phía trước. Suốt cuộc chiến tranh, anh ta chỉ "diễn" độc có "trò" đó mà xem cũng thành công mỹ mãn, chẳng phải sứt đầu mẻ trán gì. SaÜn tính dễ ăn dễ ngủ, anh ta bỏ qua mọi lo lắng ưu phiền. Nếu có lúc nào đó chợt nhớ đến mẹ già, vợ trẻ thì anh ta tặc lưỡi: "Vẫn thế cả thôi mà", rồi ngủ tiếp.
Ấy vậy mà trong những ngày này, bà mẹ chàng Trương lại lo đến phát ốm. Chị vợ đã mệt lại càng thêm mệt. Tuy nhiên, là người phụ nữ đảm đang, chị vẫn gắng gượng mọi việc lo tròn.
Kể từ ngày chàng Trương ra đi, nửa năm sau, ở nhà vợ chàng sinh được một mụn con trai. Thằng bé hơi gầy nhưng nét mặt thì giống bố như tạc. Nhớ lời chồng dặn, chị đặt tên cho nó thằng Đản.
Trong những ngày con dâu nằm "ổ", công việc lặt vặt tự nhiên phải "trút" sang cho mẹ chồng, vì gia đình không nuôi người ở. Bà cụ, tuy mừng thì có mừng, nhưng tuổi cao lại saÜn bệnh tật, nên cũng không thể "trụ" được lâu dài. Bởi vậy, khi con dâu rời "ổ" thì cũng là lúc bà mẹ ốm liệt giường.
Một nách con nhỏ, lại công việc, ấy thế mà chị vẫn chạy vạy, lo tìm thầy thuốc rồi cơm cháo hậu hạ bà mẹ chu đáo hàng mấy tháng trời. Làng xóm thấy vậy ai cũng ngợi khen, còn bà mẹ thường nắm tay con mà nói:
- Mẹ biết sức mẹ cũng chẳng cố thêm được đâu, con đừng quá lo lắng, chạy vạy mà sinh ốm sinh đau thì khổ ...
Đến khi sắp hấp hối, bà cụ còn căn dặn thêm:
- Mẹ thấy ... trong người ... yếu lắm ..., không còn được gặp ... bố thẳng Đản ... trở về ... con ở lại ... trông nom ... có con có cháu ... thế này ... mẹ cũng ... hả lòng hả dạ ... Ới con ơi ... Ai gây ra ... cuộc binh đao ... có thấu cho ... mẹ con tôi ... nông nỗi ...
Vừa nói bà cụ vừa nức nở, rồi nấc khan vài tiếng, đoạn, hai tay buông xuôi, vành mắt cũng từ từ khép lại ... Bà cụ đã "đi" rồi, trên gò má vẫn còn đọng lại mấy giọt nước mắt nóng hổi.
Chị vật vã than khóc bên xác mẹ. Họ hàng, làng xóm kéo đến, cùng chị lo liệu đám tang. Tuy không có người chồng ở nhà, nhưng mọi vệc đều chu đáo, ai ai cũng đều cảm phục và ca ngợi lòng hiếu thảo của chị.
Từ ngày bà mẹ chồng qua đời, vợ chàng Trương phải một mình đảm đương quán xuyến công việc. Những việc không đừng được chị mới nhờ người, mà toàn là chỉ đàn bà con gái với nhau cả. Giữ cho được một gia tư bề thế, đầy những ruộng cả ao liền, quả là điều không dễ. Lại phải bồng bế, nuôi nấng con thơ nên nỗi vất vả lại càng chồng chất. Đi đến đâu chị cũng phải địu con theo. Lúc nào chị cũng tất bật vội vội vàng vàng ... Những khi mưa dầm gió bấc hoặc đêm hôm khuya khoắt, trong căn nhà trống trải chỉ thui thủi có hai mẹ con, thì nỗi buồn lại càng như nẫu ruột nẫu gan thêm.
Nhưng rồi những ngày ảm đạm nhất cũng qua đi. Đứa bé lớn dần. Biết lẫy, biết bò, rồi tập đi, tập nói. Có đứa trẻ trong nhà, thỉnh thoảng lại bi bô, nỗi buồn của chị cũng vơi nhẹ và nhà cửa cũng đỡ quạnh hiu. Chị hay bày ra các trò chơi và đồ chơi để con ngồi một mình, vì dẫu sao cũng phải làm nhiều công việc khác.
Khi đứa trẻ nói sõi và bắt đầu biết nhận xét đôi chút thì một hôm nó hỏi:" Mẹ ơi, bố đi đâu?". Mặc dù biết rồi có lúc con sẽ hỏi câu hỏi này, nhưng cứ nghĩ nó còn bé quá, nên chị trả lời cho xong việc: "Bố đi vắng rồi."
Nào ngờ, thằng bé vẫn hỏi tiếp:" Thế bao giờ bố trở về?"
Chị lăng ra lúng túng, rồi đành phải trả lời thật:"Bố đi đánh giặc xa lắm, chưa về nhàđược". Thế là thằng bé lắc đầu quày quạy, rồi lăng ra khóc, đòi mẹ:" Phải đưa bố về! Phải đưa bố về nhà kia! ..."
Chị thực sự bối rối, nước mắt chảy quanh dỗ con mà lòng dạ tan nát. Đứa bé vẫn cứ khóc. Lúc ấy, lợn trong chuồng lại đang rít lên đòi ăn. Không thể ngồi lâu, và thế là chị đã buột miệng thốt ra cái câu tai hại nhất:"Đến tối bố về!". Đến tối! khi người mẹ thấp đèn lên để trong nhà sáng sủa cũng là lúc đứa bé nhớ ra, và nó lại đòi đến mấy lần: "Mẹ ơi bố đâu rồi!".
Chị thảng thốt nhìn quanh, như thể chờ đợi sự xuất hiện của phép thần. Cửa lúc ấy đã khép và cổng bên ngoài cũng đã đóng ... chợt nhìn thấy cái bóng của mình đang lung linh trên vách, chị nhanh trí chỉ liền cho con thấy:"Đấy!Bố đấy! bố đã về với đản đấy!".
Đứa bé trố mắt ra ngạc nhiên, mọi lần trước, nó hoàn toàn chưa để ý đến chuyện này. Thế là nó reo lên, chạy về phía ấy. Biết ý, chị vẫy tay để cái bóng cũng vẫy tay theo, và thằng bé sung sướng, cười lên như nắc nẻ ...
Chuyện đời nhiều khi nghĩ cũng thật oái ăm. Cái trò chơi vô hại ấy, cuối cùng rồi cũng trở thành có hại. Nhưng đó là chuyện xảy ra về sau, còn bây giờ, tối nào thằng Đản cũng bắt mẹ thắp đèn lên để cho bố nó về. Tối nào hai mẹ con chị cũng chơi đến tận khuya, chỉ khi nào thằng riú mắt lại buồn ngủ, nó mới chịu thôi. Đấy cũng còn là cái cách một công đôi việc của người mẹ: Trong lúc thằng bé đùa nghịch, chị cũng tranh thủ vá may và làm được vô khối công việc nửa.
Kể ra, nếu đầu óc thằng bé bớt đần độn đi đôi chút, chắc trò chơi này cũng không kéo dài được lâu. Cái sự đần độn của nó, cũng như cái tính thiển cận dẫn đến hay ghen của người bố, chắc là do trời định. Và cũng là do trời định, cả cái tài đảm đang tháo vát của người thiếu phụ chờ chồng, đã bày đặt ra trò vui, để tự động viên, nhưng cũng là để tự lừa dối mình.
Giá như người mẹ chẳng nghĩ cách tạo ra thêm nhiều hình thù mới mẻ, ngộ nghĩnh trên vách, thì chỉ sau mấy lần, thằng bé cũng sẽ chán. Đằng này, để cho đứa con vui, dường như chị cũng tự huyễn hoặc ngay cả bản thân mình. Khi về chàng Trương biết chuyện chắc sẽ mãn nguyện mà cười vang lên, hả hê sung sướng lắm ...
Vẫn nhớ đinh ninh cái tính hay ghen đến kỳ cục của chồng, tối nào chị cũng gài chặt cánh cổng ngõ. Lại còn tấp thêm mấy ngọn tre gai ở phía trong.
Quả nhiên, đêm hôm chẳng có kẻ nào mò đến cả. Thế nhưng, tiếng nói tiếng cười của hai mẹ con và ánh đèn, thì chẳng cánh cổng nào ngăn lại được. Theo kẽ vách, ánh sáng hắt cả ra ngoài sân, còn tiếng nói tiếng cười thì văng vẳng tận hàng chòm hàng xóm ...
Mấy ngày nay sao có con chim khách về hót trước nhà: "Chim báo điềm lành chăng?" Lòng người thiếu phụ thấy xốn xang: Chồng chị mãn hạn lính sắp trở về đây. Tính từ ngày chàng Trương ra đi, đến nay đã ngoài hai năm và đứa con cũng đã gần ba tuổi. Nếu lúc này chồng chị về thật, thì còn niềm vui sướng nào bằng? Chị nghĩ thầm. Bà mẹ dầu sao cũng đã mồ yên mả đẹp, và chị cũng đã làm trọn bổn phận làm dâu của mình, nếu bây giờ chị hay nghĩ đến chồng thì cũng có gì đáng trách? Ôi! Chẳng phải xe ngựa hay võng giá xênh xang, mà chỉ cầu chồng mặt mũi tay chân lành lặn trở về là được rồi. Nghĩ đến đấy, đôi mắt chị long lanh, hai gò má chị ửng hồng, còn trong lồng ngực, trái tim đập thình thịch ...
Thế rồi chỉ mấy ngày sau, chàng Trương chồng chị đã trở về nhà thật!.
Vua Đại Việt tưởng có thể đè ngay bẹp vua Chiêm Thành, nhưng nào ngờ, mấy trận đầu đã bị thua liểng xiểng. Nhà vua rút quân về sâu trong lãnh thổ, cách thật xa biên giới để củng cố lực lượng và có lúc chán nản, đã toan rút quân về. Nhưng rồi sau có quân tiếp viện và lương thực tới, có thượng tướng Lý Thường Kiệt can ngăn, lại có "biểu" khích lệ của bà Nguyên phi nhiếp chính Ỷ Lan, nên cuối cùng nhà vua cũng lấy lại được sĩ khí, quyết tâm xuất binh thắng trận.
Khi bài học mà nhà vua "dậy" xong, nghĩa là quân Chiêm Thành đã đại bại, thì bên phía quân ta, thiệt hại cũng không phải ít. Tính ra, phải ngoài hai năm cuộc chiến mới thật tàn, cướp đi vô số sinh mạng và của cải.
Anh lính họ Trương, như đã nói, do có máng khóe, nên cuối cùng vẫn bình yên vô sự. Chàng ta trở về mà lòng dạ hân hoan. Lại sắp được cặp kề bên vợ. Lại được nhìn thấy mẹ già. Lại có cả thằng con nhỏ lũn cũn chạy theo sau. Nổi mừng tựa như chấp cánh mà bay lên vậy.
Nhưng nào ngờ, vừa đặt chân tới đầu làng, chàng Trương đã hay tin mẹ mất. Chàng nắc lên nức nở rồi vội vả bước thật nhanh về nhà. Đẩy cổng bước vào, thấy vợ con lúi húi dưới bếp, chàng cũng chỉ nhìn qua, rồi vội bước trên nhà trên, quẳn bọc quần áo xuống đất và lăn ra khóc thảm thiết. Về sau trong làng, có người bảo đấy là người con hiếu thảo hết lòng, nhưng có người lại cười thầm: Sao mà nông nỗi hồ đồ đến vậy!
Chị vợ dắt con từ nhà bếp lên, tần ngần một hồi trước cảnh tượng, rồi cuối cùng cũng phải lựa lời khuyên nhủ chồng. Chàng ta đã thôi cơn khóc, liền xòa tay ôm lấy đứa con, như thể cầu mong một sự chở che, nhưng đứa bé rãy nãy vùng chạy ra, làm cho chàng ta cảm thấy bị hụt hẫng. Chị vợ chẳng biết làm thế nào, chỉ trơ mắt đứng nhìn chồng. Chàng ta bảo vợ tìm nắm hương, be rượu, mấy quả cau và lá trầu không để đi viếng mộ mẹ. Lúc vợ đi chuẩn bị, thì người chồng cũng tìm cách dỗ dành đứa con, nhưng hai mắt nó dương thao láo, nghe thấy mà chẳng nói năng gì. Chắc là nó vừa lạ vừa sợ.
Chàng Trương cầm lễ vật, bế cả đứa con để đi viếng mộ mẹ, bởi vì lúc này họ hàng làng xóm cũng đã bắt đầu đến chơi, chị vợ phải lo đun nước, dọn dẹp nhà cửa ... nên bế nó không tiện.
Dường từ nhà ra mộ mẹ cũng khá xa,nhưng biết đám ruộng chôn nên chàng Trương cũng không phải hỏi ai. Vừa đi chàng vừa sụt sùi, làm cho đứa bé sợ hãi, hai tay cứ ôm riết lấy cổ bố. Đến mộ, đặt lễ vật và thắp hương xong chàng ta lại òa lên khóc nức nở. Vừa khóc vừa kể lể nguồn cơn. Rồi vật vã, rồi lại gào lên những hồi thảm thiết. Thấy người lớn khóc, đứa bé cũng khóc theo. Một lúc lâu sau, dường như chợt tỉnh ngộ, chàng Trương mới nhớ tới việc dỗ con. Và lần đầu tiên trong đời, đứa bé được nghe chàng ta gọi là "con" và xưng là "bố":
- Thôi, nín đi con, đừng khóc nữa. Bà đã mất rồi, lòng bố cũng đang tan nát đây. Nào đứng lên, về với bố đi con.
Đứa bé lúc này đã nín, nhưng nó lại giương cặp mắt nhìn người bố ngơ ngác. Nó nhớ nó đã cómột người bố đen truùi trũi, đêm nào cũng trở về với hai mẹ con nó kia. Người bố ấy tuy không bao giờ nói, nhưng lần nào mẹ nó cũng bảo đấy là bố thật, và nó đã tin theo. Bởi vậy, nó trả lời chàng Trương - người bố đang đứng trước mặt:
- Ô ... ông ... Không phải là bố. Bố tôi đến tối mới về kia!
- Ai bảo thế? Chàng Trương liền saÜng giọng.
Đứa bé giương mắt thao láo đáp: "Mẹ!"
Chỉ vừamới nghe có thế đã thấy chàng Trương giận dữ điên cuồng. Máu dồn lên mặt, hai tai ù đặc, chàng ta toan giang tay tát thằng bé, nhưng như chợt tỉnh, hai tay chàng bỗng buông sõng, lẩy bẩy, và hai tròng mắt cứ tự nhiên cũng ráo hoảnh. Thay vì nỗi đau, bây giờ trong lòng chàng chỉ còn là sự căm giận và cơn ghen đang mỗi lúc mỗi bốc lên ngùn ngụt.
Chẳng nói chẳng rằng, lại quên cả thu lễ vật, chàng ta vội vã bế thốc đứa bé. Do cảm nhận được thái đôï của "người bố", đứa bé cũng chẳng dám, dù chỉ là cựa quậy. Miệng nó nín câm như thóc còn mặt mũi thì tái xanh tái xám.
Chàng Trương dường như đã chạy thẳng về nhà, nét mặt hằm hằm, gặp ai cũng khồn chào hỏi. Cơn giận dữ của chàng đang đến độ điên khùng.
Đặt phịch đứa con xuống sân, chẳng chào hỏi ai, chàng ta vội vàng xuống bếp túm lấy tóc vợ, lôi đi sềnh sệch. Vừa chửi, chàng ta vừa vung tay tát vợ liên hồi. Khách khứa đột nhiên thấy cảnh này, ai cũng tròn xoe mắt, một hồi sau mới dám vào can.
Chị vợ bị đau, bị nhục quá, vừ khóc vừa chạy thẳng ra khỏi nhà ... cơn giận của chàng Trương vẫn chưa hả, lại chợt nhớ nỗi đau mất mẹ, chàng ta còn quát với theo:
- Bước! Đồ đĩ! Giá mày chăm sóc mẹ tao tử tế thì đâu đến nỗi. Mẹvừa nằm xuống mà mày đã vội rước trai về nhà. Đồ quạ tha. Bước! Bước! ...
Lúc ấy, họ hàng làng xóm mới bắt đầu bình luận. Những người ở xa thì bảo: "Xưa nay có thấy chị ấy chuyện trò lâu với ai bao giờ?" hoặc "Bận việc nhà,việc đồng bãi. Lại nách con nhỏ như thế, hỏi còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chuyện trai trên gái dưới?" Nhưng những người láng giềng lại nói: "Đêm nào cũng thấy cửa đóng im ỉm, mà trong nhà đèn thắp sáng trưng, đến khuya vẫn còn tiếng cười tiếng nói." Chưa ai hiểu thế nào. Thế rồi có một người độc mồm độc miệng đã hạ một câu: "Tâm ngẩm mà đấm chết voi. Loi choi đấm voi không chết". Lại một người nữa: "Xưa nay ai biết ma ăn cỗ bao giờ?". Thật rõ là "miệng lưỡi thế gian!", và mọi người vẫn còn bàn tán mãi ...
Chị vợ chàng Trương vùng chạy khỏi nhà để thoát khỏi bị chửi bới đánh đập, để khỏi con mắt nhìn khinh rẻ của những người đến chơi. Khi đã mệt, sức không chạy được nữa thì chị lảo đảo rồi ngồi bệt xuống bên vệ đường và những suy nghĩ lộn xộn cũng từ đâu dồn cả lại. "Sao thằng chồng lại vũ phu, đểu giả đến thế? Vừa về đến nhà, chưa kịp hỏi han đầu đuôi xuôi ngược ra sao, mà hắn đã chửi đã đánh?"
Chị hiểu ngay là do đứa con nói "Tối bố mới về", nên hắn tưởng thật mới đánh đòn ghen, nhưng lúc này đây, nỗi phẫn uất tím ruột bầm gan khiến chị không thể quay về để thanh minh với hắn và với mọi người. "Ta không thèm trở về nhà hắn nữa", chị nghĩ, rồi đứng dậy, lững thững bước ra mé bờ sông Hoang vắng vẻ.
Ở phía trước, nước sông vẫn cuồn cuộn, vô tình trồi như bao giờ. Chị nhìn xung quanh, xa xa có vài bóng người vẫn đi lại làm lụng như mọi khi, nhưng ở phía nhà "hắn", tịnh không có ai chạy ra đây cả. "A! Thế nghĩa là anh em họ hàng xa gần nhà hắn cũng đều nghi ta". Chị nghĩ. "Được, các người cứ ngồi ở đấy mà bàn tán với nhau đi, ta đây chẳng thèm nói lại nửa lời. Ta khinh thường tất cả các người! Nào giỗ tết, nào ma chay, sao kéo đến ăn thì đông, mà bây giờ không có ai đứng ra để nói được một lời tử tế?".
"Ruộng cả ao liền, tưởng như thế mà muốn chửi bới đánh đâïp ta được à? Bao mồ hôi công sức vất vả khó nhọc mấy năm nay của ta, sao các người không mở mắt ra mà ngẫm cho kỹ?"
Đến lúc này, khi cơn giận dữ người chồng đã chuyển sang giận dữ cả anh em họ hàng nhà chồng, thì lập tức chị cũng hiểu ngay: Con đường rút về nhà bố mẹ đẻ của mình đã hết. "Về lúc này chỉ chuốc thêm lấy nhục nhã ê chề", chị nghĩ tiếp, "Họ hàng có người sẽ bảo không có lửa làm sao có khói?, vậy ta biết ăn nói thế nào? Dẫu cây ngay không sợ chết đứng", nhưng làm sao mà tránh khỏi được sự nghi ngờ?".
Càng nghĩ chị càng thấy mình đang lâm vào tình cảnh cùng quẫn, không còn lối thoát nào. Nhớ lại đoạn đời từ khi bước chân về nhà chồng đến nay, chị cũng chỉ cảm thấy ghê tởm. "Nhà con một giàu có, bố mẹ ta cứ ngỡ là vàng, nhưng nào có biết hắn chỉ là thằng đần độn, vũ phu, còn ta thì chẳng khác cái thân tù, đi đâu cũng phải xét nét. Bây giờ mà hắn đánh đập thế, thì thử hỏi mai sau, liệu có thoát được không?"
"Thôi! Thà rằng chết quách đi cho rảnh, còn sống làm gì nữa?" Cuối cùng chị đi tới quyết định. "Ta chết đi để cho bố con hắn sống một mình". Ôi! Thằng con! "Đản ơi! Sao ba tuổi rồi mà mày không phân biệt nổi một người với một cái bóng? Mặt mũi mày giống bố mày thế, thì thử hỏi mai sau tao biết trông cậy vào ai? ..."
Người thiếu phụ loạng choạng đứng dậy, nhìn xuống dòng sông một hồi như thể còn cân nhắc điều gì, đoạn thấy chị ngoái nhìn lại phía sau và khắp bốn xung quanh. Trong sâu thẳm cõi lòng, chị vẫn còn le lói một tia hy vọng cuối cùng, tia hy vọng sự sống, và đấy là cái bản năng muôn thuở của con người ta, dù rằng về lý trí thì đã quyết một bề : Chết! Nếu lúc ấy một người ở phía gia đình nhà chồng hay một người thân nào đó của chị, hoặc thậm chí một người không quen biết xuất hiện, thì có lẽ sau đó chị cũng chẳng nhảy xuống sông tự tử ở dưới dòng sông, nhưng hỡi ơi, dường như tất cả mọi người đều đã quay lưng lại với chị, dù vô tình hay hữu ý!
Ở gia đình chàng Trương, cho đến lúc này mọi người vẫn còn ngồi đấy mà bàn tán, đoán già đoán non . Không một ai nghĩ đến cái điều tai hại nhất có thể xảy ra, do vậy, hệt đúng như trường hợp "cha chung không ai khóc", không một ai nói và bàn tới chuyện đi tìm chị về.
Ở phía gia đình bố mẹ đẻ của chị, do ở xa, nên đến lúc này cũng chưa ai hay biết điều gì. Còn những người đi làm đồng bãi, những người không quen biết, trước đó dẫu có đi qua cũng không ai hiểu chị ngồi đó vì sao. Đến lúc chị đứng dậy nhìn quanh thì ba bề bốn bên, lại tịnh không có một bóng người nào ở gần đó. Thế là hết! Hỡi ơi! Thế là niềm hy vọng cuối cùng của chị đã hết!
"Ai nghĩ ta, cười ta rước trai về nhà thì chỉ đến tối nay thôi, hãy mởi mắt to ra mà nhìn, xem có phải như thế không? Ta đây đâu phải hạng lang chạ. Ta đây đâu phải loạn con nhà mèo mả gà đồng? Bao công phu khó nhọc bỏ ra vun đắp cho cái nhà ấy, kể từ nay, ta cũng coi như đã đổ xuống sông xuống biển. Cậy giàu cậy có của thì hai bố con cứ ngồi đây mà ăn, ta đấy không thèm ngõi nữa. Ôi, cái số ta sao lại phải sa vào với cái giống vừa ngu đần, vừa vũ phu và bạc ác đến thế? Ôi, thật ghê tởm! Vĩnh viễn từ nay ta ghê tởm!"
Vừa nghĩ như thế, người thiếu phụ vừa loạng choạng bước xuống dòng sông tới thẳng mép nước và lội ra một đoạn. Chị cúi xuống, lấy hai tay vốc nước rửa mặt, rồi trong cơn khát, uống liền môït hơi nước đầy bụng, cảm thấy cái mát đang thấm sâu vào cơ thể mình. Ôi khoan khoái quá, chị nghĩ, và chị muốn mình cũng được mát mẻ mãi như dòng nước này!
"Ơi sông ơi, nước ơi ... hãy đón ta vào lòng. Hãy giúp ta quên cõi đời ngang trái này ...". Vừa lẩm bẩm, hạ bàn chân chị vừa đạp mạnh xuống đất, rồi cùng lúc, dang hai tay nhoài người ra như thể định ôm lấy dòng nước vào lòng.
Chỉ trong chốc lát, dòng sông đã cuốn trôi đi thân thể của chị.
Khi nghe bên nhà chàng Trương có tiếng ồn ào, làng xóm thi nhau kéo đến, mỗi lúc một đông. Chẳng hỏi han, chẳng nước nôi, cũng chẳng tiếp đón mà lẽ ra khi trong nhà có người đi xa trở về, phải có. Người ta đến là vì tò mò, vì chàng Trương mới ở lính về mà đã đánh đòn ghen. Lúc chị vợ vùng chạy được ra khỏi nhà thì cơn giận của anh chồng phải một hồi sau mới hả. Giá không có người khuyên can ngăn lại chắc chàng ta cũng đuổi theo đánh vợ đến chết. Có người hỏi vì sao mà thế thì chàng ta hất hàm: "Hỏi thằng Đản ấy!" Thế là mọi cặp mắt đổ dồn về phía đứa trẻ, khiến nó sợ hết hồn. Lúc nãy, khi chàng Trương đánh mẹ nó, nó khiếp hãi quá khóc thét lên, còn bây giờ, nó hoàn toàn ngơ ngơ ngác ngác, hệt như "mèo cắt tai".
Khi có người đánh bạo đến bên nó hỏi: "Đản ơi, thử nói xem ai đêm nào cũng đến nhà mày đi" thì thấy mặt nó bần thần, chỉ giương mắt ra nhìn lại. Điều nó thực sự không hiểu vì sao "ông kia" lại đánh mẹ nó, và vì sao mọi người kéo đến đây đông thế? Ấy vậy mà, căn cứ thái độ bề ngoài ấy, mọi người lại bàn tán rồi phhỏng đoán ra lung tung.
Hàng tiếng đồng hồ sau, cuộc bàn tán cũng nhạt dần, các cặp mắt nhìn nhau đã thoáng phần nghi ngại. Thế rồi người ta lục tục ra về, cũng nhộn nhạo y như hồi mới đến. Và thật buồn: Không ai nói và bàn tới chuyện đi tìm vợ chàng Trương cả.
Đến lúc chỉ còn lại hai bố con, chàng Trương mới đi xem xét, thu dọn nhà cửa. Thằng Đản đang ngồi thu lu ở xó nhà, ngủ gà ngủ gật. Chàng Trương đến bên, bế nó lên giường rồi lấy chiếu đắp qua cho khỏi ruồi. Chẳng biết làm gì, lại thấy đói bụng, chàng mới đi tìm gạo thổi cơm. Khi cơm chín, chàng lên nhà, thấy thằng bé vẫn ngủ, bèn lấy bát đũa và xuống ăn ngay tại bếp. Bát vục thẳng vào nồi y nhu hồi còn ở lính. Khi đã no nê, chàng ra bể uống một gáo nước, rồi cứ thế lên nhà, xoa hai chân vào nhau, leo lên giường nằm ngủ. Chỉ một lát sau, tiếng ngáy đã vang khắp nhà.
Đứa con cựa mình thức dậy vào lúc chập tối. Đói, mệt và sợ, khiến nó ngủ li bì. Chỉ đến khi chàng Trương, do quá say sưa gác chân lên người nó, thì nó mới tỉnh. Nó dụi mắt nhìn quanh thấy lạ quá, rồi gọi "Mẹ ơi" một hồi không thấy gì bèn khóc thét lên, làm cho chàng Trương giật mình tỉnh dậy. Trong nhà tối, tiếng khóc của đứa bé lại càng làm tăng thêm vẻ thê lương.
Chàng Trương ghé sát mặt vào để nhìn cho rõ, làm cho nó sợ quá, nín bặt. Bỗng nhiên, chàng cảm thấy có cái gì đó đang đổ sụp trong lòng. Ôi sao mà ngao ngán, mà tủi nhục cái ngày đầu tiên trở về nhà!
Chàng lập cập bước đi tìm đèn, rồi châm lửa. Căn nhà đang tối bỗng sáng bừng lên như có phép màu, và cái bóng của chàng cũng in rõ lên trên vách. Thằng bé, dụi mắt mấy cái, ngơ ngác một lúc, rồi bỗng thét lên: "A! Mẹ ơi! Bố về! Mẹ ơi! Bố đã về!" Vừa thét, nó vừa chạy lại ôm chầm lấy cái bóng.
Chàng Trương vừa nghe vừa nhìn theo con, bàng hoàng, và bỗng thấy tim thót lại. Rồi nước mắt chàng ứa ra ...
Dù đần độn đến mức nào thì cuối cùng chàng cũng hiểu: đứa bé gọi cái bóng là bố, thế nghĩa là đêm hôm không có ai đến cả!
Chàng khóc lên như mưa. Càng khóc càng thấy xót xa ân hận trong lòng. "Phải đi tìm vợ gấp! Phải đi tìm vợ gấp!". Chàng nghĩ.
Chàng lật đật chạy sang các nhà hàng xóm, nhờ họ đi tìm cho. Đèn đuốc thắp lên rồi mọi người bủa đi các nơi, các ngã. Có người còn chạy cả đến nhà bố mẹ đẻ của nàng. Chó sủa lên inh ỏi. Người gọi nhau í ới. Nhưng đến hết đêm ấy cũng chẳng ai tìm thấy nàng. Nét mặt ai nấy đều ngơ ngơ ngác ngác. Và người ta bắt đầu bàn tán, chê cười chàng Trương.
Mờ sáng hôm sau, bây giờ chính yếu là anh em họ hàng nội ngoại cùng đi tìm nàng. Do đoán rằng nàng đã ra sông tự tử, nên mọi người đi dọc theo hai bên bờ sông, dùng sào dùng gậy gạt bèo gạt cỏ, để nhìn cho rõ. Quả nhiên, đến quãng gần trưa, người ta đã tìm thấy xác nàng lẫn vào một vạt bèo, ở khúc sông ngoặt phía dưới, cách khoảng hai cây số. Khi vớt lên, mặt mũi tay chân nàng nhợt nhạt, hai mắt nhắm nghiền.
Chàng Trương hớt hơ hớt hải chạy tới, lăn lộn bên xác vợ mà vật vã, than khóc. Vừa than khóc chàng cũng vừa tự xỉ vả mình, nhưng được một hồi thì ngất xỉu. Người ta phải dùng hai cái cáng để cáng cả hai vợ chồng chàng về nhà.
Đám tang vợ chàng Trương sau đó, được tổ chức rất to, theo như ý nguyện của chồng, nghĩa là cũng thịt đến ba bò bảy lợn như ngày lễ cưới, duy chỉ còn những lời tán tụng! Sau lễ an táng, chàng Trương còn mời cả thầy phù thủy về lập đàn tràng và bắc cầu giải oan cho nàng ở bến sông Hoàng, nơi phỏng đoán là nàng đã nhảy xuống tự tử. Trong những ngày này, nét mặt chàng ủ rủ, tiều tụy, thật tương phản với vẻ hùng hùng hổ hổ hôm trước.
Tiếng đồn về vợ chàng Trương chết oan, mấy ngày sau, đã lan ra khắp trong phủ ngoài huyện. Lý ra chàng phải vào tù, nhưng quan trên xét thấy chàng vừa đi chiến trận về lại đang bận con nhỏ nên đã tha cho. Từ đấy tính tình của chàng cũng điềm đạm hơn, không còn nông nổi cục sức như trước. Ba năm sau chàng lại lấy vợ mới.
Nhưng bến sông Hoàng từ đấy trở đi đã không còn bình thường như trước nửa. Đây là bến đò đông, người của mấy xã thường xuyên qua lại, đi làm lụng, buôn bán. Lẽ tự nhiên, người ta nói và bàn nhiều về vụ tự tử vừa mới xảy ra. Lại nói và bàn cả về lễ giải oan, mời được ông thầy cao tay, gọi "hồn" về ngay cả ban ngày ban mặt. Thế rồi tiếng đồn ngày mỗi lan xa, và càng về sau, càng nhiễm thêm màu huyền bí. Người ta bảo rằng tờ mờ sáng nào cũng thấy "nàng" hiện về, có khi còn đứng nói chuyện hay cùng đi chợ với người này người khác, nhưng chỉ được một thoáng đã biến mất. Người ta lại bảo nàng "đòi" lập đền thờ, nếu không bến sông này còn xảy ra nhiều vụ tự tử, hoặc đò đầy sông sâu có khi còn bị lật úp nữa ...
Thế rồi mấy tháng sau, dân chúng trong vùng góp công góp của dựng một ngôi đền ở bến sông Hoàng để thờ "nàng", từ nay được gọi là bà Thiết. Hương khói ở đó quanh năm không lúc nào dứt, do ngày nào cũng có người đi chợ, đi buôn bán ngang qua.
Đến đời Lê Thánh Tông, nhà vua lại mang quân đi đánh Chiêm Thành như thời nhà Lý, với ông vua có cùng miếu hiệu với Ngài, cách đó 400 năm.
Khi thuyền rồng đi qua bến sông Hoàng, ngoảnh lên thấy ngôi miếu dưới bóng cây cổ thụ, lại thấy dân chúng và cả quân lính nữa, ra vào khấn vái tấp nập, nhà vua lấy làm ngạc nhiên lắm. Ngài ra lệnh mời quan sở tại đến để hỏi han. Sau khi nghe quan sở tại tấu trình về xuất xứ và hình trạng của vị thần được thờ, Ngài châu mày như thể không vừa ý điều gì lại cũng như thể đang suy nghĩ về điều gì. Thế rồi người ta thấy Ngài đứng dậy đi quanh một vòng, đoạn ngồi xuống bàn, quẹt đầu bút vào nghiêng mực, rồi đề ngay một bài thơ tứ tuyệt lên tờ giấy đã để saÜn. Xong xuôi, Ngài đọc lại một lần, vừa đọc vừa gật gật đầu, dấu hiệu sự tự tán thưởng. Lát sau, có mấy vị trong hội Tao đàn đi theo xuất chinh đến, Ngài đưa bài thơ cho họ truyền nhau đọc. Ở đây chẳng nói thì mọi người cũng rõ: Tất cả bọn họ đều cúi đầu bái phục tài xuất khẩu thành thơ và xuất khẩu khí đế vương trong bài thơ của Ngài.
Sự thật thì trong bài thơ ấy, nhà vua chẳng hề nhắc đến chuyện chiến tranh, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết của người thiếu phụ. Điều này có thể giải thích được: Việc Ngài đi xuất chinh lần này cũng giống như việc đã xảy ra trước đó 400 năm, do vậy, Ngài thấy trực tiếp nói e ra không tiện. Hơn nữa xưa nay, cái mạng của dân chúng đối với vua chúa thì có đáng giá gì đâu. Mạng một người lính hay mạng vợ, đều "không là cái gì" so với công việc "thế thiên hành đạo" của Ngài. Bởi vậy, việc vợ người lính tự tử sau đó được tôn lên làm thần, làm cho Ngài tỏ ra không vừa ý - nếu không muốn nói thẳng ra là Ngài thấy khó chịu. Đối với Ngài, dù ai đó có là thần thì cũng chỉ ở dưới tầm mắt của Ngài, do bộ Lễ của Ngài cai quản và phong tặng. Cái "khẩu khí đế vương" của Lê Thánh Tông chẳng những thể hiện ở việc xem thường thần, mà còn thể hiện cả ở chỗ: Nhân dịp này Ngài muốn dạy cho tất cả thần dân của Ngài một bài học truyền đời. Ấy là bài học: "Đừng bao giờ nghe trẻ con mách", nhưng xem ra, đấy lại là một bài học không "chuẩn", nếu không muốn nói là bài học tầm phào.
Nguyên bài thơ của Lê Thánh Tông, về sau được khắc đề ở "Đền bà Thiết", như sau:
Nghi ngút bên đường tỏa khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ
Dám trách chàng Trương khéo phũ phàng.
Người ta kể rằng: Sau khi có bài thơ của vua Lê Thánh Tông, các vị chức sắc ở Nam Xương đã lệnh ngay cho tổng và xã sở tại tu sửa lại ngôi đền cho thật khang trang, đẹp đẽ, không phải để xứng đáng với vị thần được thờ mà chính yếu là để xứng đáng với bài thơ của nhà vua sẽ được khắc đặt ở trong đó. Bởi vì, xưa nay "ngọc bút", "châu phê" có bao giờ lại không quan trọng.
Saturday, 20. October 2007, 09:04:13
Truyền thuyết
Đời vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072), ở huyện Nam Xương, thuộc ven sông Hoàng, nay là thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân (Nam Hà), có nhà họ Vũ, tuy gia sư không thuộc khá giả, nhưng lại nức tiếng gần xa vì có cô con gái xinh đẹp, nết na, vừa khéo tay, hay làm, lại biết đảm đang quán xuyến công việc. Nàng tên là Vũ Thị Thiết.
Con trai trong vùng đến dạm hỏi. Cha mẹ nàng cũng nhiều phen cân nhắc, đắn đo và cuối cùng nhận lời gã cho một chàng trai cùng làng, thuộc dòng họ Trương. Gia đình chàng Trương này rất giàu có, lại chỉ có hai mẹ con. Tuy nhiên, anh chàng này thuôïc loại người vai u thịt bắp, không đến trường lớp học hành gì cả.
Sự cân nhắc của cha mẹ cô gái kể ra cũng chu đáo. Xưa nay cha mẹ nào không muốn gả con cho gần? Lại gả vào nơi khá giả và không phải tranh giành với ai thì càng tốt chứ sao? Còn chàng rể tương lai, xem ra cũng thuộc loại "được": Khỏe mạnh, chăm chỉ lại hiền lành. Tuy kém về đường học hành, nhưng không ai thấy chàng ta đi ngang về tắt, hoặc sa vào con đường cờ bạc rượu chè. Ở nhà quê, suốt đời cày sâu cuốc bẩm và lo chí thú làm ăn, thì thử hỏi, chọn được chàng rể và gia đình như thế, có khác nào như bắt được vàng.
Họ nhà gái phấn khởi đã đành, còn họ đàng trai sự vui mừng càng tăng thêm gấp bội. Có cô con gái nhất làng làm về làm dâu họ, thì sao lại không vui mừng? Phen này nhất định sẽ tổ chức đám cưới thật to, các họ khác nhìn vào cứ gọi là lác mắt! Hoa thơm đã có người hái, người họ khác ngồi mà chờ đến mùa quýt sang năm!
SaÜn của, họ nhà trai thịt đến ba bò bảy lợn. còn rượu thì hàng trăm vò, thả sức uống say. Mọi người trong làng trong xã được dịp ra ra vào vào, nên mặt lúc nào cũng trông đỏ tưng bừng, còn làng nước thì đua nhau kéo đến trông nườm nượp. Ăn uống dòng dã suốt ba ngày liền. Phường chèo cũng về hát và làm trò suốt ba đêm. Từ các mâm rượu, từ các cuộc vui, mọi người cười nói oang oang. Xóm mạc tưng bừng như mở hội. Ở ngõ ngách nào cũng chỉ bàn về đám cưới. Thôi thì đủ các ý đẹp lời hay và các kiểu tán tụng. Rượu thịt nhiều thì kể ra cũng khác thật!
Vì thói đời thì hay phù thịnh, nên trong lúc say sưa, người nào người nấy cũng chỉ thấy nói đến sự tốt đẹp. Nào môn đăng hộ đối, nào giai lão bách niên, rồi con đàn cháu đống, rồi lại như hoa như nụ ... Thôi thì chẳng thiếu một mỹ tự nào!
Ngay cha mẹ cô dâu cũng vậy, cứ đinh ninh là đã chọn được một chàng rể nên người. Họ mừng thầm cho con gái, dẫu chưa vào được nơi sang quý, nhưng chí ít, cũng là chốn mát mặt thảnh thơi. Hỏi thử khắp cả làng này, đã có ai bằng được?
Nhưng thói đời thường hay phù thịnh, vì thế mà cũng thành ra nông nỗi thế nào. Chàng rể của họ, được tiếng rằng hiền, nhưng thực ra lại là một người rất cục. Nhà con một, lại được nuông chiều từ nhỏ và chẳng hay tiếp xúc với ai, nên cái cục ấy chưa có dịp phát lộ ra bên ngoài.
Không học hành gì, nên sự suy xét của chàng Trương cũng thật xốc nổi, nông cạn, chỉ được cái khôn vặt. Đã thế, đến lúc có vợ, tính khí của chàng lại thêm những điểm lạ lùng. Cứ như trên đời này chỉ mỗi vợ mình là đẹp, nên chàng ta canh chừng, cấm đoán, chẳng muốn cho vợ tiếp xúc , chuyện trò với ai. Đã đành trai gái hay ghen, nhưng ở chàng Trương, sự ghen tuông đã đến mức lố bịch, nó là sản phẩm của một lòng dạ nhỏ nhen và một đầu óc rất mực u tối. Từ khi về nhà chồng, cô gái họ Vũ quả nhiên trở thành một người vợ hiền, dâu thảo. Mọi việc, từ trong nhà đến đồng bãi đều do một bàn tay nàng quán xuyến, đảm đang. Lo ruộng trên bờ dưới nước phân giống má. Lo con lợn con gà, đường kim mũi chỉ, rồi cơm ngon canh ngọt cho cả nhà. Thôi thì thượng vàng hạ cám, chẳng thấy lúc nào nàng để tay chân không, công việc nối tiếp công việc, mà việc nào cũng thực chu đáo, đâu vào đấy cả. Mẹ chồng thấy nàng dâu như thế, vui như mở hội trong lòng. Còn anh chồng thì được thể, lại càng ăn no ngủ kỹ, giao hết công việc cho vợ lo liệu. Duy có điều, mỗi lần vợ ra khỏi nhà, anh ta cảm thấy lòng dạ chẳng yên, nên tìm mọi cách để theo, vì vậy, tiếng là đi làm, nhưng thực tình là để canh chừng vợ.
Biết ý chồng, chị vợ mỗi khi tiếp xúc với ai cũng hết sức dè chừng. Còn lo công việc thì dường như đã thành bản tính của chị. Vì thế, gia đình họ được tiếng là gia đình êm ấm, thuận hòa, đáng làm gương cho mọi gia đình khác. Lúc này chị vợ cũng đã bắt đầu có mang.
Giá như không có chiến tranh, không có sâu bệnh hạn hán lụt lội để cho dân chúng yên ổn làm ăn, lúc nào cũng ngô lúa đầy bồ, gia súc đầy sân thì còn vui mừng nào bằng. Và gia đình chàng Trương, dẫu anh chồng có tính hay ghen thì cũng chẳng làm sao. Anh ta ghen thế chứ ghen gấp mười lần thế, chị vợ cũng dè chừng được, và gia đình họ mãi mãi chẳng hề hấn gì.
Tuy nhiên, tai họa từ trên cao đổ ập xuống đầu mọi người: Chiến tranh nổ ra giữa Đại Việt và Chiêm Thành đúng lúc mà gia đình chàng Trương đang sum họp yên ổn ấy.
Vua Lý Thánh Tông Đại Việt cho rằng vua Chiêm Thành Chế Củ không biết lễ độ: Không giữ tình lân bang, chẳng chịu triều cống, lại còn hay cho quân lính cướp phá ở biên giới. Vậy nên cần phải mang quân đi "dậy" cho một bài học nhớ đời.
Nhà vua đích thân làm Đại nguyên soái thống lĩnh ba quân. lệnh ban xuống cho mỗi thôn ấp phải lấy cho đủ quân số. tất cả trai tráng, dù con một mà không đươc học hành gì, cũng phải lên đường. Bà mẹ chàng Trương ở lại miền Nam Xương, dù đã khóc đến hết nước mắt, lại mang lễ vật đến tất cả các cửa, mà cuối cùng con trai cũng không thoát "nạn".
Ngày chàng Trương lên đường, chị vợ nước mắt chạy quanh, lại đang bụng mang dạ chửa, nhưng cũng làm mâm cơm để mời anh em, họ hàng đến dự. Thôi thì đủ các lời động viên, cho nên bà mẹ phải chờ cho mọi người về hết mới dám khuyên con:
- Thôi thì đành vậy. Nhà vua đã có lệnh, mẹ cũng chẳng giữ được con ở nhà. Chỉ xin con nhớ rằng nhà mình mấy đời chân lấm tay bùn, nên chẳng cần con phải xông pha nơi mũi tên hòn đạn để thăng quan chức làm gì. Vinh hoa để dành cho người khác, còn con giữ lấy hai chữ "bình an" mà trở về, cho mẹ khỏi lo phiền.
Chị vợ cũng nắm lấy chồng vạt áo chồng, nói tiếp:
- Thiếp chỉ mong chàng làm được như lời mẹ dặn. Ở nhà mọi việc chàng cứ yên tâm, đã có thiếp đảm đương. Vợ chồng là nghĩa trăm năm. Đời thiếp trước sau chỉ một chàng. Gia đình ta mai ngày rồi sẽ được đoàn tụ ...
Chàng Trương lặng thinh không nói năng gì, cũng chẳng có cử chỉ nào. Chàng ta nhìn chăm chăm vào bụng vợ, rồi đột ngột đặt tay lên ngực mình mà nói:
- Tôi đã suy tính kỹ càng, chẳng có gì lo cho tôi đâu. Nàng hãy lo đến công việc ở nhà. Rừng ruộng nhiều thì cố mà làm, không nên chung đụng với người khác. Khi sinh con, đặt tên cho nó là thằng Đản, chắc nó sẽ là con trai ...
Nói rồi chàng điềm tĩnh bước ra khỏi nhà, không một lần ngoái đầu nhìn lại.
Anh lính họ Trương quả nhiên đã là một tay khôn ranh có hạng, nên trong suốt cuộc chiến tranh, đều tìm được cách thoát hiểm dễ dàng. Hiển nhiên anh ta không dũng cảm, cũng chẳng hăng máu vịt bao giờ. Luôn luôn tìm mọi cách, mọi cớ để tụt hậu, không phải đánh giáp lá cà. Khi ở tuyến sau, khi vào đội tải lương, lúc thì làm liên lạc. Khi buộc phải xông lên phía trước cùng đội quân đầu tiên, thì chỉ chục bước chân, anh ta đã tìm được cách ngã. Nếu quân ta thắng thì anh ta xông lên phía sau, còn nếu quân ta thua anh ta chạy lui phía trước. Suốt cuộc chiến tranh, anh ta chỉ "diễn" độc có "trò" đó mà xem cũng thành công mỹ mãn, chẳng phải sứt đầu mẻ trán gì. SaÜn tính dễ ăn dễ ngủ, anh ta bỏ qua mọi lo lắng ưu phiền. Nếu có lúc nào đó chợt nhớ đến mẹ già, vợ trẻ thì anh ta tặc lưỡi: "Vẫn thế cả thôi mà", rồi ngủ tiếp.
Ấy vậy mà trong những ngày này, bà mẹ chàng Trương lại lo đến phát ốm. Chị vợ đã mệt lại càng thêm mệt. Tuy nhiên, là người phụ nữ đảm đang, chị vẫn gắng gượng mọi việc lo tròn.
Kể từ ngày chàng Trương ra đi, nửa năm sau, ở nhà vợ chàng sinh được một mụn con trai. Thằng bé hơi gầy nhưng nét mặt thì giống bố như tạc. Nhớ lời chồng dặn, chị đặt tên cho nó thằng Đản.
Trong những ngày con dâu nằm "ổ", công việc lặt vặt tự nhiên phải "trút" sang cho mẹ chồng, vì gia đình không nuôi người ở. Bà cụ, tuy mừng thì có mừng, nhưng tuổi cao lại saÜn bệnh tật, nên cũng không thể "trụ" được lâu dài. Bởi vậy, khi con dâu rời "ổ" thì cũng là lúc bà mẹ ốm liệt giường.
Một nách con nhỏ, lại công việc, ấy thế mà chị vẫn chạy vạy, lo tìm thầy thuốc rồi cơm cháo hậu hạ bà mẹ chu đáo hàng mấy tháng trời. Làng xóm thấy vậy ai cũng ngợi khen, còn bà mẹ thường nắm tay con mà nói:
- Mẹ biết sức mẹ cũng chẳng cố thêm được đâu, con đừng quá lo lắng, chạy vạy mà sinh ốm sinh đau thì khổ ...
Đến khi sắp hấp hối, bà cụ còn căn dặn thêm:
- Mẹ thấy ... trong người ... yếu lắm ..., không còn được gặp ... bố thẳng Đản ... trở về ... con ở lại ... trông nom ... có con có cháu ... thế này ... mẹ cũng ... hả lòng hả dạ ... Ới con ơi ... Ai gây ra ... cuộc binh đao ... có thấu cho ... mẹ con tôi ... nông nỗi ...
Vừa nói bà cụ vừa nức nở, rồi nấc khan vài tiếng, đoạn, hai tay buông xuôi, vành mắt cũng từ từ khép lại ... Bà cụ đã "đi" rồi, trên gò má vẫn còn đọng lại mấy giọt nước mắt nóng hổi.
Chị vật vã than khóc bên xác mẹ. Họ hàng, làng xóm kéo đến, cùng chị lo liệu đám tang. Tuy không có người chồng ở nhà, nhưng mọi vệc đều chu đáo, ai ai cũng đều cảm phục và ca ngợi lòng hiếu thảo của chị.
Từ ngày bà mẹ chồng qua đời, vợ chàng Trương phải một mình đảm đương quán xuyến công việc. Những việc không đừng được chị mới nhờ người, mà toàn là chỉ đàn bà con gái với nhau cả. Giữ cho được một gia tư bề thế, đầy những ruộng cả ao liền, quả là điều không dễ. Lại phải bồng bế, nuôi nấng con thơ nên nỗi vất vả lại càng chồng chất. Đi đến đâu chị cũng phải địu con theo. Lúc nào chị cũng tất bật vội vội vàng vàng ... Những khi mưa dầm gió bấc hoặc đêm hôm khuya khoắt, trong căn nhà trống trải chỉ thui thủi có hai mẹ con, thì nỗi buồn lại càng như nẫu ruột nẫu gan thêm.
Nhưng rồi những ngày ảm đạm nhất cũng qua đi. Đứa bé lớn dần. Biết lẫy, biết bò, rồi tập đi, tập nói. Có đứa trẻ trong nhà, thỉnh thoảng lại bi bô, nỗi buồn của chị cũng vơi nhẹ và nhà cửa cũng đỡ quạnh hiu. Chị hay bày ra các trò chơi và đồ chơi để con ngồi một mình, vì dẫu sao cũng phải làm nhiều công việc khác.
Khi đứa trẻ nói sõi và bắt đầu biết nhận xét đôi chút thì một hôm nó hỏi:" Mẹ ơi, bố đi đâu?". Mặc dù biết rồi có lúc con sẽ hỏi câu hỏi này, nhưng cứ nghĩ nó còn bé quá, nên chị trả lời cho xong việc: "Bố đi vắng rồi."
Nào ngờ, thằng bé vẫn hỏi tiếp:" Thế bao giờ bố trở về?"
Chị lăng ra lúng túng, rồi đành phải trả lời thật:"Bố đi đánh giặc xa lắm, chưa về nhàđược". Thế là thằng bé lắc đầu quày quạy, rồi lăng ra khóc, đòi mẹ:" Phải đưa bố về! Phải đưa bố về nhà kia! ..."
Chị thực sự bối rối, nước mắt chảy quanh dỗ con mà lòng dạ tan nát. Đứa bé vẫn cứ khóc. Lúc ấy, lợn trong chuồng lại đang rít lên đòi ăn. Không thể ngồi lâu, và thế là chị đã buột miệng thốt ra cái câu tai hại nhất:"Đến tối bố về!". Đến tối! khi người mẹ thấp đèn lên để trong nhà sáng sủa cũng là lúc đứa bé nhớ ra, và nó lại đòi đến mấy lần: "Mẹ ơi bố đâu rồi!".
Chị thảng thốt nhìn quanh, như thể chờ đợi sự xuất hiện của phép thần. Cửa lúc ấy đã khép và cổng bên ngoài cũng đã đóng ... chợt nhìn thấy cái bóng của mình đang lung linh trên vách, chị nhanh trí chỉ liền cho con thấy:"Đấy!Bố đấy! bố đã về với đản đấy!".
Đứa bé trố mắt ra ngạc nhiên, mọi lần trước, nó hoàn toàn chưa để ý đến chuyện này. Thế là nó reo lên, chạy về phía ấy. Biết ý, chị vẫy tay để cái bóng cũng vẫy tay theo, và thằng bé sung sướng, cười lên như nắc nẻ ...
Chuyện đời nhiều khi nghĩ cũng thật oái ăm. Cái trò chơi vô hại ấy, cuối cùng rồi cũng trở thành có hại. Nhưng đó là chuyện xảy ra về sau, còn bây giờ, tối nào thằng Đản cũng bắt mẹ thắp đèn lên để cho bố nó về. Tối nào hai mẹ con chị cũng chơi đến tận khuya, chỉ khi nào thằng riú mắt lại buồn ngủ, nó mới chịu thôi. Đấy cũng còn là cái cách một công đôi việc của người mẹ: Trong lúc thằng bé đùa nghịch, chị cũng tranh thủ vá may và làm được vô khối công việc nửa.
Kể ra, nếu đầu óc thằng bé bớt đần độn đi đôi chút, chắc trò chơi này cũng không kéo dài được lâu. Cái sự đần độn của nó, cũng như cái tính thiển cận dẫn đến hay ghen của người bố, chắc là do trời định. Và cũng là do trời định, cả cái tài đảm đang tháo vát của người thiếu phụ chờ chồng, đã bày đặt ra trò vui, để tự động viên, nhưng cũng là để tự lừa dối mình.
Giá như người mẹ chẳng nghĩ cách tạo ra thêm nhiều hình thù mới mẻ, ngộ nghĩnh trên vách, thì chỉ sau mấy lần, thằng bé cũng sẽ chán. Đằng này, để cho đứa con vui, dường như chị cũng tự huyễn hoặc ngay cả bản thân mình. Khi về chàng Trương biết chuyện chắc sẽ mãn nguyện mà cười vang lên, hả hê sung sướng lắm ...
Vẫn nhớ đinh ninh cái tính hay ghen đến kỳ cục của chồng, tối nào chị cũng gài chặt cánh cổng ngõ. Lại còn tấp thêm mấy ngọn tre gai ở phía trong.
Quả nhiên, đêm hôm chẳng có kẻ nào mò đến cả. Thế nhưng, tiếng nói tiếng cười của hai mẹ con và ánh đèn, thì chẳng cánh cổng nào ngăn lại được. Theo kẽ vách, ánh sáng hắt cả ra ngoài sân, còn tiếng nói tiếng cười thì văng vẳng tận hàng chòm hàng xóm ...
Mấy ngày nay sao có con chim khách về hót trước nhà: "Chim báo điềm lành chăng?" Lòng người thiếu phụ thấy xốn xang: Chồng chị mãn hạn lính sắp trở về đây. Tính từ ngày chàng Trương ra đi, đến nay đã ngoài hai năm và đứa con cũng đã gần ba tuổi. Nếu lúc này chồng chị về thật, thì còn niềm vui sướng nào bằng? Chị nghĩ thầm. Bà mẹ dầu sao cũng đã mồ yên mả đẹp, và chị cũng đã làm trọn bổn phận làm dâu của mình, nếu bây giờ chị hay nghĩ đến chồng thì cũng có gì đáng trách? Ôi! Chẳng phải xe ngựa hay võng giá xênh xang, mà chỉ cầu chồng mặt mũi tay chân lành lặn trở về là được rồi. Nghĩ đến đấy, đôi mắt chị long lanh, hai gò má chị ửng hồng, còn trong lồng ngực, trái tim đập thình thịch ...
Thế rồi chỉ mấy ngày sau, chàng Trương chồng chị đã trở về nhà thật!.
Vua Đại Việt tưởng có thể đè ngay bẹp vua Chiêm Thành, nhưng nào ngờ, mấy trận đầu đã bị thua liểng xiểng. Nhà vua rút quân về sâu trong lãnh thổ, cách thật xa biên giới để củng cố lực lượng và có lúc chán nản, đã toan rút quân về. Nhưng rồi sau có quân tiếp viện và lương thực tới, có thượng tướng Lý Thường Kiệt can ngăn, lại có "biểu" khích lệ của bà Nguyên phi nhiếp chính Ỷ Lan, nên cuối cùng nhà vua cũng lấy lại được sĩ khí, quyết tâm xuất binh thắng trận.
Khi bài học mà nhà vua "dậy" xong, nghĩa là quân Chiêm Thành đã đại bại, thì bên phía quân ta, thiệt hại cũng không phải ít. Tính ra, phải ngoài hai năm cuộc chiến mới thật tàn, cướp đi vô số sinh mạng và của cải.
Anh lính họ Trương, như đã nói, do có máng khóe, nên cuối cùng vẫn bình yên vô sự. Chàng ta trở về mà lòng dạ hân hoan. Lại sắp được cặp kề bên vợ. Lại được nhìn thấy mẹ già. Lại có cả thằng con nhỏ lũn cũn chạy theo sau. Nổi mừng tựa như chấp cánh mà bay lên vậy.
Nhưng nào ngờ, vừa đặt chân tới đầu làng, chàng Trương đã hay tin mẹ mất. Chàng nắc lên nức nở rồi vội vả bước thật nhanh về nhà. Đẩy cổng bước vào, thấy vợ con lúi húi dưới bếp, chàng cũng chỉ nhìn qua, rồi vội bước trên nhà trên, quẳn bọc quần áo xuống đất và lăn ra khóc thảm thiết. Về sau trong làng, có người bảo đấy là người con hiếu thảo hết lòng, nhưng có người lại cười thầm: Sao mà nông nỗi hồ đồ đến vậy!
Chị vợ dắt con từ nhà bếp lên, tần ngần một hồi trước cảnh tượng, rồi cuối cùng cũng phải lựa lời khuyên nhủ chồng. Chàng ta đã thôi cơn khóc, liền xòa tay ôm lấy đứa con, như thể cầu mong một sự chở che, nhưng đứa bé rãy nãy vùng chạy ra, làm cho chàng ta cảm thấy bị hụt hẫng. Chị vợ chẳng biết làm thế nào, chỉ trơ mắt đứng nhìn chồng. Chàng ta bảo vợ tìm nắm hương, be rượu, mấy quả cau và lá trầu không để đi viếng mộ mẹ. Lúc vợ đi chuẩn bị, thì người chồng cũng tìm cách dỗ dành đứa con, nhưng hai mắt nó dương thao láo, nghe thấy mà chẳng nói năng gì. Chắc là nó vừa lạ vừa sợ.
Chàng Trương cầm lễ vật, bế cả đứa con để đi viếng mộ mẹ, bởi vì lúc này họ hàng làng xóm cũng đã bắt đầu đến chơi, chị vợ phải lo đun nước, dọn dẹp nhà cửa ... nên bế nó không tiện.
Dường từ nhà ra mộ mẹ cũng khá xa,nhưng biết đám ruộng chôn nên chàng Trương cũng không phải hỏi ai. Vừa đi chàng vừa sụt sùi, làm cho đứa bé sợ hãi, hai tay cứ ôm riết lấy cổ bố. Đến mộ, đặt lễ vật và thắp hương xong chàng ta lại òa lên khóc nức nở. Vừa khóc vừa kể lể nguồn cơn. Rồi vật vã, rồi lại gào lên những hồi thảm thiết. Thấy người lớn khóc, đứa bé cũng khóc theo. Một lúc lâu sau, dường như chợt tỉnh ngộ, chàng Trương mới nhớ tới việc dỗ con. Và lần đầu tiên trong đời, đứa bé được nghe chàng ta gọi là "con" và xưng là "bố":
- Thôi, nín đi con, đừng khóc nữa. Bà đã mất rồi, lòng bố cũng đang tan nát đây. Nào đứng lên, về với bố đi con.
Đứa bé lúc này đã nín, nhưng nó lại giương cặp mắt nhìn người bố ngơ ngác. Nó nhớ nó đã cómột người bố đen truùi trũi, đêm nào cũng trở về với hai mẹ con nó kia. Người bố ấy tuy không bao giờ nói, nhưng lần nào mẹ nó cũng bảo đấy là bố thật, và nó đã tin theo. Bởi vậy, nó trả lời chàng Trương - người bố đang đứng trước mặt:
- Ô ... ông ... Không phải là bố. Bố tôi đến tối mới về kia!
- Ai bảo thế? Chàng Trương liền saÜng giọng.
Đứa bé giương mắt thao láo đáp: "Mẹ!"
Chỉ vừamới nghe có thế đã thấy chàng Trương giận dữ điên cuồng. Máu dồn lên mặt, hai tai ù đặc, chàng ta toan giang tay tát thằng bé, nhưng như chợt tỉnh, hai tay chàng bỗng buông sõng, lẩy bẩy, và hai tròng mắt cứ tự nhiên cũng ráo hoảnh. Thay vì nỗi đau, bây giờ trong lòng chàng chỉ còn là sự căm giận và cơn ghen đang mỗi lúc mỗi bốc lên ngùn ngụt.
Chẳng nói chẳng rằng, lại quên cả thu lễ vật, chàng ta vội vã bế thốc đứa bé. Do cảm nhận được thái đôï của "người bố", đứa bé cũng chẳng dám, dù chỉ là cựa quậy. Miệng nó nín câm như thóc còn mặt mũi thì tái xanh tái xám.
Chàng Trương dường như đã chạy thẳng về nhà, nét mặt hằm hằm, gặp ai cũng khồn chào hỏi. Cơn giận dữ của chàng đang đến độ điên khùng.
Đặt phịch đứa con xuống sân, chẳng chào hỏi ai, chàng ta vội vàng xuống bếp túm lấy tóc vợ, lôi đi sềnh sệch. Vừa chửi, chàng ta vừa vung tay tát vợ liên hồi. Khách khứa đột nhiên thấy cảnh này, ai cũng tròn xoe mắt, một hồi sau mới dám vào can.
Chị vợ bị đau, bị nhục quá, vừ khóc vừa chạy thẳng ra khỏi nhà ... cơn giận của chàng Trương vẫn chưa hả, lại chợt nhớ nỗi đau mất mẹ, chàng ta còn quát với theo:
- Bước! Đồ đĩ! Giá mày chăm sóc mẹ tao tử tế thì đâu đến nỗi. Mẹvừa nằm xuống mà mày đã vội rước trai về nhà. Đồ quạ tha. Bước! Bước! ...
Lúc ấy, họ hàng làng xóm mới bắt đầu bình luận. Những người ở xa thì bảo: "Xưa nay có thấy chị ấy chuyện trò lâu với ai bao giờ?" hoặc "Bận việc nhà,việc đồng bãi. Lại nách con nhỏ như thế, hỏi còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chuyện trai trên gái dưới?" Nhưng những người láng giềng lại nói: "Đêm nào cũng thấy cửa đóng im ỉm, mà trong nhà đèn thắp sáng trưng, đến khuya vẫn còn tiếng cười tiếng nói." Chưa ai hiểu thế nào. Thế rồi có một người độc mồm độc miệng đã hạ một câu: "Tâm ngẩm mà đấm chết voi. Loi choi đấm voi không chết". Lại một người nữa: "Xưa nay ai biết ma ăn cỗ bao giờ?". Thật rõ là "miệng lưỡi thế gian!", và mọi người vẫn còn bàn tán mãi ...
Chị vợ chàng Trương vùng chạy khỏi nhà để thoát khỏi bị chửi bới đánh đập, để khỏi con mắt nhìn khinh rẻ của những người đến chơi. Khi đã mệt, sức không chạy được nữa thì chị lảo đảo rồi ngồi bệt xuống bên vệ đường và những suy nghĩ lộn xộn cũng từ đâu dồn cả lại. "Sao thằng chồng lại vũ phu, đểu giả đến thế? Vừa về đến nhà, chưa kịp hỏi han đầu đuôi xuôi ngược ra sao, mà hắn đã chửi đã đánh?"
Chị hiểu ngay là do đứa con nói "Tối bố mới về", nên hắn tưởng thật mới đánh đòn ghen, nhưng lúc này đây, nỗi phẫn uất tím ruột bầm gan khiến chị không thể quay về để thanh minh với hắn và với mọi người. "Ta không thèm trở về nhà hắn nữa", chị nghĩ, rồi đứng dậy, lững thững bước ra mé bờ sông Hoang vắng vẻ.
Ở phía trước, nước sông vẫn cuồn cuộn, vô tình trồi như bao giờ. Chị nhìn xung quanh, xa xa có vài bóng người vẫn đi lại làm lụng như mọi khi, nhưng ở phía nhà "hắn", tịnh không có ai chạy ra đây cả. "A! Thế nghĩa là anh em họ hàng xa gần nhà hắn cũng đều nghi ta". Chị nghĩ. "Được, các người cứ ngồi ở đấy mà bàn tán với nhau đi, ta đây chẳng thèm nói lại nửa lời. Ta khinh thường tất cả các người! Nào giỗ tết, nào ma chay, sao kéo đến ăn thì đông, mà bây giờ không có ai đứng ra để nói được một lời tử tế?".
"Ruộng cả ao liền, tưởng như thế mà muốn chửi bới đánh đâïp ta được à? Bao mồ hôi công sức vất vả khó nhọc mấy năm nay của ta, sao các người không mở mắt ra mà ngẫm cho kỹ?"
Đến lúc này, khi cơn giận dữ người chồng đã chuyển sang giận dữ cả anh em họ hàng nhà chồng, thì lập tức chị cũng hiểu ngay: Con đường rút về nhà bố mẹ đẻ của mình đã hết. "Về lúc này chỉ chuốc thêm lấy nhục nhã ê chề", chị nghĩ tiếp, "Họ hàng có người sẽ bảo không có lửa làm sao có khói?, vậy ta biết ăn nói thế nào? Dẫu cây ngay không sợ chết đứng", nhưng làm sao mà tránh khỏi được sự nghi ngờ?".
Càng nghĩ chị càng thấy mình đang lâm vào tình cảnh cùng quẫn, không còn lối thoát nào. Nhớ lại đoạn đời từ khi bước chân về nhà chồng đến nay, chị cũng chỉ cảm thấy ghê tởm. "Nhà con một giàu có, bố mẹ ta cứ ngỡ là vàng, nhưng nào có biết hắn chỉ là thằng đần độn, vũ phu, còn ta thì chẳng khác cái thân tù, đi đâu cũng phải xét nét. Bây giờ mà hắn đánh đập thế, thì thử hỏi mai sau, liệu có thoát được không?"
"Thôi! Thà rằng chết quách đi cho rảnh, còn sống làm gì nữa?" Cuối cùng chị đi tới quyết định. "Ta chết đi để cho bố con hắn sống một mình". Ôi! Thằng con! "Đản ơi! Sao ba tuổi rồi mà mày không phân biệt nổi một người với một cái bóng? Mặt mũi mày giống bố mày thế, thì thử hỏi mai sau tao biết trông cậy vào ai? ..."
Người thiếu phụ loạng choạng đứng dậy, nhìn xuống dòng sông một hồi như thể còn cân nhắc điều gì, đoạn thấy chị ngoái nhìn lại phía sau và khắp bốn xung quanh. Trong sâu thẳm cõi lòng, chị vẫn còn le lói một tia hy vọng cuối cùng, tia hy vọng sự sống, và đấy là cái bản năng muôn thuở của con người ta, dù rằng về lý trí thì đã quyết một bề : Chết! Nếu lúc ấy một người ở phía gia đình nhà chồng hay một người thân nào đó của chị, hoặc thậm chí một người không quen biết xuất hiện, thì có lẽ sau đó chị cũng chẳng nhảy xuống sông tự tử ở dưới dòng sông, nhưng hỡi ơi, dường như tất cả mọi người đều đã quay lưng lại với chị, dù vô tình hay hữu ý!
Ở gia đình chàng Trương, cho đến lúc này mọi người vẫn còn ngồi đấy mà bàn tán, đoán già đoán non . Không một ai nghĩ đến cái điều tai hại nhất có thể xảy ra, do vậy, hệt đúng như trường hợp "cha chung không ai khóc", không một ai nói và bàn tới chuyện đi tìm chị về.
Ở phía gia đình bố mẹ đẻ của chị, do ở xa, nên đến lúc này cũng chưa ai hay biết điều gì. Còn những người đi làm đồng bãi, những người không quen biết, trước đó dẫu có đi qua cũng không ai hiểu chị ngồi đó vì sao. Đến lúc chị đứng dậy nhìn quanh thì ba bề bốn bên, lại tịnh không có một bóng người nào ở gần đó. Thế là hết! Hỡi ơi! Thế là niềm hy vọng cuối cùng của chị đã hết!
"Ai nghĩ ta, cười ta rước trai về nhà thì chỉ đến tối nay thôi, hãy mởi mắt to ra mà nhìn, xem có phải như thế không? Ta đây đâu phải hạng lang chạ. Ta đây đâu phải loạn con nhà mèo mả gà đồng? Bao công phu khó nhọc bỏ ra vun đắp cho cái nhà ấy, kể từ nay, ta cũng coi như đã đổ xuống sông xuống biển. Cậy giàu cậy có của thì hai bố con cứ ngồi đây mà ăn, ta đấy không thèm ngõi nữa. Ôi, cái số ta sao lại phải sa vào với cái giống vừa ngu đần, vừa vũ phu và bạc ác đến thế? Ôi, thật ghê tởm! Vĩnh viễn từ nay ta ghê tởm!"
Vừa nghĩ như thế, người thiếu phụ vừa loạng choạng bước xuống dòng sông tới thẳng mép nước và lội ra một đoạn. Chị cúi xuống, lấy hai tay vốc nước rửa mặt, rồi trong cơn khát, uống liền môït hơi nước đầy bụng, cảm thấy cái mát đang thấm sâu vào cơ thể mình. Ôi khoan khoái quá, chị nghĩ, và chị muốn mình cũng được mát mẻ mãi như dòng nước này!
"Ơi sông ơi, nước ơi ... hãy đón ta vào lòng. Hãy giúp ta quên cõi đời ngang trái này ...". Vừa lẩm bẩm, hạ bàn chân chị vừa đạp mạnh xuống đất, rồi cùng lúc, dang hai tay nhoài người ra như thể định ôm lấy dòng nước vào lòng.
Chỉ trong chốc lát, dòng sông đã cuốn trôi đi thân thể của chị.
Khi nghe bên nhà chàng Trương có tiếng ồn ào, làng xóm thi nhau kéo đến, mỗi lúc một đông. Chẳng hỏi han, chẳng nước nôi, cũng chẳng tiếp đón mà lẽ ra khi trong nhà có người đi xa trở về, phải có. Người ta đến là vì tò mò, vì chàng Trương mới ở lính về mà đã đánh đòn ghen. Lúc chị vợ vùng chạy được ra khỏi nhà thì cơn giận của anh chồng phải một hồi sau mới hả. Giá không có người khuyên can ngăn lại chắc chàng ta cũng đuổi theo đánh vợ đến chết. Có người hỏi vì sao mà thế thì chàng ta hất hàm: "Hỏi thằng Đản ấy!" Thế là mọi cặp mắt đổ dồn về phía đứa trẻ, khiến nó sợ hết hồn. Lúc nãy, khi chàng Trương đánh mẹ nó, nó khiếp hãi quá khóc thét lên, còn bây giờ, nó hoàn toàn ngơ ngơ ngác ngác, hệt như "mèo cắt tai".
Khi có người đánh bạo đến bên nó hỏi: "Đản ơi, thử nói xem ai đêm nào cũng đến nhà mày đi" thì thấy mặt nó bần thần, chỉ giương mắt ra nhìn lại. Điều nó thực sự không hiểu vì sao "ông kia" lại đánh mẹ nó, và vì sao mọi người kéo đến đây đông thế? Ấy vậy mà, căn cứ thái độ bề ngoài ấy, mọi người lại bàn tán rồi phhỏng đoán ra lung tung.
Hàng tiếng đồng hồ sau, cuộc bàn tán cũng nhạt dần, các cặp mắt nhìn nhau đã thoáng phần nghi ngại. Thế rồi người ta lục tục ra về, cũng nhộn nhạo y như hồi mới đến. Và thật buồn: Không ai nói và bàn tới chuyện đi tìm vợ chàng Trương cả.
Đến lúc chỉ còn lại hai bố con, chàng Trương mới đi xem xét, thu dọn nhà cửa. Thằng Đản đang ngồi thu lu ở xó nhà, ngủ gà ngủ gật. Chàng Trương đến bên, bế nó lên giường rồi lấy chiếu đắp qua cho khỏi ruồi. Chẳng biết làm gì, lại thấy đói bụng, chàng mới đi tìm gạo thổi cơm. Khi cơm chín, chàng lên nhà, thấy thằng bé vẫn ngủ, bèn lấy bát đũa và xuống ăn ngay tại bếp. Bát vục thẳng vào nồi y nhu hồi còn ở lính. Khi đã no nê, chàng ra bể uống một gáo nước, rồi cứ thế lên nhà, xoa hai chân vào nhau, leo lên giường nằm ngủ. Chỉ một lát sau, tiếng ngáy đã vang khắp nhà.
Đứa con cựa mình thức dậy vào lúc chập tối. Đói, mệt và sợ, khiến nó ngủ li bì. Chỉ đến khi chàng Trương, do quá say sưa gác chân lên người nó, thì nó mới tỉnh. Nó dụi mắt nhìn quanh thấy lạ quá, rồi gọi "Mẹ ơi" một hồi không thấy gì bèn khóc thét lên, làm cho chàng Trương giật mình tỉnh dậy. Trong nhà tối, tiếng khóc của đứa bé lại càng làm tăng thêm vẻ thê lương.
Chàng Trương ghé sát mặt vào để nhìn cho rõ, làm cho nó sợ quá, nín bặt. Bỗng nhiên, chàng cảm thấy có cái gì đó đang đổ sụp trong lòng. Ôi sao mà ngao ngán, mà tủi nhục cái ngày đầu tiên trở về nhà!
Chàng lập cập bước đi tìm đèn, rồi châm lửa. Căn nhà đang tối bỗng sáng bừng lên như có phép màu, và cái bóng của chàng cũng in rõ lên trên vách. Thằng bé, dụi mắt mấy cái, ngơ ngác một lúc, rồi bỗng thét lên: "A! Mẹ ơi! Bố về! Mẹ ơi! Bố đã về!" Vừa thét, nó vừa chạy lại ôm chầm lấy cái bóng.
Chàng Trương vừa nghe vừa nhìn theo con, bàng hoàng, và bỗng thấy tim thót lại. Rồi nước mắt chàng ứa ra ...
Dù đần độn đến mức nào thì cuối cùng chàng cũng hiểu: đứa bé gọi cái bóng là bố, thế nghĩa là đêm hôm không có ai đến cả!
Chàng khóc lên như mưa. Càng khóc càng thấy xót xa ân hận trong lòng. "Phải đi tìm vợ gấp! Phải đi tìm vợ gấp!". Chàng nghĩ.
Chàng lật đật chạy sang các nhà hàng xóm, nhờ họ đi tìm cho. Đèn đuốc thắp lên rồi mọi người bủa đi các nơi, các ngã. Có người còn chạy cả đến nhà bố mẹ đẻ của nàng. Chó sủa lên inh ỏi. Người gọi nhau í ới. Nhưng đến hết đêm ấy cũng chẳng ai tìm thấy nàng. Nét mặt ai nấy đều ngơ ngơ ngác ngác. Và người ta bắt đầu bàn tán, chê cười chàng Trương.
Mờ sáng hôm sau, bây giờ chính yếu là anh em họ hàng nội ngoại cùng đi tìm nàng. Do đoán rằng nàng đã ra sông tự tử, nên mọi người đi dọc theo hai bên bờ sông, dùng sào dùng gậy gạt bèo gạt cỏ, để nhìn cho rõ. Quả nhiên, đến quãng gần trưa, người ta đã tìm thấy xác nàng lẫn vào một vạt bèo, ở khúc sông ngoặt phía dưới, cách khoảng hai cây số. Khi vớt lên, mặt mũi tay chân nàng nhợt nhạt, hai mắt nhắm nghiền.
Chàng Trương hớt hơ hớt hải chạy tới, lăn lộn bên xác vợ mà vật vã, than khóc. Vừa than khóc chàng cũng vừa tự xỉ vả mình, nhưng được một hồi thì ngất xỉu. Người ta phải dùng hai cái cáng để cáng cả hai vợ chồng chàng về nhà.
Đám tang vợ chàng Trương sau đó, được tổ chức rất to, theo như ý nguyện của chồng, nghĩa là cũng thịt đến ba bò bảy lợn như ngày lễ cưới, duy chỉ còn những lời tán tụng! Sau lễ an táng, chàng Trương còn mời cả thầy phù thủy về lập đàn tràng và bắc cầu giải oan cho nàng ở bến sông Hoàng, nơi phỏng đoán là nàng đã nhảy xuống tự tử. Trong những ngày này, nét mặt chàng ủ rủ, tiều tụy, thật tương phản với vẻ hùng hùng hổ hổ hôm trước.
Tiếng đồn về vợ chàng Trương chết oan, mấy ngày sau, đã lan ra khắp trong phủ ngoài huyện. Lý ra chàng phải vào tù, nhưng quan trên xét thấy chàng vừa đi chiến trận về lại đang bận con nhỏ nên đã tha cho. Từ đấy tính tình của chàng cũng điềm đạm hơn, không còn nông nổi cục sức như trước. Ba năm sau chàng lại lấy vợ mới.
Nhưng bến sông Hoàng từ đấy trở đi đã không còn bình thường như trước nửa. Đây là bến đò đông, người của mấy xã thường xuyên qua lại, đi làm lụng, buôn bán. Lẽ tự nhiên, người ta nói và bàn nhiều về vụ tự tử vừa mới xảy ra. Lại nói và bàn cả về lễ giải oan, mời được ông thầy cao tay, gọi "hồn" về ngay cả ban ngày ban mặt. Thế rồi tiếng đồn ngày mỗi lan xa, và càng về sau, càng nhiễm thêm màu huyền bí. Người ta bảo rằng tờ mờ sáng nào cũng thấy "nàng" hiện về, có khi còn đứng nói chuyện hay cùng đi chợ với người này người khác, nhưng chỉ được một thoáng đã biến mất. Người ta lại bảo nàng "đòi" lập đền thờ, nếu không bến sông này còn xảy ra nhiều vụ tự tử, hoặc đò đầy sông sâu có khi còn bị lật úp nữa ...
Thế rồi mấy tháng sau, dân chúng trong vùng góp công góp của dựng một ngôi đền ở bến sông Hoàng để thờ "nàng", từ nay được gọi là bà Thiết. Hương khói ở đó quanh năm không lúc nào dứt, do ngày nào cũng có người đi chợ, đi buôn bán ngang qua.
Đến đời Lê Thánh Tông, nhà vua lại mang quân đi đánh Chiêm Thành như thời nhà Lý, với ông vua có cùng miếu hiệu với Ngài, cách đó 400 năm.
Khi thuyền rồng đi qua bến sông Hoàng, ngoảnh lên thấy ngôi miếu dưới bóng cây cổ thụ, lại thấy dân chúng và cả quân lính nữa, ra vào khấn vái tấp nập, nhà vua lấy làm ngạc nhiên lắm. Ngài ra lệnh mời quan sở tại đến để hỏi han. Sau khi nghe quan sở tại tấu trình về xuất xứ và hình trạng của vị thần được thờ, Ngài châu mày như thể không vừa ý điều gì lại cũng như thể đang suy nghĩ về điều gì. Thế rồi người ta thấy Ngài đứng dậy đi quanh một vòng, đoạn ngồi xuống bàn, quẹt đầu bút vào nghiêng mực, rồi đề ngay một bài thơ tứ tuyệt lên tờ giấy đã để saÜn. Xong xuôi, Ngài đọc lại một lần, vừa đọc vừa gật gật đầu, dấu hiệu sự tự tán thưởng. Lát sau, có mấy vị trong hội Tao đàn đi theo xuất chinh đến, Ngài đưa bài thơ cho họ truyền nhau đọc. Ở đây chẳng nói thì mọi người cũng rõ: Tất cả bọn họ đều cúi đầu bái phục tài xuất khẩu thành thơ và xuất khẩu khí đế vương trong bài thơ của Ngài.
Sự thật thì trong bài thơ ấy, nhà vua chẳng hề nhắc đến chuyện chiến tranh, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết của người thiếu phụ. Điều này có thể giải thích được: Việc Ngài đi xuất chinh lần này cũng giống như việc đã xảy ra trước đó 400 năm, do vậy, Ngài thấy trực tiếp nói e ra không tiện. Hơn nữa xưa nay, cái mạng của dân chúng đối với vua chúa thì có đáng giá gì đâu. Mạng một người lính hay mạng vợ, đều "không là cái gì" so với công việc "thế thiên hành đạo" của Ngài. Bởi vậy, việc vợ người lính tự tử sau đó được tôn lên làm thần, làm cho Ngài tỏ ra không vừa ý - nếu không muốn nói thẳng ra là Ngài thấy khó chịu. Đối với Ngài, dù ai đó có là thần thì cũng chỉ ở dưới tầm mắt của Ngài, do bộ Lễ của Ngài cai quản và phong tặng. Cái "khẩu khí đế vương" của Lê Thánh Tông chẳng những thể hiện ở việc xem thường thần, mà còn thể hiện cả ở chỗ: Nhân dịp này Ngài muốn dạy cho tất cả thần dân của Ngài một bài học truyền đời. Ấy là bài học: "Đừng bao giờ nghe trẻ con mách", nhưng xem ra, đấy lại là một bài học không "chuẩn", nếu không muốn nói là bài học tầm phào.
Nguyên bài thơ của Lê Thánh Tông, về sau được khắc đề ở "Đền bà Thiết", như sau:
Nghi ngút bên đường tỏa khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ
Dám trách chàng Trương khéo phũ phàng.
Người ta kể rằng: Sau khi có bài thơ của vua Lê Thánh Tông, các vị chức sắc ở Nam Xương đã lệnh ngay cho tổng và xã sở tại tu sửa lại ngôi đền cho thật khang trang, đẹp đẽ, không phải để xứng đáng với vị thần được thờ mà chính yếu là để xứng đáng với bài thơ của nhà vua sẽ được khắc đặt ở trong đó. Bởi vì, xưa nay "ngọc bút", "châu phê" có bao giờ lại không quan trọng.
Thursday, July 8, 2010
Các nghiên cứu hiện đại về bệnh liệt dương
Các nghiên cứu hiện đại về bệnh liệt dương
Chủ nhật, 30 Tháng năm 2004, 09:00 GMT+7
Tags: Giải Nobel Y học, bệnh liệt dương, trong quá trình, cương dương vật, nhà khoa học, nghiên cứu, hiện đại, đã được, trị bệnh, phát hiện, chữa trị, thuốc, chất, loại
Viagra - một trong những thuốc chữa liệt dương phổ biến nhất hiện nay.
Từ phát hiện của Furchgott và Ignarro (Mỹ) về vai trò của chất NO trong quá trình gây cương dương vật, một loại thuốc hiệu quả chữa liệt dương ra đời. Nhờ công trình này, 2 nhà khoa học đã được trao giải Nobel Y học năm 1998.
Trong nghiên cứu của mình, Furchgott và Ignarro giải thích: Khi có một kích thích hay một ham muốn tình dục thì dù có tác động trực tiếp trên dương vật hay không, kích thích này cũng sẽ phát ra một tín hiệu ở não bộ. Tín hiệu được chuyển đến trung tâm gây cương ở tủy sống và làm cho nó hoạt động. Lúc này, chất NO sẽ được phóng thích vào thể hang dương vật, làm giãn các cơ trơn. Sự giãn nở đó làm tăng áp lực trong các hang, các hang này sẽ đè và ép lên các tĩnh mạch để máu ở dương vật không thể thoát ra ngoài.
Từ năm 1991, thuốc Sildenafil cung cấp chất NO được đem ra thử nghiệm. và đến năm 1998, nó được Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ chấp thuận cho lưu hành.
Ngoài phát hiện về cơ chế gây cương dương, y học hiện đại còn có nhiều nghiên cứu khác về bệnh bất lực. Về nguyên nhân gây bệnh, giáo sư Stief CG, một nhà niệu khoa người Đức, cho là có 2 nhóm chính: nhóm có nguồn gốc từ bệnh tật thể chất và nhóm có nguồn gốc tâm lý. Có những người có “nguyên nhân hỗn hợp”, nghĩa là có cả 2 yếu tố trên.
Một cuộc khảo sát ở Canada về việc chữa trị bệnh liệt dương cho thấy, 60% đàn ông hài lòng với một loạt cách thức chữa bệnh hiện nay, và mong muốn có một phương pháp tốt hơn cho phép vợ chồng cùng hưởng sự tự nhiên trong đời sống tình dục. Bác sĩ Jack Barkin, Trưởng ban niệu học của Bệnh viện Humber River (Canada), nói: “Một trong những lời than phiền thông thường nhất của bệnh nhân là để có thể cương cứng, họ phải lập kế hoạch thật kỹ lưỡng. Trong trường hợp đột xuất, việc lập kế hoạch này không chỉ là điều bất tiện mà còn có thể triệt tiêu tâm trạng và sự ham muốn".
Một khảo sát được tiến hành với 1.200 đàn ông uống Sildenafil (được chọn ngẫu nhiên) và 501 đối tác nữ của họ cho thấy, mặc dù đạt được mức độ hài lòng nhất định, họ vẫn mong muốn có những giải pháp chữa trị khác. Phần lớn trong số họ chú trọng đến khả năng chữa trị cho phép có đời sống tình dục tự nhiên
Trong quá khứ, các phương pháp chữa trị bệnh liệt dương chỉ gồm: ống bơm, cấy ghép phẫu thuật, thuốc tiêm và thuốc nhét vào ống dẫn nước tiểu. Vào cuối thập niên 90, thuốc uống đầu tiên đã được giới thiệu, đó là Sildenafil; hiện nay nó vẫn là loại thuốc uống trị bệnh liệt dương duy nhất được sử dụng tại Canada.
Hiện tại, bệnh liệt dương có 5 cách điều trị: Dùng thuốc uống; tiêm thuốc vào thể hang dương vật; dùng dụng cụ bơm chân không; lắp đặt dương vật giả và phẫu thuật mạch máu dương vật. Tâm lý liệu pháp luôn luôn được dùng kèm theo các phương pháp điều trị này.
Hiện nay trên thị trường dược phẩm điều trị bệnh liệt dương có ít nhất 10 loại thuốc đã được nghiên cứu, theo dõi và đánh giá theo các trình tự khoa học có thể tin cậy. Số còn lại (có đến hàng ngàn hàng vạn loại khác từ dược thảo, tinh chất, côn trùng, sinh vật...) được điều chế theo kiểu gia truyền mà công thức pha chế hoàn toàn được giữ bí mật.
BS Hồ Đắc Duy, Sức Khỏe & Đời Sống
Tỏa dương - vị thuốc cho nam giới
Thứ sáu, 08 Tháng mười 2004, 11:29 GMT+7
Tags: vị thuốc, bổ thận, nam giới, đau lưng, mỏi gối, di tinh, dương, tỏa, đất, Hoa
Vị thuốc này còn có tên là củ gió đất, củ ngọn núi, hoa đất, thường ký sinh trên rễ những cây gỗ lớn trong rừng sâu ẩm thấp... Tỏa dương được dùng làm thuốc bổ thận, chữa đau lưng mỏi gối, di tinh, liệt dương; hoặc điều trị chứng mệt mỏi kém ăn, nhức mỏi chân tay.
Tỏa dương có hình thù như một cây nấm, màu đỏ nâu sẫm, cấu tạo bởi một cán hoa lớn, trên mang hoa dày đặc, có mo bao bọc, màu tím, mùi hôi. Nó vị ngọt, tính ôn, không độc, có tác dụng bổ thận, tráng dương, đại bổ nguyên khí, ích tinh huyết, nhuận tràng, thông tiện. Mỗi ngày dùng 8-12 g dưới dạng thuốc sắc.
Một số bài thuốc có vị tỏa dương:
- Hoạt tinh, di tinh, sinh lý yếu, mệt mỏi: Tỏa dương 120 g, tang phiêu tiêu 12 0g, long cốt 40 g, bạch phục linh 40 g. Tất cả tán mịn, hoàn to bằng hạt ngô, mỗi lần uống 15-20 g với nước muối loãng. Ngày uống hai lần.
- Tỏa dương hoàn: Tỏa dương, hoàng bá, quy bản, hoàng cầm, đỗ trọng, ngưu tất, tri mẫu mỗi thứ 16 g, địa hoàng, đương quy mỗi thứ 10 g, phá cố chỉ, tục đoạn mỗi thứ 8 g. Tán bột mịn, trộn đều với rượu và hồ hoàn viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20 g. Thuốc có tác dụng bổ thận, nhuận trường, thông tiện; chữa các chứng đau lưng mỏi gối, các khớp đau nhức, đại tiện khô táo kết gây đau bụng, các bệnh xương khớp.
BS Trần Văn Bản, Sức Khỏe & Đời Sống
Chủ nhật, 30 Tháng năm 2004, 09:00 GMT+7
Tags: Giải Nobel Y học, bệnh liệt dương, trong quá trình, cương dương vật, nhà khoa học, nghiên cứu, hiện đại, đã được, trị bệnh, phát hiện, chữa trị, thuốc, chất, loại
Viagra - một trong những thuốc chữa liệt dương phổ biến nhất hiện nay.
Từ phát hiện của Furchgott và Ignarro (Mỹ) về vai trò của chất NO trong quá trình gây cương dương vật, một loại thuốc hiệu quả chữa liệt dương ra đời. Nhờ công trình này, 2 nhà khoa học đã được trao giải Nobel Y học năm 1998.
Trong nghiên cứu của mình, Furchgott và Ignarro giải thích: Khi có một kích thích hay một ham muốn tình dục thì dù có tác động trực tiếp trên dương vật hay không, kích thích này cũng sẽ phát ra một tín hiệu ở não bộ. Tín hiệu được chuyển đến trung tâm gây cương ở tủy sống và làm cho nó hoạt động. Lúc này, chất NO sẽ được phóng thích vào thể hang dương vật, làm giãn các cơ trơn. Sự giãn nở đó làm tăng áp lực trong các hang, các hang này sẽ đè và ép lên các tĩnh mạch để máu ở dương vật không thể thoát ra ngoài.
Từ năm 1991, thuốc Sildenafil cung cấp chất NO được đem ra thử nghiệm. và đến năm 1998, nó được Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ chấp thuận cho lưu hành.
Ngoài phát hiện về cơ chế gây cương dương, y học hiện đại còn có nhiều nghiên cứu khác về bệnh bất lực. Về nguyên nhân gây bệnh, giáo sư Stief CG, một nhà niệu khoa người Đức, cho là có 2 nhóm chính: nhóm có nguồn gốc từ bệnh tật thể chất và nhóm có nguồn gốc tâm lý. Có những người có “nguyên nhân hỗn hợp”, nghĩa là có cả 2 yếu tố trên.
Một cuộc khảo sát ở Canada về việc chữa trị bệnh liệt dương cho thấy, 60% đàn ông hài lòng với một loạt cách thức chữa bệnh hiện nay, và mong muốn có một phương pháp tốt hơn cho phép vợ chồng cùng hưởng sự tự nhiên trong đời sống tình dục. Bác sĩ Jack Barkin, Trưởng ban niệu học của Bệnh viện Humber River (Canada), nói: “Một trong những lời than phiền thông thường nhất của bệnh nhân là để có thể cương cứng, họ phải lập kế hoạch thật kỹ lưỡng. Trong trường hợp đột xuất, việc lập kế hoạch này không chỉ là điều bất tiện mà còn có thể triệt tiêu tâm trạng và sự ham muốn".
Một khảo sát được tiến hành với 1.200 đàn ông uống Sildenafil (được chọn ngẫu nhiên) và 501 đối tác nữ của họ cho thấy, mặc dù đạt được mức độ hài lòng nhất định, họ vẫn mong muốn có những giải pháp chữa trị khác. Phần lớn trong số họ chú trọng đến khả năng chữa trị cho phép có đời sống tình dục tự nhiên
Trong quá khứ, các phương pháp chữa trị bệnh liệt dương chỉ gồm: ống bơm, cấy ghép phẫu thuật, thuốc tiêm và thuốc nhét vào ống dẫn nước tiểu. Vào cuối thập niên 90, thuốc uống đầu tiên đã được giới thiệu, đó là Sildenafil; hiện nay nó vẫn là loại thuốc uống trị bệnh liệt dương duy nhất được sử dụng tại Canada.
Hiện tại, bệnh liệt dương có 5 cách điều trị: Dùng thuốc uống; tiêm thuốc vào thể hang dương vật; dùng dụng cụ bơm chân không; lắp đặt dương vật giả và phẫu thuật mạch máu dương vật. Tâm lý liệu pháp luôn luôn được dùng kèm theo các phương pháp điều trị này.
Hiện nay trên thị trường dược phẩm điều trị bệnh liệt dương có ít nhất 10 loại thuốc đã được nghiên cứu, theo dõi và đánh giá theo các trình tự khoa học có thể tin cậy. Số còn lại (có đến hàng ngàn hàng vạn loại khác từ dược thảo, tinh chất, côn trùng, sinh vật...) được điều chế theo kiểu gia truyền mà công thức pha chế hoàn toàn được giữ bí mật.
BS Hồ Đắc Duy, Sức Khỏe & Đời Sống
Tỏa dương - vị thuốc cho nam giới
Thứ sáu, 08 Tháng mười 2004, 11:29 GMT+7
Tags: vị thuốc, bổ thận, nam giới, đau lưng, mỏi gối, di tinh, dương, tỏa, đất, Hoa
Vị thuốc này còn có tên là củ gió đất, củ ngọn núi, hoa đất, thường ký sinh trên rễ những cây gỗ lớn trong rừng sâu ẩm thấp... Tỏa dương được dùng làm thuốc bổ thận, chữa đau lưng mỏi gối, di tinh, liệt dương; hoặc điều trị chứng mệt mỏi kém ăn, nhức mỏi chân tay.
Tỏa dương có hình thù như một cây nấm, màu đỏ nâu sẫm, cấu tạo bởi một cán hoa lớn, trên mang hoa dày đặc, có mo bao bọc, màu tím, mùi hôi. Nó vị ngọt, tính ôn, không độc, có tác dụng bổ thận, tráng dương, đại bổ nguyên khí, ích tinh huyết, nhuận tràng, thông tiện. Mỗi ngày dùng 8-12 g dưới dạng thuốc sắc.
Một số bài thuốc có vị tỏa dương:
- Hoạt tinh, di tinh, sinh lý yếu, mệt mỏi: Tỏa dương 120 g, tang phiêu tiêu 12 0g, long cốt 40 g, bạch phục linh 40 g. Tất cả tán mịn, hoàn to bằng hạt ngô, mỗi lần uống 15-20 g với nước muối loãng. Ngày uống hai lần.
- Tỏa dương hoàn: Tỏa dương, hoàng bá, quy bản, hoàng cầm, đỗ trọng, ngưu tất, tri mẫu mỗi thứ 16 g, địa hoàng, đương quy mỗi thứ 10 g, phá cố chỉ, tục đoạn mỗi thứ 8 g. Tán bột mịn, trộn đều với rượu và hồ hoàn viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20 g. Thuốc có tác dụng bổ thận, nhuận trường, thông tiện; chữa các chứng đau lưng mỏi gối, các khớp đau nhức, đại tiện khô táo kết gây đau bụng, các bệnh xương khớp.
BS Trần Văn Bản, Sức Khỏe & Đời Sống
Levitra - thuốc chữa rối loạn cương dương
Levitra - thuốc chữa rối loạn cương dương
Thứ ba, 23 Tháng mười một 2004, 10:40 GMT+7
Tags: Bộ Y, Việt Đức, Bệnh viện Hữu nghị, có tác dụng, yếu sinh lý, rối loạn, dương vật, điều trị, sử dụng, nam giới, làm tăng, thuốc, Viagra, dùng, chữa
Levitra.
Levitra được xem là một đối thủ đáng gờm của Viagra và Cialis trong điều trị yếu sinh lý ở nam giới. Thuốc đang được Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thực nghiệm lâm sàng theo chỉ đạo của Bộ Y tế.
Sáu năm trước, khi mới được tung ra thị trường dược phẩm, thuốc cường dương Viagra đã được chào đón nồng nhiệt. Dù mỗi viên Viagra được bán với giá 8-12 USD nhưng thiên hạ vẫn mua ào ào. Theo các nhà phân phối thuốc, trong 5 năm qua, đã có 20 triệu nam giới dùng thuốc này, 600.000 bác sĩ kê toa Viagra cho người bệnh và 130 khảo cứu về Viagra được thực hiện. Nhờ Viagra, giá cổ phiếu của hãng Pfizer không ngừng tăng vọt
Trước số lợi nhuận khổng lồ của Pfizers, các hãng dược phẩm khác cũng đua nhau vào cuộc: Bayer với biệt dược Levitra và hãng Eli Lylli với biệt dược Cialis; chúng được quảng cáo là có tác dụng nhanh hơn Viagra
Thuốc có tác dụng như thế nào?
Khi có ham muốn tình dục hay được kích thích thì dương vật sẽ cương cứng lên nhờ một cơ chế thần kinh - hóa học phức tạp; trong đó chất NO đóng một vai trò rất quan trọng. Dưới sự kích hoạt của men Guanilate cyclase, NO sẽ làm gia tăng chất Guanosine monophosphate vòng (cGMP). Chất này sẽ làm giãn mạch máu ở dương vật, giúp máu được bơm vào các thể hang ngày càng nhiều và làm cho dương vật cương cứng.
Sau khi xuất tinh hoặc vì một lý do nào đó như mắc bệnh liệt dương hay bất lực, nếu dương vật xìu hay không đủ cứng thì đó là do sự xuất hiện men Phosphodiesterase type 5 (PDE5) trong máu. Men này phân hủy chất làm giãn mạch cGMP, khiến các mạch máu co lại và dương vật mềm ra. Thuốc Viagra, Cialis hay Levitra có tác dụng ức chế hoặc làm mất đi tạm thời tác dụng của PDE5, giúp dương vật giữ được máu và cương cứng.
Thời gian tối đa kể từ lúc uống cho đến khi nồng độ Levitra lên cao nhất trong máu và phát huy tác dụng là khoảng 1 giờ, bằng thời gian của Viagra. Thuốc có tác dụng trong vòng 4-5 giờ. Cùng lượng thuốc nhưng ở người lớn tuổi, nồng độ Levitra trong máu cao hơn. Thuốc biến dưỡng ở gan nên phải thận trọng khi dùng chung với những thuốc cũng biến dưỡng ở gan như Erythromycin, Nizoral, Sporanox, Crixivan, Norvir. Khi đó, cần giảm lượng Levitra, nếu không sẽ có nguy cơ làm tăng nồng độ thuốc trong máu.
Tùy nguyên nhân gây liệt dương, Levitra có hiệu quả điều trị trong 50-80% các trường hợp. Thuốc được sản xuất với các liều: 2,5 mg, 5 mg, 10 mg và 20 mg. Nó thường được bắt đầu sử dụng với liều 10 mg, uống 1 tiếng trước khi giao hợp, mỗi ngày chỉ được sử dụng 1 lần, người trên 65 tuổi hoặc có bệnh gan nên thận trọng dùng thử với liều thấp 2,5 mg.
Cũng giống như khi sử dụng Viagra, một số người dùng Levitra có các biểu hiện nhức đầu, đỏ mặt, nghẹt mũi, đầy hơi, khó tiêu. Các phản ứng này sẽ giảm dần khi dùng lâu. Những bất thường về thị giác có thể xuất hiện khi sử dụng Viagra nhưng không gặp ở Levitra.
Không nên dùng chung Levitra với các thuốc chữa rối loạn nhịp như Quinidine, Procainamide, Amiodarone, Sotalol...
Tương tự Viagra, Levitra làm tăng tác dụng hạ thấp áp huyết của chất nitrates (dùng chữa chứng đau ngực do bệnh hẹp tắc động mạch tim). Do đó, những bệnh nhân dùng thuốc nitrates dưới bất cứ dạng nào (ngậm dưới lưỡi như thuốc Nitroglycerin, uống như thuốc Risordan, Imdur; Dán ngoài da như Transderm-NTG, Nitrodisc...) đều không được dùng Levitra và Viagra.
Levitra làm tăng tác dụng hạ áp huyết của các thuốc Cardura, Hytrin (dùng chữa bệnh to nhiếp hộ tuyến, bệnh cao huyết áp). Do đó những bệnh nhân đang uống Cardura, Hytrin không nên dùng Levitra. Cả Levitra lẫn Viagra đều có thể làm tăng tác dụng hạ áp huyết của các thuốc chữa cao áp huyết khác, vì thế nên thận trọng khi sử dụng.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Levitra - thuốc chữa bất lực mới ở Việt Nam
Thứ năm, 13 Tháng một 2005, 19:01 GMT+7
Tags: Việt Nam, Bệnh viện Việt Đức, có tác dụng, bộ y tế, rối loạn, bất lực, điều trị, thử nghiệm, cho thấy, bệnh nhân, thuốc, mới, cương
Bộ Y tế mới cấp phép lưu hành cho thuốc điều trị rối loạn cương dương Levitra - sản phẩm của hãng Bayer (Đức). Thử nghiệm tại Đơn vị Nam khoa Bệnh viện Việt Đức cho thấy, thuốc có tác dụng trên 90% số bệnh nhân.
Levitra là một loại thuốc kê đơn. Hoạt chất vardenatil trong thuốc có tác dụng ức chế tạm thời PDE5 (một chất gây co mạch dương vật dẫn đến khó cương cứng), nhờ đó phục hồi khả năng giao hợp. Tiến sĩ Trần Quán Anh, Tổng thư ký Hội Tiết niệu và Thận học Việt Nam, cho biết, thuốc đã được thử nghiệm trên các bệnh nhân rối loạn cương ở Bệnh viện Việt Đức và hơn 76% có kết quả tốt, 14% kết quả trung bình, chỉ 10% thất bại. Thuốc có tác dụng chỉ sau 15-30 phút, thời gian duy trì hiệu lực là khoảng 8 giờ.
Các thử nghiệm ở nước ngoài cho thấy Levitra có hiệu quả với gần 2/3 số bệnh nhân đã thất bại khi dùng Viagra. Những người bị bất lực do tiểu đường (rất khó điều trị) cũng có tỷ lệ thành công tương tự khi dùng loại thuốc mới này.
Các tác dụng phụ có thể xảy ra khi dùng Levitra là nhức đầu, đỏ mặt, chảy nước mũi, khó tiêu... nhưng chúng thường biến mất sau vài giờ. Levitra được khuyến cáo không sử dụng cho những bệnh nhân đang dùng thuốc có Nitrate để điều trị chứng đau thắt ngực vì sự kết hợp của 2 loại thuốc có thể gây hạ huyết áp. Tuy nhiên, những bệnh nhân suy gan, suy thận nhẹ, người già cao huyết áp và có bệnh tim mạch vẫn có thể dùng Levitra vì thuốc không làm thay đổi huyết áp cũng như nhịp tim của họ ngay cả ở thời điểm "cao trào".
Theo giáo sư Quán, Levitra đem lại cơ hội cho những người đang đau khổ vì chứng rối loạn cương (chiếm tới 16% nam giới Việt Nam). Tuy nhiên, không nên cho rằng nó là thuốc kích dục vì nó không hề có khả năng làm tăng ham muốn. Khi bạn đã "rung động" nhưng không "hành sự" được do không đủ cứng cáp, thuốc sẽ hỗ trợ bạn. Còn nếu bạn vô cảm thì Levitra, hay Viagra và Cialis cũng không thể giúp được gì. Ngoài ra, theo giáo sư Quán, các loại thuốc này cũng không chữa khỏi hẳn chứng rối loạn cương vì tác dụng gây cương của chúng chỉ là tạm thời.
Thanh Nhàn
Thứ ba, 23 Tháng mười một 2004, 10:40 GMT+7
Tags: Bộ Y, Việt Đức, Bệnh viện Hữu nghị, có tác dụng, yếu sinh lý, rối loạn, dương vật, điều trị, sử dụng, nam giới, làm tăng, thuốc, Viagra, dùng, chữa
Levitra.
Levitra được xem là một đối thủ đáng gờm của Viagra và Cialis trong điều trị yếu sinh lý ở nam giới. Thuốc đang được Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thực nghiệm lâm sàng theo chỉ đạo của Bộ Y tế.
Sáu năm trước, khi mới được tung ra thị trường dược phẩm, thuốc cường dương Viagra đã được chào đón nồng nhiệt. Dù mỗi viên Viagra được bán với giá 8-12 USD nhưng thiên hạ vẫn mua ào ào. Theo các nhà phân phối thuốc, trong 5 năm qua, đã có 20 triệu nam giới dùng thuốc này, 600.000 bác sĩ kê toa Viagra cho người bệnh và 130 khảo cứu về Viagra được thực hiện. Nhờ Viagra, giá cổ phiếu của hãng Pfizer không ngừng tăng vọt
Trước số lợi nhuận khổng lồ của Pfizers, các hãng dược phẩm khác cũng đua nhau vào cuộc: Bayer với biệt dược Levitra và hãng Eli Lylli với biệt dược Cialis; chúng được quảng cáo là có tác dụng nhanh hơn Viagra
Thuốc có tác dụng như thế nào?
Khi có ham muốn tình dục hay được kích thích thì dương vật sẽ cương cứng lên nhờ một cơ chế thần kinh - hóa học phức tạp; trong đó chất NO đóng một vai trò rất quan trọng. Dưới sự kích hoạt của men Guanilate cyclase, NO sẽ làm gia tăng chất Guanosine monophosphate vòng (cGMP). Chất này sẽ làm giãn mạch máu ở dương vật, giúp máu được bơm vào các thể hang ngày càng nhiều và làm cho dương vật cương cứng.
Sau khi xuất tinh hoặc vì một lý do nào đó như mắc bệnh liệt dương hay bất lực, nếu dương vật xìu hay không đủ cứng thì đó là do sự xuất hiện men Phosphodiesterase type 5 (PDE5) trong máu. Men này phân hủy chất làm giãn mạch cGMP, khiến các mạch máu co lại và dương vật mềm ra. Thuốc Viagra, Cialis hay Levitra có tác dụng ức chế hoặc làm mất đi tạm thời tác dụng của PDE5, giúp dương vật giữ được máu và cương cứng.
Thời gian tối đa kể từ lúc uống cho đến khi nồng độ Levitra lên cao nhất trong máu và phát huy tác dụng là khoảng 1 giờ, bằng thời gian của Viagra. Thuốc có tác dụng trong vòng 4-5 giờ. Cùng lượng thuốc nhưng ở người lớn tuổi, nồng độ Levitra trong máu cao hơn. Thuốc biến dưỡng ở gan nên phải thận trọng khi dùng chung với những thuốc cũng biến dưỡng ở gan như Erythromycin, Nizoral, Sporanox, Crixivan, Norvir. Khi đó, cần giảm lượng Levitra, nếu không sẽ có nguy cơ làm tăng nồng độ thuốc trong máu.
Tùy nguyên nhân gây liệt dương, Levitra có hiệu quả điều trị trong 50-80% các trường hợp. Thuốc được sản xuất với các liều: 2,5 mg, 5 mg, 10 mg và 20 mg. Nó thường được bắt đầu sử dụng với liều 10 mg, uống 1 tiếng trước khi giao hợp, mỗi ngày chỉ được sử dụng 1 lần, người trên 65 tuổi hoặc có bệnh gan nên thận trọng dùng thử với liều thấp 2,5 mg.
Cũng giống như khi sử dụng Viagra, một số người dùng Levitra có các biểu hiện nhức đầu, đỏ mặt, nghẹt mũi, đầy hơi, khó tiêu. Các phản ứng này sẽ giảm dần khi dùng lâu. Những bất thường về thị giác có thể xuất hiện khi sử dụng Viagra nhưng không gặp ở Levitra.
Không nên dùng chung Levitra với các thuốc chữa rối loạn nhịp như Quinidine, Procainamide, Amiodarone, Sotalol...
Tương tự Viagra, Levitra làm tăng tác dụng hạ thấp áp huyết của chất nitrates (dùng chữa chứng đau ngực do bệnh hẹp tắc động mạch tim). Do đó, những bệnh nhân dùng thuốc nitrates dưới bất cứ dạng nào (ngậm dưới lưỡi như thuốc Nitroglycerin, uống như thuốc Risordan, Imdur; Dán ngoài da như Transderm-NTG, Nitrodisc...) đều không được dùng Levitra và Viagra.
Levitra làm tăng tác dụng hạ áp huyết của các thuốc Cardura, Hytrin (dùng chữa bệnh to nhiếp hộ tuyến, bệnh cao huyết áp). Do đó những bệnh nhân đang uống Cardura, Hytrin không nên dùng Levitra. Cả Levitra lẫn Viagra đều có thể làm tăng tác dụng hạ áp huyết của các thuốc chữa cao áp huyết khác, vì thế nên thận trọng khi sử dụng.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Levitra - thuốc chữa bất lực mới ở Việt Nam
Thứ năm, 13 Tháng một 2005, 19:01 GMT+7
Tags: Việt Nam, Bệnh viện Việt Đức, có tác dụng, bộ y tế, rối loạn, bất lực, điều trị, thử nghiệm, cho thấy, bệnh nhân, thuốc, mới, cương
Bộ Y tế mới cấp phép lưu hành cho thuốc điều trị rối loạn cương dương Levitra - sản phẩm của hãng Bayer (Đức). Thử nghiệm tại Đơn vị Nam khoa Bệnh viện Việt Đức cho thấy, thuốc có tác dụng trên 90% số bệnh nhân.
Levitra là một loại thuốc kê đơn. Hoạt chất vardenatil trong thuốc có tác dụng ức chế tạm thời PDE5 (một chất gây co mạch dương vật dẫn đến khó cương cứng), nhờ đó phục hồi khả năng giao hợp. Tiến sĩ Trần Quán Anh, Tổng thư ký Hội Tiết niệu và Thận học Việt Nam, cho biết, thuốc đã được thử nghiệm trên các bệnh nhân rối loạn cương ở Bệnh viện Việt Đức và hơn 76% có kết quả tốt, 14% kết quả trung bình, chỉ 10% thất bại. Thuốc có tác dụng chỉ sau 15-30 phút, thời gian duy trì hiệu lực là khoảng 8 giờ.
Các thử nghiệm ở nước ngoài cho thấy Levitra có hiệu quả với gần 2/3 số bệnh nhân đã thất bại khi dùng Viagra. Những người bị bất lực do tiểu đường (rất khó điều trị) cũng có tỷ lệ thành công tương tự khi dùng loại thuốc mới này.
Các tác dụng phụ có thể xảy ra khi dùng Levitra là nhức đầu, đỏ mặt, chảy nước mũi, khó tiêu... nhưng chúng thường biến mất sau vài giờ. Levitra được khuyến cáo không sử dụng cho những bệnh nhân đang dùng thuốc có Nitrate để điều trị chứng đau thắt ngực vì sự kết hợp của 2 loại thuốc có thể gây hạ huyết áp. Tuy nhiên, những bệnh nhân suy gan, suy thận nhẹ, người già cao huyết áp và có bệnh tim mạch vẫn có thể dùng Levitra vì thuốc không làm thay đổi huyết áp cũng như nhịp tim của họ ngay cả ở thời điểm "cao trào".
Theo giáo sư Quán, Levitra đem lại cơ hội cho những người đang đau khổ vì chứng rối loạn cương (chiếm tới 16% nam giới Việt Nam). Tuy nhiên, không nên cho rằng nó là thuốc kích dục vì nó không hề có khả năng làm tăng ham muốn. Khi bạn đã "rung động" nhưng không "hành sự" được do không đủ cứng cáp, thuốc sẽ hỗ trợ bạn. Còn nếu bạn vô cảm thì Levitra, hay Viagra và Cialis cũng không thể giúp được gì. Ngoài ra, theo giáo sư Quán, các loại thuốc này cũng không chữa khỏi hẳn chứng rối loạn cương vì tác dụng gây cương của chúng chỉ là tạm thời.
Thanh Nhàn
Viagra có thể chống suy tim
Viagra có thể chống suy tim
Thứ ba, 25 Tháng một 2005, 11:34 GMT+7
Tags: nhà nghiên cứu, có thể là, suy tim, điều trị, đàn ông, bệnh nhân, Viagra, chống, thuốc, thấy, tìm
Viên thần dược chống bất lực của cánh đàn ông lại có thể là một công cụ điều trị tốt cho những bệnh nhân suy tim, các nhà nghiên cứu Mỹ cho biết.
Nhóm nghiên cứu tại Đại học Johns Hopkins tìm thấy loại thuốc này có thể chữa chứng to tim ở chuột - một dạng phổ biến của suy tim.
Các bác sĩ chuyên khoa tim cho rằng hoàn toàn có thể hiểu được vì sao nó có tác dụng như vậy. Viagra ban đầu được sản xuất như một loại thuốc dành cho tim, về sau các nhà khoa học mới phát hiện ra nó có hiệu ứng đối với dòng máu chảy tới dương vật. Thuốc hoạt động bằng cách làm phình mạch máu để tăng cường dòng huyết mạch. Đã từng có mối lo về việc liệu nó có an toàn với những đàn ông bệnh tim đang điều trị loại thuốc tương tự. Các bác sĩ đã được yêu cầu không kê đơn Viagra cùng với những thuốc loại này, gọi là nitrate.
Nhưng nay tiến sĩ David Kass và cộng sự đã tìm thấy Viagra an toàn với bệnh nhân tim. Trong nghiên cứu của mình, họ đã tìm hiểu tác dụng của Viagra lên chuột bị to tim. Ở người, nó xảy ra cùng với huyết áp cao, khiến cho thành cơ tim bị dày lên và tim có thể ngừng đập. Kết quả cho thấy chuột dùng Viagra có tim nhỏ hơn cho dù bị huyết áp cao so với những con không dùng thuốc. Trong thí nghiệm thứ 2, Viagra được tìm thấy là làm giảm sự trương tim ở chuột đã bị suy tim. Ông Kass nhận định: "Nghiên cứu này cho thấy Viagra có thể điều trị chứng to tim".
Họ dự định tìm hiểu tác dụng trên người và tin rằng nó có thể dẫn tới biện pháp điều trị bệnh tim. Hiệp hội bệnh tim Anh cho rằng cần thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ lợi ích tiềm ẩn của Viagra.
M.T. (theo BBC)
Thứ ba, 25 Tháng một 2005, 11:34 GMT+7
Tags: nhà nghiên cứu, có thể là, suy tim, điều trị, đàn ông, bệnh nhân, Viagra, chống, thuốc, thấy, tìm
Viên thần dược chống bất lực của cánh đàn ông lại có thể là một công cụ điều trị tốt cho những bệnh nhân suy tim, các nhà nghiên cứu Mỹ cho biết.
Nhóm nghiên cứu tại Đại học Johns Hopkins tìm thấy loại thuốc này có thể chữa chứng to tim ở chuột - một dạng phổ biến của suy tim.
Các bác sĩ chuyên khoa tim cho rằng hoàn toàn có thể hiểu được vì sao nó có tác dụng như vậy. Viagra ban đầu được sản xuất như một loại thuốc dành cho tim, về sau các nhà khoa học mới phát hiện ra nó có hiệu ứng đối với dòng máu chảy tới dương vật. Thuốc hoạt động bằng cách làm phình mạch máu để tăng cường dòng huyết mạch. Đã từng có mối lo về việc liệu nó có an toàn với những đàn ông bệnh tim đang điều trị loại thuốc tương tự. Các bác sĩ đã được yêu cầu không kê đơn Viagra cùng với những thuốc loại này, gọi là nitrate.
Nhưng nay tiến sĩ David Kass và cộng sự đã tìm thấy Viagra an toàn với bệnh nhân tim. Trong nghiên cứu của mình, họ đã tìm hiểu tác dụng của Viagra lên chuột bị to tim. Ở người, nó xảy ra cùng với huyết áp cao, khiến cho thành cơ tim bị dày lên và tim có thể ngừng đập. Kết quả cho thấy chuột dùng Viagra có tim nhỏ hơn cho dù bị huyết áp cao so với những con không dùng thuốc. Trong thí nghiệm thứ 2, Viagra được tìm thấy là làm giảm sự trương tim ở chuột đã bị suy tim. Ông Kass nhận định: "Nghiên cứu này cho thấy Viagra có thể điều trị chứng to tim".
Họ dự định tìm hiểu tác dụng trên người và tin rằng nó có thể dẫn tới biện pháp điều trị bệnh tim. Hiệp hội bệnh tim Anh cho rằng cần thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ lợi ích tiềm ẩn của Viagra.
M.T. (theo BBC)
Tập luyện chữa liệt dương
Tập luyện chữa liệt dương
Nếu chỉ ỷ lại vào thuốc mà không có những biện pháp tập luyện kiên trì thì không bao giờ các quý ông "yếu đuối" có thể khôi phục đáng kể "sức mạnh nam tính" của mình. Bài tập dưới đây đã chứng tỏ một kết quả tốt trên nhiều bệnh nhân.
Bước 1: Trước tiên, ngồi trên ghế cứng hoặc đứng, nhắm mắt trong 2-3 giây để ổn định tư tưởng, từ từ thót bụng lại để đẩy không khí trong phổi ra tối đa rồi lại từ từ hít vào cho đến khi bụng phình ra hết cỡ thì thôi, nín thở trong giây lát rồi từ từ lặp lại chu trình ban đầu. Làm như vậy khoảng 10 lần.
Bước 2: Tập trung tinh thần, khe khẽ nhắm mắt rồi thót hậu môn lại, giữ càng lâu càng tốt, làm đi làm lại như vậy trong 3 phút.
Bước 3: Dùng bàn tay xoa sát bụng dưới theo chiều kim đồng hồ chừng 3 phút sao cho nóng lên là đạt yêu cầu.
Bước 4: Nắm chặt tinh hoàn và bìu, sau đó bỏ ra rồi lại làm tiếp chừng 5-6 lần nhằm mục đích kích thích tăng nội tiết tố sinh dục và tăng cường khoái cảm tình dục.
Bước 5: Dùng một tay kéo bìu lên phía trên, tay kia xoa xát phía dưới sao cho nóng lên là đạt yêu cầu, mục đích là để làm tăng lưu lượng máu đến "cậu nhỏ".
Bước 6: Nắm phần giữa của "cậu nhỏ", rung rinh đầu để kích thích cho các huyết quản giãn ra, khiến cho lượng máu lưu thông tăng lên.
Bước 7: Nắm chắc "cậu nhỏ" và làm cương lên chừng 5 giây rồi lại thả lỏng, làm như vậy 5-6 lần, nhằm mục đích tăng cương lượng máu đến, làm tăng tốc độ lưu thông và cải thiện chức năng thể xốp của "cậu ta".
Bước 8: Nén "cậu nhỏ" bằng đầu ngón tay sau 2 giây rồi đột nhiên bỏ ra, làm chừng 5-6 lần nhằm mục đích tăng cường tính đàn hồi của các dây chằng ở gốc.
Bước 9: Dùng hai bàn tay xoa xát bên trong đùi sao cho nóng lên là đạt yêu cầu, mỗi bên chừng 20 lần. Dùng cả hai bàn tay xát dọc hai bên cột sống thắt lưng sao cho nóng lên. Dùng bàn tay xát mạnh vùng dương cụt chừng 50 lần.
Bước 10: Day bấm một số huyệt vị châm cứu như: Huyệt Quan nguyên nằm ở điểm nối 3/5 trên và 2/5 dưới của đoạn nối rốn và bờ trên xương mu; huyệt Trung cực nằm ở điểm nối 4/5 trên và 1/5 dưới của đoạn nối rốn và bờ trên xương mu; huyệt Tam âm giao nằm ở ngay bờ sau xương chày phía trên mắt cá trong 4 khoát ngón tay. Mỗi huyệt day chừng 1 phút sao cho đạt cảm giác tê tức là được.
Bước 11: Xát hai bàn tay vào nhau cho thật nóng rồi một tay nắm lấy bìu, một tau xoa bụng dưới, ít nhất từ 100-200 lần. Khi xoa bóp thì hít khí xuống dưới co các cơ hậu môn lên, trong đầu tưởng tượng có một nguồn năng lượng xuất phát từ cột sống lan dần lên đầu rồi đi xuống vùng bụng dưới. Cũng có thể dùng phương pháp như trên nhưng một tay xoa bụng dưới, một tay đặt vào đùi tiếp giáp bộ phận sinh dục.
Lưu ý:
- Mỗi khi đi tiểu tiện, nên kiễng chân, đứng nhón trên các đầu nhón chân nhằm tăng cường công năng của tạng thận theo quan niệm của y học cổ truyền. Có thể thay thế động tác này bằng phương pháp ngồi trên một chiếc ghế không có chỗ tựa hoặc chiếc ghế băng, hai đầu gối để song song, hai tay đặt lên đầu gối, ngửa người ra sau một góc chừng 45 độ, sau đó lai trở về vị trí ban đầu. Làm như vậy nhiều lần, mỗi ngày ít nhất 10 lần để giúp cho cơ bụng gia tăng sức chịu đựng và thúc đẩy năng lực tình dục cơ thể.
- Nếu có điều kiện nên thực hiện liệu pháp tắm ngâm trong bồn nước nóng hàng ngày. Trong khi tắm, dùng tay kích thích "cậu nhỏ", khi đạt đến kích thích mạnh cực điểm thỉ hai tay bóp lấy tinh hoàn rồi lại thả ra, cứ như vậy có thể kích thích tăng tiết nội tố sinh dục nam, góp phần cải thiện tình trạng bệnh lý.
- Vấn đề quan trọng cuối cùng là: phải thực hiện liệu trình tập luyện và xoa bóp như trên một cách đều đặn và kiên trì. Có thể dùng thuốc kết hợp và chú ý không được để cơ thể lâm vào tình trạng mệt mỏi quá độ. Hàng tuần, vẫn nên sinh hoạt vợ chống điều độ 1-2 lần. Người vợ phải hết sức thông cảm, động viên và tạo điều kiện cho chồng thực hiện quy trình điều trị.
(Theo Thể Thao Văn Hóa và Đàn Ông)
Nếu chỉ ỷ lại vào thuốc mà không có những biện pháp tập luyện kiên trì thì không bao giờ các quý ông "yếu đuối" có thể khôi phục đáng kể "sức mạnh nam tính" của mình. Bài tập dưới đây đã chứng tỏ một kết quả tốt trên nhiều bệnh nhân.
Bước 1: Trước tiên, ngồi trên ghế cứng hoặc đứng, nhắm mắt trong 2-3 giây để ổn định tư tưởng, từ từ thót bụng lại để đẩy không khí trong phổi ra tối đa rồi lại từ từ hít vào cho đến khi bụng phình ra hết cỡ thì thôi, nín thở trong giây lát rồi từ từ lặp lại chu trình ban đầu. Làm như vậy khoảng 10 lần.
Bước 2: Tập trung tinh thần, khe khẽ nhắm mắt rồi thót hậu môn lại, giữ càng lâu càng tốt, làm đi làm lại như vậy trong 3 phút.
Bước 3: Dùng bàn tay xoa sát bụng dưới theo chiều kim đồng hồ chừng 3 phút sao cho nóng lên là đạt yêu cầu.
Bước 4: Nắm chặt tinh hoàn và bìu, sau đó bỏ ra rồi lại làm tiếp chừng 5-6 lần nhằm mục đích kích thích tăng nội tiết tố sinh dục và tăng cường khoái cảm tình dục.
Bước 5: Dùng một tay kéo bìu lên phía trên, tay kia xoa xát phía dưới sao cho nóng lên là đạt yêu cầu, mục đích là để làm tăng lưu lượng máu đến "cậu nhỏ".
Bước 6: Nắm phần giữa của "cậu nhỏ", rung rinh đầu để kích thích cho các huyết quản giãn ra, khiến cho lượng máu lưu thông tăng lên.
Bước 7: Nắm chắc "cậu nhỏ" và làm cương lên chừng 5 giây rồi lại thả lỏng, làm như vậy 5-6 lần, nhằm mục đích tăng cương lượng máu đến, làm tăng tốc độ lưu thông và cải thiện chức năng thể xốp của "cậu ta".
Bước 8: Nén "cậu nhỏ" bằng đầu ngón tay sau 2 giây rồi đột nhiên bỏ ra, làm chừng 5-6 lần nhằm mục đích tăng cường tính đàn hồi của các dây chằng ở gốc.
Bước 9: Dùng hai bàn tay xoa xát bên trong đùi sao cho nóng lên là đạt yêu cầu, mỗi bên chừng 20 lần. Dùng cả hai bàn tay xát dọc hai bên cột sống thắt lưng sao cho nóng lên. Dùng bàn tay xát mạnh vùng dương cụt chừng 50 lần.
Bước 10: Day bấm một số huyệt vị châm cứu như: Huyệt Quan nguyên nằm ở điểm nối 3/5 trên và 2/5 dưới của đoạn nối rốn và bờ trên xương mu; huyệt Trung cực nằm ở điểm nối 4/5 trên và 1/5 dưới của đoạn nối rốn và bờ trên xương mu; huyệt Tam âm giao nằm ở ngay bờ sau xương chày phía trên mắt cá trong 4 khoát ngón tay. Mỗi huyệt day chừng 1 phút sao cho đạt cảm giác tê tức là được.
Bước 11: Xát hai bàn tay vào nhau cho thật nóng rồi một tay nắm lấy bìu, một tau xoa bụng dưới, ít nhất từ 100-200 lần. Khi xoa bóp thì hít khí xuống dưới co các cơ hậu môn lên, trong đầu tưởng tượng có một nguồn năng lượng xuất phát từ cột sống lan dần lên đầu rồi đi xuống vùng bụng dưới. Cũng có thể dùng phương pháp như trên nhưng một tay xoa bụng dưới, một tay đặt vào đùi tiếp giáp bộ phận sinh dục.
Lưu ý:
- Mỗi khi đi tiểu tiện, nên kiễng chân, đứng nhón trên các đầu nhón chân nhằm tăng cường công năng của tạng thận theo quan niệm của y học cổ truyền. Có thể thay thế động tác này bằng phương pháp ngồi trên một chiếc ghế không có chỗ tựa hoặc chiếc ghế băng, hai đầu gối để song song, hai tay đặt lên đầu gối, ngửa người ra sau một góc chừng 45 độ, sau đó lai trở về vị trí ban đầu. Làm như vậy nhiều lần, mỗi ngày ít nhất 10 lần để giúp cho cơ bụng gia tăng sức chịu đựng và thúc đẩy năng lực tình dục cơ thể.
- Nếu có điều kiện nên thực hiện liệu pháp tắm ngâm trong bồn nước nóng hàng ngày. Trong khi tắm, dùng tay kích thích "cậu nhỏ", khi đạt đến kích thích mạnh cực điểm thỉ hai tay bóp lấy tinh hoàn rồi lại thả ra, cứ như vậy có thể kích thích tăng tiết nội tố sinh dục nam, góp phần cải thiện tình trạng bệnh lý.
- Vấn đề quan trọng cuối cùng là: phải thực hiện liệu trình tập luyện và xoa bóp như trên một cách đều đặn và kiên trì. Có thể dùng thuốc kết hợp và chú ý không được để cơ thể lâm vào tình trạng mệt mỏi quá độ. Hàng tuần, vẫn nên sinh hoạt vợ chống điều độ 1-2 lần. Người vợ phải hết sức thông cảm, động viên và tạo điều kiện cho chồng thực hiện quy trình điều trị.
(Theo Thể Thao Văn Hóa và Đàn Ông)
Câu chuyện về vị vua và hai bức tranh !
Câu chuyện về vị vua và hai bức tranh !
Sunday, 23. September 2007, 07:58:26
Ngụ ngôn
Sự bình an
Một vị vua ở vương quốc nọ đưa ra một giải thưởng lớn cho người họa sĩ nào có thể vẽ được bức tranh diễn tả về sự bình an hoàn thiện nhất. Rất nhiều họa sĩ đã dự thi. Nhà vua đã ngắm nhìn tất cả các bức tranh do những họa sĩ dự thi vẽ, nhưng chỉ có duy nhất hai bức tranh ngài thật sự thích, và nhà vua phải chọn một trong hai bức tranh đó để trao giải thưởng.
Bức tranh thứ nhất là cảnh hồ nước êm đềm. Mặt hồ phẳng lặng như gương với những ngọn núi cao chót vót bao xung quanh hồ nước, soi bóng xuống mặt hồ bình lặng. Phía trên là bầu trời xanh thẳm với những đám mấy trắng bồng bềnh.
Những người được ngắm bức tranh này đều cho rằng đó là bức tranh hoàn hảo nhất. Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi cao chót vót, nhưng lại trơ trọi và lởm chởm. Phía trên là bầu trời xám xịt và mưa như trút nước. Bên sườn núi là thác nước chảy ào ạt, bọt tung trắng xóa. Bức tranh không có vẻ gì đang miêu tả sự thanh bình.
Nhưng khi nhà vua nhìn vào bức tranh, ngài thấy một bụi cây nhỏ đang lớn lên giữa khe đá phía sau thác nước. Trong bụi cây đó, con chim mẹ đang làm tổ. Và ở đó, giữa lúc dòng thác đổ ào ạt đầy giận dữ, con chim mẹ vẫn ngồi ấp trứng trong chiếc tổ của mình.
Nhà vua đã chọn bức tranh thứ hai là bức tranh đoạt giải thưởng và ngài đã giải thích cho mọi người hiểu rằng “sự bình an không có nghĩa là một cuộc sống không có sự ồn ào, lo lắng hay công việc nặng nhọc. Bình an có nghĩa là dù sống giữa tất cả những điều đó nhưng ta vẫn giữa được một tâm hồn bình lặng cho chính mình.”
Đó mới là ý nghĩa thật sự của sự bình an.
Sunday, 23. September 2007, 07:58:26
Ngụ ngôn
Sự bình an
Một vị vua ở vương quốc nọ đưa ra một giải thưởng lớn cho người họa sĩ nào có thể vẽ được bức tranh diễn tả về sự bình an hoàn thiện nhất. Rất nhiều họa sĩ đã dự thi. Nhà vua đã ngắm nhìn tất cả các bức tranh do những họa sĩ dự thi vẽ, nhưng chỉ có duy nhất hai bức tranh ngài thật sự thích, và nhà vua phải chọn một trong hai bức tranh đó để trao giải thưởng.
Bức tranh thứ nhất là cảnh hồ nước êm đềm. Mặt hồ phẳng lặng như gương với những ngọn núi cao chót vót bao xung quanh hồ nước, soi bóng xuống mặt hồ bình lặng. Phía trên là bầu trời xanh thẳm với những đám mấy trắng bồng bềnh.
Những người được ngắm bức tranh này đều cho rằng đó là bức tranh hoàn hảo nhất. Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi cao chót vót, nhưng lại trơ trọi và lởm chởm. Phía trên là bầu trời xám xịt và mưa như trút nước. Bên sườn núi là thác nước chảy ào ạt, bọt tung trắng xóa. Bức tranh không có vẻ gì đang miêu tả sự thanh bình.
Nhưng khi nhà vua nhìn vào bức tranh, ngài thấy một bụi cây nhỏ đang lớn lên giữa khe đá phía sau thác nước. Trong bụi cây đó, con chim mẹ đang làm tổ. Và ở đó, giữa lúc dòng thác đổ ào ạt đầy giận dữ, con chim mẹ vẫn ngồi ấp trứng trong chiếc tổ của mình.
Nhà vua đã chọn bức tranh thứ hai là bức tranh đoạt giải thưởng và ngài đã giải thích cho mọi người hiểu rằng “sự bình an không có nghĩa là một cuộc sống không có sự ồn ào, lo lắng hay công việc nặng nhọc. Bình an có nghĩa là dù sống giữa tất cả những điều đó nhưng ta vẫn giữa được một tâm hồn bình lặng cho chính mình.”
Đó mới là ý nghĩa thật sự của sự bình an.
Những người bạn nên có !
Những người bạn nên có !
Friday, 21. September 2007, 17:56:02
Ngụ ngôn
Bạn thấy những người gần gũi nhất với mình như thế nào? Họ tốt bụng? Hài hước? Dễ đồng cảm? Thân thiện? Họ có thể có một trong những phẩm chất trên nhưng lý do thực sự khiến bạn làm thân với họ là vì họ có được những phẩm chất mà bạn mong mình có. Sau đây là 10 người bạn mà chúng ta cần có trong cuộc sống:
- Một người thầy, người cố vấn. Đây là người cho bạn những lời khuyên.
- Một người nuôi dưỡng - để bạn có thể tin tưởng trông cậy vào người đó.
- Một người bạn đồng minh - người luôn luôn ủng hộ bạn.
- Một người bạn tâm hồn - người luôn có chung quan điểm với bạn.
- Một người bạn đồng nghiệp - bạn có thể trò chuyện thân mật, chia sẻ mọi điều với người đó ở nơi làm việc.
- Một người bạn thuở ấu thơ - giúp bạn nhớ lại một tuổi thơ êm đềm.
- Một người bạn trong cùng một hội - đó là người mà ta thân nhất trong cùng một hội nhóm cùng tham gia, ví dụ như hội yêu thơ, hội cầu lông, hội các nữ doanh nhân.... để vui chơi, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm.
- Bạn đồng cảnh - đó là những người có cùng cảnh ngộ với bạn, ví dụ đang mang thai như bạn, đang có chồng đi vắng dài ngày.... Người ấy sẽ có những cảm giác giống như bạn.
- Một người bạn cùng trong cơn khủng hoảng - người ấy sẽ chia sẻ nỗi đau đớn chung với bạn.
- Người đối lập với bạn - đó là người mà những điểm mạnh của người ấy lại là điểm yếu của bạn. Người đó sẽ giúp bạn khám phá những niềm vui mới trong cuộc sống.
Một người bạn có thể cùng lúc đảm nhiệm vài vai trò nhưng nên nhớ rằng không có một người nào có thể đáp ứng được tất cả mọi mong muốn trên của bạn. Nếu bạn cứ đòi hỏi điều đó thì mối quan hệ của bạn với người đó sẽ rất căng thẳng. Vì vậy, bạn chớ vội đi kiếm tìm những người bạn mới mà bằng cách nào đó chứng tỏ cho những người bạn cũ của bạn thấy bạn đánh giá họ cao như thế nào.
Friday, 21. September 2007, 17:56:02
Ngụ ngôn
Bạn thấy những người gần gũi nhất với mình như thế nào? Họ tốt bụng? Hài hước? Dễ đồng cảm? Thân thiện? Họ có thể có một trong những phẩm chất trên nhưng lý do thực sự khiến bạn làm thân với họ là vì họ có được những phẩm chất mà bạn mong mình có. Sau đây là 10 người bạn mà chúng ta cần có trong cuộc sống:
- Một người thầy, người cố vấn. Đây là người cho bạn những lời khuyên.
- Một người nuôi dưỡng - để bạn có thể tin tưởng trông cậy vào người đó.
- Một người bạn đồng minh - người luôn luôn ủng hộ bạn.
- Một người bạn tâm hồn - người luôn có chung quan điểm với bạn.
- Một người bạn đồng nghiệp - bạn có thể trò chuyện thân mật, chia sẻ mọi điều với người đó ở nơi làm việc.
- Một người bạn thuở ấu thơ - giúp bạn nhớ lại một tuổi thơ êm đềm.
- Một người bạn trong cùng một hội - đó là người mà ta thân nhất trong cùng một hội nhóm cùng tham gia, ví dụ như hội yêu thơ, hội cầu lông, hội các nữ doanh nhân.... để vui chơi, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm.
- Bạn đồng cảnh - đó là những người có cùng cảnh ngộ với bạn, ví dụ đang mang thai như bạn, đang có chồng đi vắng dài ngày.... Người ấy sẽ có những cảm giác giống như bạn.
- Một người bạn cùng trong cơn khủng hoảng - người ấy sẽ chia sẻ nỗi đau đớn chung với bạn.
- Người đối lập với bạn - đó là người mà những điểm mạnh của người ấy lại là điểm yếu của bạn. Người đó sẽ giúp bạn khám phá những niềm vui mới trong cuộc sống.
Một người bạn có thể cùng lúc đảm nhiệm vài vai trò nhưng nên nhớ rằng không có một người nào có thể đáp ứng được tất cả mọi mong muốn trên của bạn. Nếu bạn cứ đòi hỏi điều đó thì mối quan hệ của bạn với người đó sẽ rất căng thẳng. Vì vậy, bạn chớ vội đi kiếm tìm những người bạn mới mà bằng cách nào đó chứng tỏ cho những người bạn cũ của bạn thấy bạn đánh giá họ cao như thế nào.
Thành công và thất bại
Thành công và thất bại
Friday, 21. September 2007, 17:56:20
Ngụ ngôn
Người thành công biết chính xác những gì mình muốn,
tin tưởng vào khả năng của mình và sẵn sàng cống hiến hết thời gian của cuộc đời để đạt được điều đó.
Người thành công có khả năng ảnh hưởng đến những người xung quanh và hợp tác với họ trong thái độ thân thiện.
Người thành công chỉ bày tỏ ý kiến về những điều mình biết và họ hoàn toàn có thể thực hiện
điều đó một cách rất khôn ngoan.
Người thành công dung hoà quan hệ với tất cả mọi người mà không quan tâm đến lợi ích đạt được.
Người thành công luôn trau dồi kiến thức và mở rộng lòng khoan dung.
Họ sống hướng đến quyền lợi chung của cộng đồng.
Người thành công theo kịp thời đại và xem đây là một trách nhiệm quan trọng để biết được điều gì đang diễn ra.
Người thất bại không có mục đích cụ thể cho cuộc sống, luôn tin rằng mọi thành công đều
là kết quả của vận may và chỉ thật sự bắt tay vào việc khi có sự tác động từ bên ngoài.
Người thất bại tìm thấy khuyết điểm của mình ở người khác.
Người thất bại phát biểu ý kiến về mọi vấn đề mà họ chỉ biết chút ít hoặc hoàn toàn không
có một chút kiến thức gì về chúng.
Nguời thất bại chỉ nuôi dưỡng quan hệ với những ai mà từ đó họ sẽ có những thứ mà họ muốn.
Người thất bại có trí tuệ hạn chế, sự vị kỷ chiến thắng lòng vị tha. Vì vậy họ bị tách khỏi những
cơ hội thuận lợi và mối quan hệ thân thiện với xã hội.
Người thất bại chỉ quan tâm đến bản thân với những nhu cầu trước mắt và bất chấp mọi thứ để thực hiện,
không cần biết đó là điều tốt hay xấu.
Không ai trong chúng ta muốn mình là người thất bại. Nhưng mỗi lời nói, mỗi hành động diễn ra từng ngày,
từng giờ là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi người. Vì vậy, chúng ta hãy sống để nâng cao
giá trị bản thân cho một cuộc đời đầy ý nghĩa.
Friday, 21. September 2007, 17:56:20
Ngụ ngôn
Người thành công biết chính xác những gì mình muốn,
tin tưởng vào khả năng của mình và sẵn sàng cống hiến hết thời gian của cuộc đời để đạt được điều đó.
Người thành công có khả năng ảnh hưởng đến những người xung quanh và hợp tác với họ trong thái độ thân thiện.
Người thành công chỉ bày tỏ ý kiến về những điều mình biết và họ hoàn toàn có thể thực hiện
điều đó một cách rất khôn ngoan.
Người thành công dung hoà quan hệ với tất cả mọi người mà không quan tâm đến lợi ích đạt được.
Người thành công luôn trau dồi kiến thức và mở rộng lòng khoan dung.
Họ sống hướng đến quyền lợi chung của cộng đồng.
Người thành công theo kịp thời đại và xem đây là một trách nhiệm quan trọng để biết được điều gì đang diễn ra.
Người thất bại không có mục đích cụ thể cho cuộc sống, luôn tin rằng mọi thành công đều
là kết quả của vận may và chỉ thật sự bắt tay vào việc khi có sự tác động từ bên ngoài.
Người thất bại tìm thấy khuyết điểm của mình ở người khác.
Người thất bại phát biểu ý kiến về mọi vấn đề mà họ chỉ biết chút ít hoặc hoàn toàn không
có một chút kiến thức gì về chúng.
Nguời thất bại chỉ nuôi dưỡng quan hệ với những ai mà từ đó họ sẽ có những thứ mà họ muốn.
Người thất bại có trí tuệ hạn chế, sự vị kỷ chiến thắng lòng vị tha. Vì vậy họ bị tách khỏi những
cơ hội thuận lợi và mối quan hệ thân thiện với xã hội.
Người thất bại chỉ quan tâm đến bản thân với những nhu cầu trước mắt và bất chấp mọi thứ để thực hiện,
không cần biết đó là điều tốt hay xấu.
Không ai trong chúng ta muốn mình là người thất bại. Nhưng mỗi lời nói, mỗi hành động diễn ra từng ngày,
từng giờ là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi người. Vì vậy, chúng ta hãy sống để nâng cao
giá trị bản thân cho một cuộc đời đầy ý nghĩa.
Giàu và nghèo
Giàu và nghèo
Sunday, 23. September 2007, 08:15:10
Ngụ ngôn
Một ngày nọ, người cha giàu có dẫn con trai đến một vùng quê để thằng bé thấy những người nghèo ở đây sống như thế nào.
Họ tìm đến nông trại của một gia đình nghèo nhất nhì vùng.
"Đây là một cách để dạy con biết qúy trọng những người có
cuộc sống cơ cực hơn mình" – người cha nghĩ đó là bài học thực tế
tốt cho đứa con bé bỏng của mình.
Sau khi ở lại và tìm hiểu đời sống ở đây, họ lại trở về nhà.
Trên đường về, người cha nhìn con trai mỉm cười: "Chuyến đi như thế nào hả con?"
- Thật tuyệt vời bố ạ!
- Con đã thấy người nghèo sống như thế nào rồi đấy!
- Ô, vâng.
- Thế con rút ra được điều gì từ chuyến đi này?
Đứa bé không ngần ngại:
- Con thấy chúng ta có một con chó, họ có bốn.
Nhà mình có một hồ bơi dài đến giữa sân, họ lại có một con sông dài bất tận.
Chúng ta phải treo những chiếc đèn lồng vào vườn,họ lại có những ngôi sao lấp lánh vào đêm.
Mái hiên nhà mình chỉ đến trước sân thì họ có cả chân trời.
Chúng ta có một miếng đất để sinh sống và họ có cả những cánh đồng trải dài.
Chúng ta phải có người phục vụ, còn họ lại phục vụ người khác.
Chúng ta phải mua thực phẩm, còn họ lại trồng ra những thứ ấy.
Chúng ta có những bức tường bảo vệ xung quanh,còn họ có những người bạn láng giềng che chở nhau…
Đến đây người cha không nói gì cả.
Sunday, 23. September 2007, 08:15:10
Ngụ ngôn
Một ngày nọ, người cha giàu có dẫn con trai đến một vùng quê để thằng bé thấy những người nghèo ở đây sống như thế nào.
Họ tìm đến nông trại của một gia đình nghèo nhất nhì vùng.
"Đây là một cách để dạy con biết qúy trọng những người có
cuộc sống cơ cực hơn mình" – người cha nghĩ đó là bài học thực tế
tốt cho đứa con bé bỏng của mình.
Sau khi ở lại và tìm hiểu đời sống ở đây, họ lại trở về nhà.
Trên đường về, người cha nhìn con trai mỉm cười: "Chuyến đi như thế nào hả con?"
- Thật tuyệt vời bố ạ!
- Con đã thấy người nghèo sống như thế nào rồi đấy!
- Ô, vâng.
- Thế con rút ra được điều gì từ chuyến đi này?
Đứa bé không ngần ngại:
- Con thấy chúng ta có một con chó, họ có bốn.
Nhà mình có một hồ bơi dài đến giữa sân, họ lại có một con sông dài bất tận.
Chúng ta phải treo những chiếc đèn lồng vào vườn,họ lại có những ngôi sao lấp lánh vào đêm.
Mái hiên nhà mình chỉ đến trước sân thì họ có cả chân trời.
Chúng ta có một miếng đất để sinh sống và họ có cả những cánh đồng trải dài.
Chúng ta phải có người phục vụ, còn họ lại phục vụ người khác.
Chúng ta phải mua thực phẩm, còn họ lại trồng ra những thứ ấy.
Chúng ta có những bức tường bảo vệ xung quanh,còn họ có những người bạn láng giềng che chở nhau…
Đến đây người cha không nói gì cả.
Quyết định số phận của chính mình !
Chính chúng ta là người quyết định số phận của chính mình !
Friday, 21. September 2007, 04:26:21
Ngụ ngôn
Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The last supper) mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Đức chúa trời và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Chúa bị Judas phản bội.
Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai, và hình ảnh Chúa Jesus được hiện trên bức vẽ.
Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn có Judas, vị môn đồ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc, tương đương 16.96 đô la Mỹ và tương đương 254.400 đồng Việt Nam.
Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình...
Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy rằng chưa đủ để bộ lộ cái ác của Judas. Một hôm, Vinci được thông báo rằng có một kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì giết người và phạm rất nhiều tội ác tày trời khác.
Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mắt ông là một gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xoà xuống mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas!
Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan nơi bức tranh đang được vẽ dở. Mỗi ngày, tên tù im lặng ngồi trước Da Vinci và hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công viêc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.
Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo lính gác "Các ngươi đem hắn đi đi...". Lính canh túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quì xuống bên chân Da Vanci, khóc nấc lên: "Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?"
Da Vinci quan sát kẻ mà suốt sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp: "Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma...". Tên tử tù kêu lên "Ngài Vinci... Hãy nhìn kỹ lại tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ông đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Trời..."
Câu chuyện này có thật, như bức tranh "Bữa ăn chiều cuối cùng" là có thật. Chàng trai đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Trời chỉ sau hơn hai ngàn ngày, đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử.
Tương lai không hề được định trước. Chính chúng ta là người quyết định số phận của chính mình.
Friday, 21. September 2007, 04:26:21
Ngụ ngôn
Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The last supper) mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Đức chúa trời và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Chúa bị Judas phản bội.
Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai, và hình ảnh Chúa Jesus được hiện trên bức vẽ.
Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn có Judas, vị môn đồ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc, tương đương 16.96 đô la Mỹ và tương đương 254.400 đồng Việt Nam.
Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình...
Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy rằng chưa đủ để bộ lộ cái ác của Judas. Một hôm, Vinci được thông báo rằng có một kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì giết người và phạm rất nhiều tội ác tày trời khác.
Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mắt ông là một gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xoà xuống mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas!
Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan nơi bức tranh đang được vẽ dở. Mỗi ngày, tên tù im lặng ngồi trước Da Vinci và hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công viêc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.
Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo lính gác "Các ngươi đem hắn đi đi...". Lính canh túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quì xuống bên chân Da Vanci, khóc nấc lên: "Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?"
Da Vinci quan sát kẻ mà suốt sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp: "Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma...". Tên tử tù kêu lên "Ngài Vinci... Hãy nhìn kỹ lại tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ông đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Trời..."
Câu chuyện này có thật, như bức tranh "Bữa ăn chiều cuối cùng" là có thật. Chàng trai đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Trời chỉ sau hơn hai ngàn ngày, đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử.
Tương lai không hề được định trước. Chính chúng ta là người quyết định số phận của chính mình.
Câu chuyện con cá - Thói quen mới !
Câu chuyện con cá - Thói quen mới !
Tuesday, 18. September 2007, 09:58:55
Ngụ ngôn
Một người thích chơi các loài cá cảnh. Lần nọ, anh đi nghỉ ở biển và tìm mua được một con cá ngũ sắc tuyệt đẹp. Anh mang cá về nhà và chăm sóc nó rất công phu. Vốn là một người chuyên nuôi dạy các loài vật nên anh lên một chương trình tập luyện cho con cá của mình. Tuần lễ đầu tiên anh nuôi cá trong hồ chứa toàn nước biển. Tuần tiếp theo anh thêm một ít nước ngọt. Cứ như thế, vài tháng sau con cá đã sống thoải mái trong hồ nước ngọt và vui mừng với những thức ăn nước ngọt. Con cá lớn dần.
Giai đoạn hai của công việc "huấn luyện" còn kỳ công hơn nữa. Anh trộn một phần bùn vào nước và tăng dần lượng bùn theo thời gian. Lâu dần, con cá chỉ còn di chuyển trong một hồ chứa bùn sền sệt. Một năm sau, bùn được thay hẳn bằng đất và con cá nằm trên hồ đất đớp mồi như một con chuột nhỏ. Anh chủ cá chưa hài lòng với điều đó. Anh xỏ dây vào mang cá và tập cho nó đi trên mặt đất. Mấy tháng sau nữa, đi đâu anh cũng dắt con cá theo mình. Khi con cá đã quen dần, anh cắt dây. Con cá lách tách nhảy theo chủ như một con chó nhỏ trung thành.
Một hôm, con cá theo chủ đi thăm viếng bạn bè của anh ta. Khi trở về nhà trời đổ mưa to. Con cá ráng sức chạy lạch đạch phía sau chủ mình... Lúc tìm được một chỗ trú mưa, người chủ sực nhớ đến con cá của mình nhưng không thấy nó đâu nữa. Anh ta quay lại quãng đường ban nãy để tìm con cá. Anh thấy nó nằm chết trong một ổ gà trên đường đọng nước mưa tràn trề. Nó chết đuối vì không biết bơi!
Cũng chỉ vì những thói quen mới...
Tuesday, 18. September 2007, 09:58:55
Ngụ ngôn
Một người thích chơi các loài cá cảnh. Lần nọ, anh đi nghỉ ở biển và tìm mua được một con cá ngũ sắc tuyệt đẹp. Anh mang cá về nhà và chăm sóc nó rất công phu. Vốn là một người chuyên nuôi dạy các loài vật nên anh lên một chương trình tập luyện cho con cá của mình. Tuần lễ đầu tiên anh nuôi cá trong hồ chứa toàn nước biển. Tuần tiếp theo anh thêm một ít nước ngọt. Cứ như thế, vài tháng sau con cá đã sống thoải mái trong hồ nước ngọt và vui mừng với những thức ăn nước ngọt. Con cá lớn dần.
Giai đoạn hai của công việc "huấn luyện" còn kỳ công hơn nữa. Anh trộn một phần bùn vào nước và tăng dần lượng bùn theo thời gian. Lâu dần, con cá chỉ còn di chuyển trong một hồ chứa bùn sền sệt. Một năm sau, bùn được thay hẳn bằng đất và con cá nằm trên hồ đất đớp mồi như một con chuột nhỏ. Anh chủ cá chưa hài lòng với điều đó. Anh xỏ dây vào mang cá và tập cho nó đi trên mặt đất. Mấy tháng sau nữa, đi đâu anh cũng dắt con cá theo mình. Khi con cá đã quen dần, anh cắt dây. Con cá lách tách nhảy theo chủ như một con chó nhỏ trung thành.
Một hôm, con cá theo chủ đi thăm viếng bạn bè của anh ta. Khi trở về nhà trời đổ mưa to. Con cá ráng sức chạy lạch đạch phía sau chủ mình... Lúc tìm được một chỗ trú mưa, người chủ sực nhớ đến con cá của mình nhưng không thấy nó đâu nữa. Anh ta quay lại quãng đường ban nãy để tìm con cá. Anh thấy nó nằm chết trong một ổ gà trên đường đọng nước mưa tràn trề. Nó chết đuối vì không biết bơi!
Cũng chỉ vì những thói quen mới...
Đại bàng và Gà !
Đại bàng và Gà !
Thursday, 27. September 2007, 10:00:34
Ngụ ngôn
Ngày xưa, có một ngọn núi lớn, bên sườn núi có một tổ chim đại bàng. Trong tổ có bốn quả trứng lớn. Một trận động đất xảy ra làm rung chuyển ngọn núi, một quả trứng đại bàng lăn xuống và rơi vào một trại gà dưới chân núi. Một con gà mái tình nguyện ấp quả trứng lớn ấy.
Một ngày kia, trứng nở ra một chú đại bàng con xinh đẹp, nhưng buồn thay chú chim nhỏ được nuôi lớn như một con gà. Chẳng bao lâu sau, đại bàng cũng tin nó chỉ là một con gà không hơn không kém. Đại bàng yêu gia đình và ngôi nhà đang sống, nhưng tâm hồn nó vẫn khao khát một điều gì đó cao xa hơn. Cho đến một ngày, trong khi đang chơi đùa trong sân, đại bàng nhìn lên trời và thấy những chú chim đại bàng đang sải cánh bay cao giữa bầu trời.
"Ồ - đại bàng kêu lên - Ước gì tôi có thể bay như những con chim đó".
Bầy gà cười ầm lên: "Anh không thể bay với những con chim đó được. Anh là một con gà và gà không biết bay cao".
Đại bàng tiếp tục ngước nhìn gia đình thật sự của nó, mơ ước có thể bay cao cùng họ. Mỗi lần đại bàng nói ra mơ ước của mình, bầy gà lại bảo nó điều không thể xảy ra. Đó là điều đại bàng cuối cùng đã tin là thật. Rồi đại bàng không mơ ước nữa và tiếp tục sống như một con gà. Cuối cùng, sau một thời gian dài sống làm gà, đại bàng chết.
Trong cuộc sống cũng vậy: Nếu bạn tin rằng bạn là một người tầm thường, bạn sẽ sống một cuộc sống tầm thường vô vị, đúng như những gì mình đã tin. Vậy thì, nếu bạn đã từng mơ ước trở thành đại bàng, bạn hãy đeo đuổi ước mơ đó... và đừng sống như một con gà!
Hãy tung bay như những con đại bàng !
Thursday, 27. September 2007, 10:00:34
Ngụ ngôn
Ngày xưa, có một ngọn núi lớn, bên sườn núi có một tổ chim đại bàng. Trong tổ có bốn quả trứng lớn. Một trận động đất xảy ra làm rung chuyển ngọn núi, một quả trứng đại bàng lăn xuống và rơi vào một trại gà dưới chân núi. Một con gà mái tình nguyện ấp quả trứng lớn ấy.
Một ngày kia, trứng nở ra một chú đại bàng con xinh đẹp, nhưng buồn thay chú chim nhỏ được nuôi lớn như một con gà. Chẳng bao lâu sau, đại bàng cũng tin nó chỉ là một con gà không hơn không kém. Đại bàng yêu gia đình và ngôi nhà đang sống, nhưng tâm hồn nó vẫn khao khát một điều gì đó cao xa hơn. Cho đến một ngày, trong khi đang chơi đùa trong sân, đại bàng nhìn lên trời và thấy những chú chim đại bàng đang sải cánh bay cao giữa bầu trời.
"Ồ - đại bàng kêu lên - Ước gì tôi có thể bay như những con chim đó".
Bầy gà cười ầm lên: "Anh không thể bay với những con chim đó được. Anh là một con gà và gà không biết bay cao".
Đại bàng tiếp tục ngước nhìn gia đình thật sự của nó, mơ ước có thể bay cao cùng họ. Mỗi lần đại bàng nói ra mơ ước của mình, bầy gà lại bảo nó điều không thể xảy ra. Đó là điều đại bàng cuối cùng đã tin là thật. Rồi đại bàng không mơ ước nữa và tiếp tục sống như một con gà. Cuối cùng, sau một thời gian dài sống làm gà, đại bàng chết.
Trong cuộc sống cũng vậy: Nếu bạn tin rằng bạn là một người tầm thường, bạn sẽ sống một cuộc sống tầm thường vô vị, đúng như những gì mình đã tin. Vậy thì, nếu bạn đã từng mơ ước trở thành đại bàng, bạn hãy đeo đuổi ước mơ đó... và đừng sống như một con gà!
Hãy tung bay như những con đại bàng !
Khi không nhìn thấy đích
Khi không nhìn thấy đích
Friday, 28. September 2007, 03:19:39
Đó là một buổi sáng sương mù phủ kín, ngày 4 tháng 7 năm 1952 khi Florence Chadwick bước xuống nước bơi vượt eo biển từ đảo Catalina đến bờ biển California. Bơi đường trường không phải là một điều mới lạ đối với Florence, bởi cô từng vượt biển Manche (giữa nước Anh và Pháp) ở cả hai chiều.
Hãy vượt qua chính mình !
Buổi sáng hôm đó nước lạnh cóng, còn sương mù thì dày đến nỗi cô khó có thể nhìn thấy chiếc thuyền trong đoàn. Sau khi đã bơi hơn 15 tiếng đồng hồ, cô yêu cầu mọi người kéo cô lên thuyền. Huấn luyện viên của Florence ráng hết sức để động viên cô bởi họ đã rất gần bờ, nhưng cô chỉ nhìn thấy sương mù và sương mù. Vì thế cô bỏ cuộc... khi cách đích không tới nửa dặm.
Sau đó cô tâm sự: "Không phải tôi biện hộ cho mình, nhưng nếu tôi nhìn thấy bờ, tôi đã có thể bơi đến đích". Không phải cái lạnh hay sự sợ hãi, hay sự kiệt sức đã khiến cho Florence Chadwick thất bại, mà chính là sương mù.
Hai tháng sau cũng chính tại eo biển đó, cũng là khoảng cách đó, Florence Chadwick đã lập một kỷ lục mới, bởi vì giờ đây cô có thể nhìn thấy đất liền.
Chiến thắng !
Nhiều lúc chúng ta cũng thất bại, không phải vì chúng ta sợ hay bởi áp lực của những người xung quanh hay tại bất cứ điều gì, mà chỉ vì chúng ta không nhìn thấy đích của mình...
Friday, 28. September 2007, 03:19:39
Đó là một buổi sáng sương mù phủ kín, ngày 4 tháng 7 năm 1952 khi Florence Chadwick bước xuống nước bơi vượt eo biển từ đảo Catalina đến bờ biển California. Bơi đường trường không phải là một điều mới lạ đối với Florence, bởi cô từng vượt biển Manche (giữa nước Anh và Pháp) ở cả hai chiều.
Hãy vượt qua chính mình !
Buổi sáng hôm đó nước lạnh cóng, còn sương mù thì dày đến nỗi cô khó có thể nhìn thấy chiếc thuyền trong đoàn. Sau khi đã bơi hơn 15 tiếng đồng hồ, cô yêu cầu mọi người kéo cô lên thuyền. Huấn luyện viên của Florence ráng hết sức để động viên cô bởi họ đã rất gần bờ, nhưng cô chỉ nhìn thấy sương mù và sương mù. Vì thế cô bỏ cuộc... khi cách đích không tới nửa dặm.
Sau đó cô tâm sự: "Không phải tôi biện hộ cho mình, nhưng nếu tôi nhìn thấy bờ, tôi đã có thể bơi đến đích". Không phải cái lạnh hay sự sợ hãi, hay sự kiệt sức đã khiến cho Florence Chadwick thất bại, mà chính là sương mù.
Hai tháng sau cũng chính tại eo biển đó, cũng là khoảng cách đó, Florence Chadwick đã lập một kỷ lục mới, bởi vì giờ đây cô có thể nhìn thấy đất liền.
Chiến thắng !
Nhiều lúc chúng ta cũng thất bại, không phải vì chúng ta sợ hay bởi áp lực của những người xung quanh hay tại bất cứ điều gì, mà chỉ vì chúng ta không nhìn thấy đích của mình...
Hoa hồng tặng mẹ
Hoa hồng tặng mẹ
Saturday, 29. September 2007, 04:10:11
Nhân ngày 8 tháng 3, anh đến đăng ký dịch vụ điện hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khá xa. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.
- Cháu muốn mua một bông hoa hồng để tặng mẹ cháu - nó nức nở - nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá một bông hồng đến 2 đô la.
Anh mỉm cười và nói với nó:
- Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.
Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó ngập ngừng nhìn anh trả lời:
- Dạ chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.
Rồi nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:
- Đây là nhà của mẹ cháu. Nói xong, nó ân cần đặt bông hoa hồng lên mộ.
Chứng kiến cảnh tượng cảm động đó, lập tức anh quay lại tiệm bán hoa, hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa đăng ký và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm ấy, anh đã phóng xe một mạch về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa đó.
Saturday, 29. September 2007, 04:10:11
Nhân ngày 8 tháng 3, anh đến đăng ký dịch vụ điện hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khá xa. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.
- Cháu muốn mua một bông hoa hồng để tặng mẹ cháu - nó nức nở - nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá một bông hồng đến 2 đô la.
Anh mỉm cười và nói với nó:
- Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.
Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó ngập ngừng nhìn anh trả lời:
- Dạ chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.
Rồi nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:
- Đây là nhà của mẹ cháu. Nói xong, nó ân cần đặt bông hoa hồng lên mộ.
Chứng kiến cảnh tượng cảm động đó, lập tức anh quay lại tiệm bán hoa, hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa đăng ký và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm ấy, anh đã phóng xe một mạch về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa đó.
Wednesday, July 7, 2010
Đảng CS TQ tăng thành viên
Đảng CS TQ tăng thành viên
Các nhân vật lãnh đạo Đảng và chính quyền Trung Quốc
Đảng Cộng sản Trung Quốc, đảng chính trị lớn nhất thế giới, tiếp tục có số đảng viên tăng thêm hai triệu trong năm qua, lên 78 triệu.
Báo chí nước ngoài, nhất là ở Phương Tây và Úc cho rằng "thẻ Đảng ở Trung Quốc là tấm vé gia nhập hàng ngũ cầm quyền".
Nhưng báo chí Trung Quốc lại ca ngợi đây vào Đảng là cơ hội để đóng góp cho đất nước.
Tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản trích lời quan chức cao cấp nói rằng "Ứng viên cần được các đảng viên giới thiệu và người phụ trách cơ quan chứng nhận họ có lòng trung thành cao với Đảng và "hành vi ứng xử tốt".
Người cảm tình Đảng cũng phải nộp bài viết ủng hộ sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc.
Đảng cầm quyền cũng tự khen mình rằng hàng chục triệu đảng viên đóng góp lớn cho các sự kiện như Thế vận hội Bắc Kinh 2008, và cứu trợ nạn nhân động đất Tứ Xuyên cùng việc tổ chức quốc khánh 60 năm nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Theo báo chí Trung Quốc, năm 2009 số đảng viên cộng sản ở nước này tăng thêm hai triệu người, gần bằng ba phần trăm.
Vào đảng làm gì?
Báo chí nước ngoài, chẳng hạn như tờ Sydney Herald Tribune nhận định rằng ý thức hệ không phải là mục tiêu đầu tiên thu hút đảng viên ở Trung Quốc:
Bộ máy Đảng kiểu Leninist của Trung Quốc bí mật, tham nhũng, thù địch với chế độ pháp quyền
Richard McGregor
"Hơn cả ý thức hệ, thẻ thành viên của đảng Cộng sản cầm quyền mở lối vào các cơ hội quan hệ với cả một mạng lưới của giai cấp quyền lực rộng khắp, và cả lợi lộc về y tế, chế độ hưu bổng và cơ hội thăng tiến cao hơn."
Hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc được các chuyên gia nước ngoài mô tả là "bí mật", và "loại trừ" dân chúng ra bên ngoài.
Nhưng mô hình Leninist có từ thời Mao Trạch Đông này đang ngày càng được sử dụng vào mục tiêu kiếm lợi.
Richard McGregor, cựu phóng viên của báo Financial Times tại Bắc Kinh cho rằng bộ máy của Trung Quốc "bí mật, tham nhũng, thù địch với chế độ pháp quyền".
Đảng Cộng sản Trung Quốc mở trang web để dân tố cáo tham nhũng
Trong cuốn sách mới ra "The Party-The Secret World of China's Communist Rulers", ông viết đường dây điện thoại đỏ nối các cấp từ thứ trưởng trở lên với trung ương Đảng nay thường được dùng để giải quyết việc riêng cho vợ con quan chức, và để xử lý các vụ làm ăn.
Tuy vậy, về bề ngoài, đảng cầm quyền vẫn tỏ ra họ đang chọn lọc khắt khe để nhận những người ưu tú.
Quan chức Đảng được trích lời nói trong số 20 triệu người xin vào Đảng, chỉ có 10 phần trăm được chấp nhận.
Báo chí nước ngoài không quên nhắc rằng với con số gần 80 triệu, số đảng viên tại Trung Quốc đông gần bằng dân số Đức.
Quan chức Đảng được trích lời nói trong gần 78 triệu đảng viên, có 18,5 triệu ở tuổi dưới 35, và gần 28 triệu có bằng đại học hoặc trên đại học.
Cũng vẫn nguồn tin này cho hay, trong số 2 triệu 770 nghìn doanh nghiệp Trung Quốc, có hơn 640 nghìn, gồm cả 438 nghìn doanh nghiệp ngoài nhà nước, đã lập ra chi bộ đảng của họ.
Việc Trung Quốc chấp nhận để doanh nhân vào Đảng theo thuyết "Ba đại diện' cũng từng gây tranh cãi.
Để đối phó với các cáo buộc tham nhũng trong bộ máy, Đảng Cộng sản Trung Quốc công bố một trang web để dân chúng "nêu tên quan chức tham nhũng".
Trong tháng 2/2010, Đảng cũng công bố ra quy tắc đạo đức gồm 52 điểm nhằm kiểm soát tham nhũng trong giới quan chức.
Quy tắc này ngăn đảng viên không được "đầu cơ địa ốc, kiếm tiền qua các cuộc làm ăn tay trong, và chi tiêu xa hoa".
Các nhân vật lãnh đạo Đảng và chính quyền Trung Quốc
Đảng Cộng sản Trung Quốc, đảng chính trị lớn nhất thế giới, tiếp tục có số đảng viên tăng thêm hai triệu trong năm qua, lên 78 triệu.
Báo chí nước ngoài, nhất là ở Phương Tây và Úc cho rằng "thẻ Đảng ở Trung Quốc là tấm vé gia nhập hàng ngũ cầm quyền".
Nhưng báo chí Trung Quốc lại ca ngợi đây vào Đảng là cơ hội để đóng góp cho đất nước.
Tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản trích lời quan chức cao cấp nói rằng "Ứng viên cần được các đảng viên giới thiệu và người phụ trách cơ quan chứng nhận họ có lòng trung thành cao với Đảng và "hành vi ứng xử tốt".
Người cảm tình Đảng cũng phải nộp bài viết ủng hộ sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc.
Đảng cầm quyền cũng tự khen mình rằng hàng chục triệu đảng viên đóng góp lớn cho các sự kiện như Thế vận hội Bắc Kinh 2008, và cứu trợ nạn nhân động đất Tứ Xuyên cùng việc tổ chức quốc khánh 60 năm nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Theo báo chí Trung Quốc, năm 2009 số đảng viên cộng sản ở nước này tăng thêm hai triệu người, gần bằng ba phần trăm.
Vào đảng làm gì?
Báo chí nước ngoài, chẳng hạn như tờ Sydney Herald Tribune nhận định rằng ý thức hệ không phải là mục tiêu đầu tiên thu hút đảng viên ở Trung Quốc:
Bộ máy Đảng kiểu Leninist của Trung Quốc bí mật, tham nhũng, thù địch với chế độ pháp quyền
Richard McGregor
"Hơn cả ý thức hệ, thẻ thành viên của đảng Cộng sản cầm quyền mở lối vào các cơ hội quan hệ với cả một mạng lưới của giai cấp quyền lực rộng khắp, và cả lợi lộc về y tế, chế độ hưu bổng và cơ hội thăng tiến cao hơn."
Hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc được các chuyên gia nước ngoài mô tả là "bí mật", và "loại trừ" dân chúng ra bên ngoài.
Nhưng mô hình Leninist có từ thời Mao Trạch Đông này đang ngày càng được sử dụng vào mục tiêu kiếm lợi.
Richard McGregor, cựu phóng viên của báo Financial Times tại Bắc Kinh cho rằng bộ máy của Trung Quốc "bí mật, tham nhũng, thù địch với chế độ pháp quyền".
Đảng Cộng sản Trung Quốc mở trang web để dân tố cáo tham nhũng
Trong cuốn sách mới ra "The Party-The Secret World of China's Communist Rulers", ông viết đường dây điện thoại đỏ nối các cấp từ thứ trưởng trở lên với trung ương Đảng nay thường được dùng để giải quyết việc riêng cho vợ con quan chức, và để xử lý các vụ làm ăn.
Tuy vậy, về bề ngoài, đảng cầm quyền vẫn tỏ ra họ đang chọn lọc khắt khe để nhận những người ưu tú.
Quan chức Đảng được trích lời nói trong số 20 triệu người xin vào Đảng, chỉ có 10 phần trăm được chấp nhận.
Báo chí nước ngoài không quên nhắc rằng với con số gần 80 triệu, số đảng viên tại Trung Quốc đông gần bằng dân số Đức.
Quan chức Đảng được trích lời nói trong gần 78 triệu đảng viên, có 18,5 triệu ở tuổi dưới 35, và gần 28 triệu có bằng đại học hoặc trên đại học.
Cũng vẫn nguồn tin này cho hay, trong số 2 triệu 770 nghìn doanh nghiệp Trung Quốc, có hơn 640 nghìn, gồm cả 438 nghìn doanh nghiệp ngoài nhà nước, đã lập ra chi bộ đảng của họ.
Việc Trung Quốc chấp nhận để doanh nhân vào Đảng theo thuyết "Ba đại diện' cũng từng gây tranh cãi.
Để đối phó với các cáo buộc tham nhũng trong bộ máy, Đảng Cộng sản Trung Quốc công bố một trang web để dân chúng "nêu tên quan chức tham nhũng".
Trong tháng 2/2010, Đảng cũng công bố ra quy tắc đạo đức gồm 52 điểm nhằm kiểm soát tham nhũng trong giới quan chức.
Quy tắc này ngăn đảng viên không được "đầu cơ địa ốc, kiếm tiền qua các cuộc làm ăn tay trong, và chi tiêu xa hoa".
Thái độ chính trị
07/07/2010
Thái độ chính trị
Blogger Mẹ Nấm
Hai ngày sau khi CNN phát sóng phóng sự Vietnam Internet Crackdown, một người quen sơ gặp tôi tại siêu thị và nói với tôi một cách rất bí mật:
- Anh vừa thấy em trả lời phỏng vấn trên CNN. Sao em gan quá vậy? Em nói như vậy mà không sợ an ninh sẽ làm khó dễ sao?
Tôi hỏi lại : - Em nói cái gì sai mà phải sợ khó dễ hả anh?
- Ờ thì em không nói sai, nhưng mà em phải biết là Việt Nam có hẳn nguyên một bộ phận ngồi chắt lọc thông tin trên thế giới đưa ra, em nói vậy là em chết rồi.
Tôi không biết nói gì ngoài câu: Dạ, cám ơn anh, em biết rồi.
- Mà em nói như vậy để làm gì, có được lợi ích gì đâu?
Đến câu này thì tôi nghẹn, thật sự nghẹn vì không biết phải chọn câu trả lời nào cho thích hợp, bởi theo những gì tôi biết thì người nói chuyện với tôi có bằng MBA ở Mỹ, có gia sản, có sự nghiệp. Có lẽ khi có những thứ đó thì người ta không cần tự do?
Nếu tôi được lựa chọn... liệu tôi sẽ như thế nào? Câu hỏi này lẩn quẩn trong đầu tôi nhiều ngày nay.
Bạn bè xung quanh tôi ai cũng nói, "mày quan tâm đến những thứ đó làm gì? Tập trung vào chuyên môn đi".
Ừ thì cũng đã từng rồi đó, cũng có việc làm ổn định, cũng kiếm được tiền như mọi người, cũng ăn chơi sa đà, đàn đúm, cũng la cà và la đà không thua kém ai, và rồi thấy ngứa mắt, ngứa miệng thì lên tiếng, dù chuyện đó xét cho cùng không ảnh hưởng gì đến mình, nhưng cứ thấy ức ức không chịu được, và rồi thấy mình bất lực khi không thể hòa mình vào dòng chảy của cơ chế.
Bạn nói, mình có quá nhiều tham vọng khi tham gia viết bài trên blog (ý của bạn chắc là tham vọng chính trị nhưng bạn không nói ra).
Mình lại nghĩ, đó là trách nhiệm, với chính bản thân mình, và với tương lai của con mình.
Không thể nào tách rời mối liên kết của chính trị và xã hội, bởi tất cả mọi chính sách tác động ảnh hưởng đến đời sống xã hội đều do đường lối chính trị mà ra.
Bạn thử nghĩ đi, những ngày vừa qua, cả nước điêu đứng vì cúp điện liên tục, người người khổ sở, nhà nhà mệt mỏi, doanh nghiệp than trời vì không thể sản xuất... xã hội rối loạn. Quyền lợi của mình không được bảo đảm, tụi mình biết kêu ai?
Bạn chắc hẳn sẽ nói, "sao cái gì mày cũng lôi chính trị vô hết vậy?", khi tôi đưa ví dụ này ra. Nhưng bạn thử nghĩ đi, cơ chế độc quyền, phân phát theo kiểu mậu dịch quốc doanh có phải bắt nguồn từ thể chế chính trị mà nước ta đang theo đuổi không?
Bạn và tôi có sự lựa chọn nào khác ngoài những thứ người ta trao cho mình không?
Hãy thử nghĩ đi, nếu bạn có sự lựa chọn khác liệu bạn có chấp nhận như chúng ta đang bị ép buộc phải chấp nhận không?
Thể chế chính trị nơi mà ta đang sống, buộc cả xã hội phát triển theo định hướng của nó, vậy làm sao có thể tách rời hai khái niệm xã hội và chính trị ra riêng biệt?
Một đất nước chỉ thực sự tiến bộ khi mà mọi công dân luôn vận động cùng xã hội, quan tâm đến xã hội, quan tâm đến sự phát triển của quốc gia. Vậy quan tâm và có thái độ chính trị đúng đắn đối với đất nước mình đang sống thì có gì là sai?
Chính trị - hai từ này thường khiến người ta liên tưởng đến sự khô khan, cứng nhắc, cùng những âm mưu và tham vọng hơn là trách nhiệm và lương tâm.
Ở Việt Nam, nhiều người né tránh khi bàn đến chủ đề này vì muốn yên thân, và để khỏi phải bị "vạ lây".
Những người tham gia đòi quyền tự do, bình đẳng, những người đấu tranh vì công bằng và lẽ phải trong xã hội ở đất nước mình đang sống không ít thì nhiều đều bị gán ghép vì "động cơ chính trị", và kết quả là nhiều người đón nhận sự hy sinh đầy ý nghĩa của họ với ánh nhìn ngờ vực và thương hại.
Không nói đến những điều cao siêu, chỉ bày tỏ lòng tự hào dân tộc, khẳng định chủ quyền đất nước, kêu gọi giữ lấy màu xanh cho môi trường và an ninh cho quốc gia, bày tỏ sự phẫn nộ trước sự bành trướng xâm lược của Bắc Kinh, cũng bị xem là dại dột và ngông cuồng, là lợi dụng quyền tự do (vốn dĩ không có).
Buồn không? Đau không?
Hạnh phúc - không đơn giản chỉ là cơm no và áo mặc, nó còn là sự tự do trong suy nghĩ, tự do được bày tỏ cảm xúc yêu - ghét, nóng - lạnh của mỗi con người. Sự nồng nhiệt hay ơ hờ trong lòng mỗi người dân đều phải được Chính phủ xem xét, bởi khi người dân quay lưng với chính đất nước mình thì thực sự quốc gia đó đã bị diệt vong.
Bạn tôi nói: "Tao không hy vọng gì ở đất nước mình".
Một bạn khác lại hẹn: "Tao sẽ về khi Việt Nam thay đổi".
Hãy thử nghĩ đi, khi chúng ta không hy vọng gì nữa, không muốn quay về nữa, thì hai tiếng Việt Nam có phải đã bị nhạt nhòa ngay từ trong tâm thức rồi không?
Sẽ chẳng có gì thay đổi, khi chính bản thân chúng ta không có thái độ và trách nhiệm thật rõ ràng với xã hội mà mình đang sống, với nơi mình đã sinh ra.
Một hòn đá to cản đường không thể tự biến mất khi chúng ta ngồi không niệm thần chú, cũng như sự thay đổi, nó không xuất hiện từ những lời cầu nguyện, bạn hiểu không?
Bởi vậy, đừng bao giờ đặt ra câu hỏi "nói để làm gì?", mà hãy tự vấn lương tâm mình "nếu chúng ta không nói, thì mọi chuyện rồi vẫn y như cũ sao?". Những người đi trước, nếu họ cũng cân nhắc thiệt hơn, cũng đặt câu hỏi "được gì?" "để làm gì?", thì có lẽ, họ đã chọn sự im lặng và thỏa hiệp.
Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi, và chắc chắn là chúng ta không hề cô đơn khi chọn cho mình một thái độ rõ ràng.
Tôi tin vào điều đó, bạn ơi!
MN
Nguồn: Menam Blog
Thái độ chính trị
Blogger Mẹ Nấm
Hai ngày sau khi CNN phát sóng phóng sự Vietnam Internet Crackdown, một người quen sơ gặp tôi tại siêu thị và nói với tôi một cách rất bí mật:
- Anh vừa thấy em trả lời phỏng vấn trên CNN. Sao em gan quá vậy? Em nói như vậy mà không sợ an ninh sẽ làm khó dễ sao?
Tôi hỏi lại : - Em nói cái gì sai mà phải sợ khó dễ hả anh?
- Ờ thì em không nói sai, nhưng mà em phải biết là Việt Nam có hẳn nguyên một bộ phận ngồi chắt lọc thông tin trên thế giới đưa ra, em nói vậy là em chết rồi.
Tôi không biết nói gì ngoài câu: Dạ, cám ơn anh, em biết rồi.
- Mà em nói như vậy để làm gì, có được lợi ích gì đâu?
Đến câu này thì tôi nghẹn, thật sự nghẹn vì không biết phải chọn câu trả lời nào cho thích hợp, bởi theo những gì tôi biết thì người nói chuyện với tôi có bằng MBA ở Mỹ, có gia sản, có sự nghiệp. Có lẽ khi có những thứ đó thì người ta không cần tự do?
Nếu tôi được lựa chọn... liệu tôi sẽ như thế nào? Câu hỏi này lẩn quẩn trong đầu tôi nhiều ngày nay.
Bạn bè xung quanh tôi ai cũng nói, "mày quan tâm đến những thứ đó làm gì? Tập trung vào chuyên môn đi".
Ừ thì cũng đã từng rồi đó, cũng có việc làm ổn định, cũng kiếm được tiền như mọi người, cũng ăn chơi sa đà, đàn đúm, cũng la cà và la đà không thua kém ai, và rồi thấy ngứa mắt, ngứa miệng thì lên tiếng, dù chuyện đó xét cho cùng không ảnh hưởng gì đến mình, nhưng cứ thấy ức ức không chịu được, và rồi thấy mình bất lực khi không thể hòa mình vào dòng chảy của cơ chế.
Bạn nói, mình có quá nhiều tham vọng khi tham gia viết bài trên blog (ý của bạn chắc là tham vọng chính trị nhưng bạn không nói ra).
Mình lại nghĩ, đó là trách nhiệm, với chính bản thân mình, và với tương lai của con mình.
Không thể nào tách rời mối liên kết của chính trị và xã hội, bởi tất cả mọi chính sách tác động ảnh hưởng đến đời sống xã hội đều do đường lối chính trị mà ra.
Bạn thử nghĩ đi, những ngày vừa qua, cả nước điêu đứng vì cúp điện liên tục, người người khổ sở, nhà nhà mệt mỏi, doanh nghiệp than trời vì không thể sản xuất... xã hội rối loạn. Quyền lợi của mình không được bảo đảm, tụi mình biết kêu ai?
Bạn chắc hẳn sẽ nói, "sao cái gì mày cũng lôi chính trị vô hết vậy?", khi tôi đưa ví dụ này ra. Nhưng bạn thử nghĩ đi, cơ chế độc quyền, phân phát theo kiểu mậu dịch quốc doanh có phải bắt nguồn từ thể chế chính trị mà nước ta đang theo đuổi không?
Bạn và tôi có sự lựa chọn nào khác ngoài những thứ người ta trao cho mình không?
Hãy thử nghĩ đi, nếu bạn có sự lựa chọn khác liệu bạn có chấp nhận như chúng ta đang bị ép buộc phải chấp nhận không?
Thể chế chính trị nơi mà ta đang sống, buộc cả xã hội phát triển theo định hướng của nó, vậy làm sao có thể tách rời hai khái niệm xã hội và chính trị ra riêng biệt?
Một đất nước chỉ thực sự tiến bộ khi mà mọi công dân luôn vận động cùng xã hội, quan tâm đến xã hội, quan tâm đến sự phát triển của quốc gia. Vậy quan tâm và có thái độ chính trị đúng đắn đối với đất nước mình đang sống thì có gì là sai?
Chính trị - hai từ này thường khiến người ta liên tưởng đến sự khô khan, cứng nhắc, cùng những âm mưu và tham vọng hơn là trách nhiệm và lương tâm.
Ở Việt Nam, nhiều người né tránh khi bàn đến chủ đề này vì muốn yên thân, và để khỏi phải bị "vạ lây".
Những người tham gia đòi quyền tự do, bình đẳng, những người đấu tranh vì công bằng và lẽ phải trong xã hội ở đất nước mình đang sống không ít thì nhiều đều bị gán ghép vì "động cơ chính trị", và kết quả là nhiều người đón nhận sự hy sinh đầy ý nghĩa của họ với ánh nhìn ngờ vực và thương hại.
Không nói đến những điều cao siêu, chỉ bày tỏ lòng tự hào dân tộc, khẳng định chủ quyền đất nước, kêu gọi giữ lấy màu xanh cho môi trường và an ninh cho quốc gia, bày tỏ sự phẫn nộ trước sự bành trướng xâm lược của Bắc Kinh, cũng bị xem là dại dột và ngông cuồng, là lợi dụng quyền tự do (vốn dĩ không có).
Buồn không? Đau không?
Hạnh phúc - không đơn giản chỉ là cơm no và áo mặc, nó còn là sự tự do trong suy nghĩ, tự do được bày tỏ cảm xúc yêu - ghét, nóng - lạnh của mỗi con người. Sự nồng nhiệt hay ơ hờ trong lòng mỗi người dân đều phải được Chính phủ xem xét, bởi khi người dân quay lưng với chính đất nước mình thì thực sự quốc gia đó đã bị diệt vong.
Bạn tôi nói: "Tao không hy vọng gì ở đất nước mình".
Một bạn khác lại hẹn: "Tao sẽ về khi Việt Nam thay đổi".
Hãy thử nghĩ đi, khi chúng ta không hy vọng gì nữa, không muốn quay về nữa, thì hai tiếng Việt Nam có phải đã bị nhạt nhòa ngay từ trong tâm thức rồi không?
Sẽ chẳng có gì thay đổi, khi chính bản thân chúng ta không có thái độ và trách nhiệm thật rõ ràng với xã hội mà mình đang sống, với nơi mình đã sinh ra.
Một hòn đá to cản đường không thể tự biến mất khi chúng ta ngồi không niệm thần chú, cũng như sự thay đổi, nó không xuất hiện từ những lời cầu nguyện, bạn hiểu không?
Bởi vậy, đừng bao giờ đặt ra câu hỏi "nói để làm gì?", mà hãy tự vấn lương tâm mình "nếu chúng ta không nói, thì mọi chuyện rồi vẫn y như cũ sao?". Những người đi trước, nếu họ cũng cân nhắc thiệt hơn, cũng đặt câu hỏi "được gì?" "để làm gì?", thì có lẽ, họ đã chọn sự im lặng và thỏa hiệp.
Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi, và chắc chắn là chúng ta không hề cô đơn khi chọn cho mình một thái độ rõ ràng.
Tôi tin vào điều đó, bạn ơi!
MN
Nguồn: Menam Blog
Subscribe to:
Posts (Atom)